Mục tiêu:Đánh giá tỉ lệ suy dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể (BMI) và albumin huyết thanh ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Mối liên quan giữa albumin huyết thanh với một số đặc điểm ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang.
Trang 1NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA ALBUMIN HUYẾT THANH VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 120
Phạm Thị Ánh Tuyết*, Nguyễn Văn Hoàng, Đỗ Trung Kiên
TÓM TẮT
Mục tiêu:Đánh giá tỉ lệ suy dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể (BMI) và albumin huyết thanh ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ Mối liên quan giữa albumin
huyết thanh với một số đặc điểm ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang.
Kết quả: Từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014, chúng tôi nghiên cứu trên 186
bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện quân y
120 Tỉ lệ bệnh nhân nam và nữ gần tương đương nhau, tuổi trung bình 50,54 ± 16,03 tuổi, thời gian lọc máu trung bình 21,79 ± 12,08 tháng Nguyên nhân gây suy thận mạn chủ yếu là viêm cầu thận mạn và tăng huyết áp Tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo BMI là 28,5% (trong đó SDD nặng là 4,8%, SDD trung bình là 7%).
Tỉ lệ SDD theo nồng độ albumin huyết thanh là 28%, chủ yếu là SDD mức độ nhẹ;
Tỉ lệ giảm albumin huyết thanh giữa nhóm SDD và không SDD theo BMI không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê BN cao tuổi có tỉ lệ SDD cao hơn (44,9% trong nhóm SDD); Giữa albumin huyết thanh và nồng độ hemoglobin máu có mối tương quan tỉ lệ thuận với nhau với r = 0,374 ( p<0,01) Tỉ lệ giảm Albumin huyết thanh
ở nhóm BN lọc máu chu kỳ từ dưới 12 tháng cao hơn nhóm BN lọc máu trên 12 tháng có ý nghĩa thống kê (p<0,01).
Kết luận: Tỉ lệ SDD ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ chiếm tỉ lệ khá cao, đa số
là SDD mức độ nhẹ Đánh giá SDD theo BMI không chính xác Tỉ lệ SDD ở người cao tuổi và BN lọc máu dưới 12 tháng thường gặp nhiều hơn Giảm Albumin huyết thanh có liên quan đến tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ Thầy thuốc cần làm xét nghiệm Albumin huyết thanh thường quy ở BN lọc máu để kiểm soát tốt tình trạng dinh dưỡng của BN.
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ở bệnh nhân (BN) suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ, tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) khá cao, khoảng 20 - 76% tùy thuộc tiêu chuẩn sử dụng đánh giá Suy dinh dưỡng gây nhiều bất lợi cho những bệnh nhân này SDD làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng, thiếu máu, chậm lành vết thương, bệnh tim mạch… Do đó việc chẩn đoán phát hiện sớm suy dinh dưỡng và tiến hành các biện pháp điều trị kịp thời là rất cần thiết trong điều trị và chăm sóc bệnh nhân lọc máu chu kỳ
Việc đánh giá SDD có nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp đều
có ưu nhược điểm riêng Vấn đề này thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu mối liên quan giữa Albumin huyết thanh với một số đặc điểm ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ nhằm:
- Đánh giá ưu nhược điểm của chỉ số khối cơ thể (BMI) và nồng độ albumin huyết thanh trong chẩn đoán suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.
- Mối liên quan giữa Albumin huyết thanh với một số đặc điểm ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chí chọn bệnh
Bệnh nhân được chẩn đoán suy thận mạn giai đoạn cuối và đang được lọc máu chu kỳ tại Khoa Thận nhân tạo – Bệnh viện quân y 120
Tiêu chí loại trừ: Bệnh nhân đang bị nhiễm trùng cấp tính, sốt, suy hô hấp,
suy tim nặng, bệnh cường giáp, bệnh gan nặng, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang.
