Qua bài tiểu luận này ,em xin trình bày những tri thức mà bản thân đã lĩnh hội được qua quá trình tìm hiểu về đề tài “lý luận của chủ nghĩa Mác- Lenin về thất nghiệp và vấn đề thất nghiệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
đã đưa môn học Kinh tế chính trị Mác – Lênin vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – cô Nguyễn Thị Thanh Hiếu - trong suốt thời gian đồng hành vừa qua, em đã nhận được sự chỉ dẫn, dạy bảo tận tình và tâm huyết của cô Cô đã giúp em có cái nhìn sâu sắc và hoàn thiện hơn trong cuộc sống Từ những kiến thức mà cô truyền tải, em đã dần giải đáp được những trăn trở, khúc mắc trong cuộc sống thông qua những Tư tưởng Kinh tế chính trị Mác – Lênin Qua bài tiểu luận này ,em xin trình bày những tri thức mà bản thân đã lĩnh hội được qua quá trình tìm hiểu về đề tài “lý luận của chủ nghĩa Mác- Lenin về thất nghiệp và vấn đề thất nghiệp ở nhóm lao động trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam”
Môn Kinh tế chính trị Mác – lênin là một môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Song, kiến thức là vô biên mà sự tiếp thu của cá nhân mỗi người lại tồn tại những hạn chế nhất định Do đó, trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận, em không thể tránh khỏi những thiếu sót và sai lầm Bản thân em rất mong muốn nhận được những góp
ý đến từ cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin kính chúc cô sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên con đường giảng dạy!
Trang 33
I Thực trạng thất nghiệp tại nhóm lao động có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam
2 Trình độ của nguồn lao động trong nước chưa cạnh tranh được với trình độnguồn lao động nước ngoài 92.1 Thực trạng nguồn lao động nước ngoài tại Việt Nam 92.2 Vài nét đối chiếu giữa lao động Việt Nam và lao động nước ngoài 11
3 Phân bố cơ cấu chưa hợp lý 1
4III Giải pháp cho tình trạng thất nghiệp của nhóm lao động trình độ cao đẳng, đại
nam
14
1 Đối với bản thân nhóm lao động trình độ cao đẳng, đại học 1
Trang 5và trói buồn những người đang nuôi nhiều khát vọng tốt đẹp cho tương lai tươi sáng củamình và đất nước Tình trạng thất nghiệp nói chung và thất nghiệp ở nhóm lao động trình
độ cao đẳng, đại học nói riêng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình phát triển kinh tế - xãhội của đất nước Tuy vậy, vấn đề thất nghiệp không tự nhiên xuất hiện mà luôn có nhữngcăn nguyên đằng sau nó Để đi sâu vào hiểu thêm vấn đề, ta cần tìm hiểu thực trạng,nguyên nhân và giải pháp của nó Qua việc tìm hiểu những lí luận của chủ nghĩa Mác –Lenin về thất nghiệp, ta có thể vận dụng nó để phân tích rõ hơn về tình hình thất nghiệpcủa nhóm lao độ có trình độ cao đẳng, đại học tại Việt Nam, đồng thời đề xuất tìm ra một
số giải pháp cho vấn đề này
1
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Phần 1:
LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LENIN VỀ THẤT
NGHIỆP.
Về định nghĩa, thất nghiệp là tình trạng những người trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động, có nhu cầu làm việc, đang tìm kiếm việc làm Hoặc đơn giản hơn, thấtnghiệp có thể được hiểu là tình trạng người lao động muốn có việc làm, nhưng không cóviệc làm
Theo quan điểm của chỉ nghĩa Mác – lenin, thất nghiệp là hệ quả của quá trình tíchlũy tư bản Tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành tư bản, bảnchất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa thông qua việcchuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinhdoanh Thực chất, nguồn gốc duy nhất của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư
Hệ quả dẫn đến thất nghiệp của tích lũy cơ bản là quá trình tích lũy tư bản khôngngừng làm tăng chênh lệch giữa thu nhập của nhà tư bản với thu nhập của người lao độnglàm thuê cả tuyệt đối lẫn tương đối Thực tế, xét chung trong toàn bộ nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa, thu nhập mà các nhà tư bản có được lớn hơn rất nhiều lần so với thu nhập dướidạng tiền công của người llao động làm thuê C.Mác đã quan sát thấy thực tế này và gọi
đó là sự bần cùng hóa người lao động Cùng với sự gia tăng quy mô sản xuất và cấu tạohữu cơ của tư bản, tư bản khả biến có xu hướng giảm tương đối so với tư bản bất biến,dẫn tới nguy cơ thừa nhân khẩu
Có ba hình thái nhân khẩu thừa:
Nhân khẩu thừa lưu động là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này, nhưng lại tìmđược việc làm ở xí nghiệp khác Nói chung, số này chỉ mất việc làm từng lúc (thất nghiệptạm thời)
Nhân khẩu thừa tiềm tàng là nhân khẩu thừa trong nông nghiệp – đó là nhữngngười nghèo ở nông thôn, thiếu việc là và cũng không thể tìm được việc làm trong côngnghiệp, phải sống vất vưởng
2
Trang 7Discover more from:
KTCT01
Document continues below
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin
Đại học Kinh tế Quốc dân
Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1
17
Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)
14
Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (134)
63
KTCT - Tài liệu ôn tự luận
57
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)
16
Trang 8Nhân khẩu thừa ngừng trệ là những người hầu như thường xuyên thất nghiệp, thỉnhthoảng mới tìm được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt, sống lang thang, tạo thànhtầng lớp dưới đáy xã hội.
Phần 2:
VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP Ở NHÓM LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
ở Việt Nam.
thất nghiệp
Trên thực tế, Việt Nam là đất nước có tỉ lệ thất nghiệp thấp Đổi mới kinh tế vàchính trị trong 30 năm qua đã thúc đẩy phát triển kinh tế và nhanh chóng đưa Việt Nam từmột trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trungbình thấp từ năm 2008 Mặc dù vậy, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp nói riêng và hệ thống
an sinh xã hội nói chung tại Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện để phục vụ tốt người lao động,
do đó đa số người dân phải làm mọi công việc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân vàgia đình Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam thườngthấp hơn so với các nước đang phát triển Theo kết quả TĐTDS&NO (tổng điều tra dân số
và nhà ở) 2019, tỷ lệ thất nghiệp của dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam là 2,05%;trong đó theo giới tính thì tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15 tuổi trở lên là 2,00%, còn ở
nữ giới là 2,11% Tỷ lệ thất nghiệp có sự biến đổi khá lớn giữa nông thôn và thành thị,giữa các vùng kinh tế và giữa các trình độ chuyên môn
Biểu 1: Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính, thành thị, nông thôn và trình độ chuyên môn kỹ
Trang 9độ chuyên môn kỹ thuật (1,99%) Riêng đối với nhóm có trình độ trên đại học, do nhu cầucao về trình độ chuyên môn trong thời kỳ đổi mới nên có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất (chỉ1,06%).
Dễ thấy rằng tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ cao đẳng, đại học (theothống kê năm 2019) gấp nhiều lần tỷ lệ thất nghiệp ở các nhóm lao động có trình độchuyên môn kỹ thuật khác
thất nghiệp trá hình
Điều này xảy ra do bất cập giữa đào tạo và sử dụng Mặc dù rất thiếu lao động trình
độ cao nhưng vẫn có rất nhiều người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên hiện làm nhữngcông việc bậc thấp - một dạng của “thất nghiệp trá hình” Trong 6 tháng đầu năm 2014, có
1160 nghìn người có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng trở lên đang làm công việcthấp hơn so với trình độ (từ nhóm nghề thứ 4 đến thứ 9), trong đó có 631 nghìn ngườitrình độ đại học trở lên, chiếm 55,8%
Biểu 2: Phân bố vị trí việc làm theo nghề và trình độ đào tạo (có bằng cấp, chứng chỉ) 6
Trung cấp, THCN
Cao đẳn g
ĐH trở lên
Tổng số
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Trang 109.Lao động giản đơn 20742 137 380 120 89 21468
Tóm lại, Dù cho nhu cầu lao động trình độ cao ngày càng tăng ở nước ta, hai xu
thế này vẫn tồn tại một mặt phản ánh sự lãng phí trong đầu tư đào tạo lao động trình độcao, mặt khác thể hiện sự chưa tương xứng giữa bằng cấp và chất lượng thực sự của laođộng, đồng thời đặt ra yêu cầu đào tạo phải phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của thịtrường thay vì đào tạo cái mà người lao động muốn
độ cao đẳng, đại học.