2.2.2 Nội dung nghiên cứu:
* Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng đánh giá suy dinh dưỡng và các yếu tố thúc
đẩy suy dinh dưỡng
* Đánh giá phân loại suy dinh dưỡng theo:
+ Chỉ số Albumin huyết thanh:
Trang 3Suy sinh dưỡng nhẹ: 2,8 - <3,5 g/dL
Suy dinh dưỡng vừa: 2,1 - <2,8 g/dL
Suy dinh dưỡng nặng: <2,1 g/dL
+ Đánh giá suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn phân loại BMI của WHO dành cho dân số châu Á:
BMI < 16: SDD nặng BMI: 16 – 16,9: SDD trung bình BMI: 17 – 18,49: SDD nhẹ
2.2.3 Xử lý số liệu: Bằng phần mềm thống kê SPSS 17.0
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Bảng 3.1: Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Số lượng và tỉ lệ 186 100(53,8%) 86( 46,2%)
Tuổi (năm) 50,54±16,03 46,72±15,86 54,99±15,16 P<0,001 Thời gian lọc
máu (tháng) 21,79±12,8 22,5±13,76 20,95±11,59 p>0,05
Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân nam và nữ gần tương đương nhau, tuổi trung bình là
50,54±16,03 tuổi Bệnh nhân nữ có tuổi cao hơn bệnh nhân nam có ý nghĩa thống
kê (p< 0,001) Thời gian lọc máu trung bình: 21,79±12,8 tháng Không có sự khác biệt về thời gian lọc máu giữa 2 giới
Bảng 3 2: Nguyên nhân suy thận mạn giai đoạn cuối ở nhóm nghiên cứu
Trang 4Đái tháo đường 38 20,4
Nhận xét: Nguyên nhân gây suy thận mạn giai đoạn cuối đa dạng, chiếm tỉ
lệ cao nhất là viêm cầu thận mạn(44,1%), kế đến là tăng huyết áp (30,6%) và đái tháo đường (20,4%)
Bảng 3 3: Đánh giá dinh dưỡng theo BMI
Nhận xét: Theo BMI, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm nghiên cứu chiếm
28,5% Trong đó suy dinh dưỡng nặng và trung bình chiếm 11,8%; Bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ: 16,7%
Bảng 3 4: Đánh giá dinh dưỡng theo Albumin
Trang 5Suy dinh dưỡng vừa 0 0
Nhận xét: Theo nồng độ Albumin huyết thanh, tỷ lệ suy dinh dưỡng chiếm
28%, chỉ có SDD nhẹ, không có suy dinh dưỡng vừa và nặng
Bảng 3 5: So sánh đánh giá suy dinh dưỡng theo BMI và Albumin máu
BMI Albumin
Nhận xét: Nếu phân loại suy dinh dưỡng theo BMI, giá trị albumin máu
giữa 2 nhóm suy dinh dưỡng và không suy dinh dưỡng không có sự khác biệt đáng kể
Trang 6Albumin Y=30,66 + 0,09xHb
r= 0,374 với p<0,01
Biểu đồ 3.1 Sự liên quan giữa Albumin huyết thanh với nồng độ HGB ở BN
suy thận mạn giai đoạn cuối- lọc máu chu kỳ Nhận xét: Giữa nồng độ albumin huyết thanh và nồng độ hemoglobin máu
có mối tương quan thuận, với r = 0,374 (p < 0,01)
Bảng 3.6: Phân bố suy dinh dưỡng theo tuổi
Trang 7Albumin n % n %
Nhận xét: Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm tuổi dưới 60 ( 21,9%) thấp hơn tỷ lệ suy
dinh dưỡng ở nhóm tuổi trên 60 (44,9%) rõ rệt (p < 0,05)
Bảng 3.7: Đánh giá suy dinh dưỡng theo thời gian lọc máu:
Thời gian lọc
máu Albumin
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân có tuổi lọc máu trên 12 tháng
có tỷ lệ duy dinh dưỡng thấp hơn bệnh nhân có tuổi lọc máu từ 12 tháng trở xuống Kết quả này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
4 BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:
Trang 8- Nhóm nghiên cứu của chúng tôi gồm 186 bệnh nhân đang lọc máu chu kỳ ổn
định tại khoa Thận nhân tạo bệnh viện quân y 120, trong đó có 100 bệnh nhân nam (53,8%) và 86 bệnh nhân nữ (46,2%) Tuổi trung bình của bệnh nhân lọc máu là 50,54 ± 16,03 tuổi, gần tương đương với tuổi trung bình của bệnh nhân ở nghiên cứu Foley (51,1±16,7 tuổi), cao hơn bệnh nhân nghiên cứu ở bệnh viện Bạch Mai (42,6±14,7 tuổi), và bệnh viện 175 (45,9±13,25 tuổi), thấp hơn bệnh nhân nghiên cứu ở Nhật (58,9 tuổi) Thời gian lọc máu trung bình là 21,79 ± 12,8 tháng
- Kết quả bảng 3.1 cho thấy: tuổi trung bình của bệnh nhân nam (46,72 ± 15,86) thấp hơn bệnh nhân nữ (54,99 ± 15,16) rõ rệt (p < 0,001) Sở dĩ có khác biệt là do bệnh nhân nam trong nghiên cứu này đa số bị viêm cầu thận mạn, trong khi bệnh nhân nữ chủ yếu trong nhóm nguyên nhân đái tháo đường
- Kết quả bảng 3.2 cho thấy: nguyên nhân gây suy thận mạn ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ, nguyên nhân hàng đầu là viêm cầu thận mạn (44,1%), kế đến là tăng huyết
áp (30,6%) và đái tháo đường(20,4%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như số liệu thống kê về nguyên nhân suy thận mạn năm 2000 của khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai
4.2 Mối liên quan giữa Albumin huyết thanh với một số yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ:
- Bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng theo BMI: 28,5% Bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ
suy dinh dưỡng theo Albumin huyết thanh chiếm 28%, chỉ có suy dinh dưỡng nhẹ Tình trạng SDD ở BN suy thận mạn lọc máu chu kỳ dao động từ 20 -70% tùy theo tác giả và các phương pháp đánh giá SDD ở BN lọc máu chu kỳ do rất nhiều nguyên nhân Do trong quá trình chạy thận nhân tạo hiện tượng không phù hợp về sinh học sẽ kích thích dị hóa cơ, mất máu sau mỗi lần lọc máu, dễ nhiễm trùng, dễ rối loạn tiêu hóa, ăn ngủ vẫn kém, thiếu máu…
- Kết quả bảng 3.5 cho thấy so sánh đánh giá suy dinh dưỡng theo BMI và Albumin huyết thanh, tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ Albumin huyết thanh giảm ở nhóm BMI < 18,5 (30,8%), không có sự khác biệt đáng kể so với nhóm bệnh nhân
Trang 9có BMI ≥ 18,5 (28,4%) Điều này cho thấy dựa vào BMI để đánh giá suy dinh dưỡng thì không chính xác
- Biểu đồ 3.1 cho thấy nồng độ Albumin huyết thanh tương quan tỷ lệ thuận với nồng độ Hemoglobin máu, với r = 0,374 (p < 0,01) Điều này chứng tỏ đảm bảo dinh dưỡng tốt cho bệnh nhân sẽ góp phần điều trị ổn định tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ
- Bảng 3.6 cho thấy phân bố suy dinh dưỡng theo tuổi, nhóm bệnh nhân ≥ 60 tuổi
có tỷ lệ suy dinh dưỡng (44,9%) cao hơn nhóm bệnh nhân < 60 tuổi (21,9%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này phù hợp với sinh lí con người nghiên cứu của Lê Việt Thắng năm 2013 tại Bệnh viện Bạch Mai Chúng tôi cho rằng, để đảm bảo dinh dưỡng, BN lọc máu cần được cung cấp đủ năng lượng hằng ngày và năng lượng tiêu hao trong quá trình lọc máu Những bệnh nhân này cần có một chế độ