1 Cung lao động nhiều hơn nhu cầu tuyển dụng, chất lượng của nguồn cung không thỏa mãn yêu cầu của nhà tuyển dụng.
1.1 Số lượng và chất lượng các trường đại học, cao đẳng
Theo thống kê hiện nay có hơn 700 trường đại học, học viện, cao đẳng trên toànlãnh thổ Việt Nam đào tạo rất nhiều ngành nghề khác nhau Tuy nhiên, số lượng không đikèm với chất lượng, rất ít trong số đó có thể đáp ứng nhu cầu công việc thực tế ở cácdoanh nghiệp Một trong những nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ sinh viên thất nghiệp còn cao là
do chất lượng đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng ở Việt Nam còn nhiều hạn chế
Theo bảng xếp hạng 1.000 trường đại học hàng đầu năm 2020 do Ngân hàng ThếGiới thực hiện tại 3 bảng xếp hạng uy tín Webometrics, QS và THE, Việt Nam xếp cuốicùng, sau cả Philippines, Indonesia, Malaysia và Thái Lan Chỉ có hai trường đại học ởViệt Nam nằm trong top 1000 trong bảng xếp hạng QS và THE, không có đại diện nàotrên bảng xếp hạng Webometrics Trong khi đó, số lượng trường đại học có mặt trongtừng bảng xếp hạng ở Indonesia là 9, 3 và 2 và Thái Lan là 8, 5 và 6
Ngoài chất lượng giáo dục thấp, báo cáo cũng chỉ ra sự tụt hậu trong hoạt độngnghiên cứu tại các trường đại học Việt Nam Nếu tính đến tỷ lệ nghiên cứu trên một triệudân trong giai đoạn 2010-2017, Việt Nam tăng từ 23 lên 63, thấp hơn từ 10 lên 71 củaIndonesia, từ 140 lên 212 của Thái Lan và kém xa so với 4.092 lên 4.813 của Thụy Sĩ -quốc gia đứng đầu danh sách Tính theo số lượng bằng sáng chế trên một triệu dân, ViệtNam đạt 1,24, so với 1,35 ở Philippines, 1,67 ở Indonesia, 3,16 ở Thái Lan và 30 ởMalaysia Đối với Thụy Sĩ, Đan Mạch và Singapore, các con số lần lượt là 3.065, 1.084
và 548, chênh lệch hàng trăm, hàng nghìn lần so với Việt Nam
5
Trang 111.35 1.67 3.16 30 114 233 251 362 548 709 1084 1206 1451
2282 2341
3065
Biểu 3: Số bằng sáng chế trên một triệu dân của một quốc gia
Nguồn: World Bank 2020
Sốố bằằng sáng chếố trến m t tri u dân ộ ệCác chuyên gia chỉ ra rằng mức độ đầu tư của Nhà nước cho giáo dục đại học cònhạn chế Theo Học viện Tài chính, Việt Nam đã chi 17 nghìn tỷ đồng cho giáo dục đạihọc trong năm 2017 Con số này chỉ chiếm 0,34% tổng GDP của Việt Nam, chiếm 1,25%ngân sách quốc gia và 6,9% chi cho giáo dục và đào tạo (không bao gồm học phí) Ngoài
ra, giáo dục đại học là đối tượng thụ hưởng chính từ nguồn vốn ODA (Hỗ trợ phát triển
6
Trang 12chính thức), chiếm gần 70% tỷ trọng Tuy nhiên, nguồn vốn này đã giảm một nửa trongthập kỷ từ 2010 đến 2019
Đáng lưu ý là Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam chỉ trực tiếp quản lý hơn 40trường đại học trong tổng số 240 trường đại học và 2 trường đại học quốc gia, chưa kể
400 trường cao đẳng và trung cấp đang được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản
lý Sự phân mảnh và thiếu tính hệ thống, tính kết nối đồng bộ tạo nhiều phức tạp và bấtcập cho việc quản lý hệ thống các trường đại học
Tại một hội thảo do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức năm 2021, Giáo sưMartin Hayden của Đại học Southern Cross, Australia cho biết, trong 12 năm từ 2008 -
2020, tỷ lệ nhập học của học sinh Việt Nam tăng khoảng 40% Tuy nhiên, số lượng giảngviên khó có thể bắt kịp mức độ tăng nhanh chóng như vậy "Nhiều giảng viên Việt Namchia sẻ với tôi bên cạnh giảng dạy, họ phải làm quá nhiều việc Tôi nghĩ phải tìm cách đểgiúp giảng viên làm việc hiệu quả, bớt căng thẳng, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục đạihọc", ông Martin nói
1.2 Số lượng và chất lượng của nhóm lao động trình độ cao đẳng, đại học.
Đầu vào
Cùng với số lượng lớn các trường đại học là hiện tượng tuyển sinh ồ ạt, thậm chívào năm 2019 đã ghi nhận trường hợp hơn 3 điểm (kể cả điểm ưu tiên) vẫn có thể nộp hồ
sơ xét tuyển vào nhiều đại học
Các trường đại học sau đây được cho là các trường đại học thuốc top giữa tại ViệtNam, tuy nhiên, điểm chuẩn xét tuyển đầu vào lại là một con số đáng lo ngại:
Đại học Hàng Hải Việt Nam: Hội đồng tuyển sinh Trường Đại học Hàng hải ViệtNam thông báo điểm trúng tuyển đại học hệ chính quy năm 2021 đối với các thí sinh đãđăng ký xét tuyển vào trường theo phương thức xét tuyển dựa trên điểm thi tốt nghiệpTHPT năm 2021 Bên cạnh những ngành có điểm cao thì cũng ghi nhận ở trường cóngành lấy điểm thấp, 14 điểm/3 môn, tính ra số điểm này chưa đến 5 điểm/môn Đó là cácngành Thiết kế tàu và công trình ngoài khơi, Đóng tàu và công trình ngoài khơi, Xâydựng công trình thủy, Công trình giao thông và cơ sở hạ tầng, Kiến trúc và nội thất, Kỹthuật công nghệ hóa học
Đại học Xây dựng Hà Nội: Ngày 15/9/2021, Hội đồng tuyển sinh trường Đại họcXây dựng Hà Nội thông báo kết quả xét tuyển đợt 1 vào đại học hệ chính quy đối với sinhviên khóa 66, các ngành có điểm chuẩn thấp nhất từ 16 điểm, tức là chỉ hơn 5 điểm/mônnhư Kỹ thuật cấp thoát nước, Kỹ thuật vật liệu, Quản lý xây dựng, Kỹ thuật cơ khí Đại học Sư phạm Hà Nội: Tương tự mọi năm, những ngành ngoài sư phạm cóđiểm chuẩn thấp hơn nhóm ngành đào tạo giáo viên Thấp nhất vẫn là Triết học với 16điểm ở tổ hợp C19, bằng với mức điểm sàn
7
Trang 13Đại học Điện lực: Một số ngành lấy điểm chuẩn thấp, chỉ với 16 điểm như Côngnghệ kỹ thuật công trình xây dựng, Công nghệ kỹ thuật năng lượng và Công nghệ kỹthuật môi trường Có 2 khoa lấy điểm 17 là Quản lý công nghiệp và Quản lý năng lượng.Các trường đại học hàng đầu thế giới như Harvard, Viện Công nghệ Massachusettsmuốn có chất lượng cao, đều chú trọng khâu tuyển sinh Thậm chí, tỷ lệ loại sinh viên họckém của họ cũng rất cao “Ngưỡng đảm bảo