ăn đặc biệt để duy trì trọng lượng cơ thể Tuy nhiên, bệnh nhân lớn tuổi thường có hiệu quả lọc máu thấp hơn bệnh nhân trẻ tuổi vì họ hay bị biến chứng trong quá trình lọc máu, BN thường bị rối loạn giấc ngủ, trầm cảm dẫn đến không có cảm giác ngon miệng
- Bảng 3.7 cho thấy đánh giá suy dinh dưỡng theo thời gian lọc máu Nhóm bệnh nhân có thời gian lọc máu ≤ 12 tháng có tỷ lệ suy dinh dưỡng (50,9%) cao hơn rõ rệt so với nhóm bệnh nhân có thời gian lọc máu > 12 tháng (17,8%) Kết quả này
có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Điều này được giải thích là do bệnh nhân lọc máu chu kỳ > 12 tháng ổn định với màng lọc, nồng độ Hemoglobin máu và giảm nguy
cơ nhiễm trùng từ catheter… Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trái ngược với nghiên cứu của Lê Việt Thắng (2013) : thời gian lọc máu càng dài, mức độ suy dinh dưỡng càng nặng Tuy nhiên thời gian lọc máu trung bình ở nhóm nghiên cứu của Lê Việt Thắng là 70,3 ± 39,4 tháng
5 KẾT LUẬN
Trang 10Qua nghiên cứu mối liên quan giữa Albumin huyết thanh với một số đặc điểm ở 186 BN suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ từ tháng 1/2014 đến 6/2014, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
5.1 Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ:
- Tỉ lệ SDD ở BN suy thận mạn lọc máu chu kỳ khá cao, theo BMI là 28,5%, theo Albumin là 28%
- Giảm Albumin huyết thanh giữa nhóm BN SDD và không SDD theo BMI không có sự khác biệt Vì vậy, dựa vào BMI để đánh giá SDD thì không chính xác
5.2 Mối liên quan giữa Albumin huyết thanh với một số đặc điểm ở BN lọc máu chu kỳ.
- Nồng độ Albumin huyết thanh tương quan tỉ lệ thuận với nồng độ HGB máu, với r = 0,374 (p<0,01)
- Giảm Albumin huyết thanh ở nhóm bệnh nhân cao tuổi lọc máu chu kỳ chiếm tỉ lệ cao hơn rõ rệt so với nhóm tuổi khác với p < 0,05
- Nhóm BN lọc máu chu kỳ từ dưới một năm có tỉ lệ giảm Albumin cao hơn
rõ rệt so với BN lọc máu chu kỳ trên 1 năm với p<0,01
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vũ Đình Hùng (2002), Viêm cầu thận mạn tính, Bệnh học nội khoa tập 1,
trang 290 – 293
2 Nguyễn Nguyên Khôi, Trần Văn Chất (2001), Thận nhân tạo, Chuyên đề
thận học Bệnh viện Bạch Mai – JICA, Hà Nội, trang 152 - 167.
3 Hà Hoàng Kiệm (2002), Suy thận mạn tính, Bệnh học nội khoa, Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân, tập 1, trang 278 – 289
Trang 114 Bùi Anh Tuấn (2002), Nghiên cứu lâm sàng chức năng phổi trạng thái cân
bằng Acid – Base ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được lọc máu chu kỳ, Luận án tiến sĩ y học- Học viện quân y
5 Tinroongroj N et al.(2011) Relationship between
malnutrition-inflammation syndrome and ultrafiltration volume in continuous ambulatory peritoneal dialysis patients J Med Assoc Thai 2011, 94 (4), pp.94-100.
6 Vannini FD et al.(2009) Associations between nutritional markers and
inflammation in haemodialysis patients Int Urol Nephrol 2009, 41(4),
pp.1003-1009