đầu vào (điểm sàn) rất quan trọng, bởi nếungười học không có tố chất, không có nền tảng phổ thông, thì không nên vào đạihọc.Theo đúng Luật Giáo dục, các trường đại học có quyền tự chủ về tuyển sinh Ví dụ,cách tuyển sinh học bạ theo đề án của các trường, về khía cạnh nào đó, chọn được em họckhá ở phổ thông, nhưng cũng có rất nhiều ý kiến tranh luận về chất lượng liệu có đảmbảo.Về tuyển sinh theo kết quả kỳ thi THPT quốc gia, chúng ta cần chia sẻ với các trườngđại học chưa có bề dày, để duy trì trường đã khó, cao hơn nữa là phát triển Tuy nhiên, vềlâu dài, các trường đại học nếu lấy điểm sàn thấp như vậy để “bòn, vét” sinh viên, sẽ rấtkhó nâng cao chất lượng Có người ví các trường hạ thấp điểm để lấy số lượng giống hìnhthức “tự sát” Tôi cho rằng có lẽ, nó giống hành động “chết mòn”.” - PGS.TS Trần VănTớp - Phó hiệu trưởng ĐH Bách khoa Hà Nội nói.
Hiện nay, tồn tại tình trạng các trường đại học tự chủ tuyển sinh nới lỏng đầu vào,thắt chặt đầu ra Tuy nhiên, mô hình này sẽ rất khó phát triển ở Việt Nam: “Kiểm soátchất lượng trong trường thường là nội bộ Vừa qua, báo chí cũng đăng tải thông tin nhiềutrường gian dối trong số lượng giáo viên cơ hữu để tăng chỉ tiêu tại Thông tư 06 về việcxác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, đại học và trình độ cao đẳng, trungcấp sư phạm, các trường được tự chủ Vì vậy, nếu thả lỏng đầu vào kèm theo kiểm soátkhông tốt sẽ dẫn tới chất lượng giáo dục "thê thảm" Các trường đại học nói thả lỏng đầuvào, sẽ siết chặt đầu ra Nhưng với tỷ lệ tốt nghiệp thấp liệu xã hội có chấp nhận, sinhviên có theo học, dư luận cho rằng đó là sự lãng phí Câu chuyện này không hề đơn giản.Tôi cho rằng cần chọn những người có khả năng và sở thích vào đại học Một số doanhnghiệp phản ánh sinh viên không tốt nghiệp được như “phế phẩm”, vì thế nhà trường cần
có sàng lọc, cảnh báo ngay từ đầu vào.”- PGS.TS Trần Văn Tớp nói
Trong quá trình học tập
Bên cạnh khâu quản lý đầu vào, việc kiểm soát chất lượng sinh viên trong quátrình học tập cũng chưa thực sự được quản lý chặt chẽ Không nhiều trường đại học cóquy chế thắt chặt chất lượng sinh viên trong trường như cảnh cáo kết quả học tập hoặcbuộc thôi học Bên cạnh đó, việc không xát xao trong quản lý quy chế học tập, quy chế thicũng phản ánh sai kết quả học tập của nhiều sinh viên Bằng chứng là tình trạng học hộ,thi hộ tại các trường đại học ngày cành tràn lan Chỉ cần tìm kiếm trên mạng xã hội sẽ cóhàng trăm hội nhóm cung cấp dịch vụ này ở nhiều mức giá khác nhau, các nhóm học hộ,thi hộ có thời điểm đông đảo lên đến hơn 14.000 người tham gia Chính vì vậy hiện tượng
“học giả bằng thật”, “vào được ra được” đến nay đã không phải hiếm Nếu việc nàykhông được giải quyết triệt để, hệ lụy của nó là rất lớn, không chỉ mất công bằng cho các
8