Giá trị thặng dư là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của thành phần kinh tế tư nhân.. Công thức chung của tư bản Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số ti
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH & PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊ NIN
ĐỀ TÀI: Lý luận về giá trị thặng dư và vận dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của kinh tế tư nhân (hoặc 1 DNTN lớn nào đó hoặc các DN
vừa và nhỏ) ở nước ta hiện nay.
SV: Nguyễn Anh Ngọc
Mã sinh viên: 11224686
Lớp học phần: LLNL1106(123)_18
GV hướng dẫn: Tô Đức Hạnh
HÀ NỘI: 10/2023
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I Lý luận về giá trị thặng dư 3
1 Nguồn gốc giá trị thặng dư 3
2 Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư 6
3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 7
II Thực trạng về hiệu quả kinh doanh của Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Thiên Long ở nước ta hiện nay 9
1 Thực trạng về hiệu quả kinh doanh của Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Thiên Long ở nước ta hiện nay 9
2 Đánh giá thực trạng 11
III Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Thiên Long 13
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây kinh tế nước ta ngày càng phát triển, nền kinh tế thị trường ngày càng đi lên Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Nhờ vậy, kinh tế tư nhân không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố chính tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh Kinh tế tư nhân kinh doanh có hiệu quả sẽ giúp nền kinh tế chung của Việt Nam đi lên Bởi các doanh nghiệp tư nhân có nhiệm vụ đóng góp vào GDP chung của đất nước, là “lực kéo” của nền kinh tế
Giá trị thặng dư là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của thành phần kinh tế tư nhân Đó là công cụ quan trọng phản ánh mức độ kinh doanh hiệu quả của doanh nghiệp
Với sự cần thiết, trên tiền đề kiến thức tích lũy được, tìm hiểu và nghiên cứu thêm từ nhiều nguồn thông tin đáng tin cậy khác, em xin triển khai đề tài:
“Lý luận về giá trị thặng dư và vận dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay.”
Trang 4I Lý luận về giá trị thặng dư
1 Nguồn gốc giá trị thặng dư
a Công thức chung của tư bản
Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định, nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhấtđịnh đó là khi chúng được dùng để bóc lột lao động của người khác Tiền với tư cách là tiền thông thường vận động theo công thức:
H - T – H (Đây là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn)
Tiền với tư cách là tư bản vận động theo công thức:
T - H - T' (T' = T + m) m là giá trị thặng dư ( Đây là công thức chung của tư bản) Tiền là tư bản khác với tiền tệ thông thường Theo công thức chung của tư bản, chỉ có 2 hành vi mua và bán mà kết quả lại thu được m và T’ Số tiền trội
ra lớn hơn được gọi là giá trị thặng dư; số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản Tiền biến thành tư bản khi được dùng đế mang lại giá trị thặng dư
Việc mua, bán hàng hóa thấp hơn hoặc bằng giá trị sẽ không có giá trị tăng thêm, nếu người mua hàng hóa để rồi bán hàng hóa đó cao hơn giá trị thì chỉ được lợi xét về người bán, nhưng xét về người mua thì lại bị thiệt Trong nền kinh tế thị trường, mỗi người đều đóng vai trò là người bán và đồng thời cũng
là người mua Cho nên, nếu được lợi khi bán thì lại bị thiệt khi mua Lưu thông (mua, bán thông thường) không tạo ra giá trị tăng thêm) xét trên phạm
vi xã hội
Bí mật ở đây là nhà tư bản dã mua dược một loại hàng hóa đặc biệt nào đó mà trong quá trình sử dụng loại hàng hóa này, giá trị của nó không những dược
Trang 5bảo tổn mà còn tạo ra được giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó Đó là hàng hóa sức lao động
b Hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động không phải xuất hiện ngay khi có sản xuất hàng hóa Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa và là đối tượng trao đổi, mua bán trên thịtrường khi sản xuất hàng hóa phát triển đến trình độ nhất định làm xuất hiện nhữngđiều kiện biến sức lao động thành hàng hóa
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
Thứ nhất, người lao động được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao
động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
Thứ hai, người lao động không có tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt,
hoặc có nhưng không đầy đủ; họ buộc phải bán sức lao động để sống,
để tồn tại
Hai thuộc tính hàng hóa, sức lao động:
Giá trị: do thời gian, lao động xã hội cần thiết để sản xuất, tái sản xuất
sức lao động quyết định Nhưng sức lao động gắn với cơ thể sống nên giá trị sức lao động đo gián tiếp bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết
Giá trị sử dụng: được thể hiện thông qua quá trình tiêu dùng sức lao
động Quá trình lao động của công nhân là một giá trị sử dụng đặc biệt biểu hiện khi tiêu dùng nó thì giá trị của nó không những không mất đi
mà còn tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó
Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và lịch sừ Hơn thế, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hóa thông thường nào có được, đó là trong khi sừ dụng
nó, không những giá trị của nó được báo tổn mà còn tạo ra được lượng giá trị
Trang 6lớn hơn Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên
do đâu mà có
Nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động mà có
c Quá trình sản xuất giá trị thặng dư
Để hiểu rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư, ta xét một ví dụ về quá trình sản xuất sợi của một nhà tư bản, ban đầu nhà tư bản phải ứng ra số tiền như sau:
50 USD để mua 50 kg bông,
3 USD hao mòn máy móc để kéo 50 kg bông thành sợi,
15 USD mua hàng hoá sức lao động dể sừ dụng trong 1 ngày làm việc 8 giờ và điều này được người công nhân thoả thuận chấp nhận
Nhà tư bản ứng ra tổng số 68 USD
Trong quá trình sán xuất sợi, bằng lao động cụ thể, người công nhân biến bông thành sợi Giá trị của bông và hao mòn máy móc được chuyển vào giá trị của sợi Bằng lao động trừu tượng người công nhân tạo ra giá trị mới, giả định, trong 4 giờ lao động công nhân đã chuyển toàn bộ 50 kg bông thành sợi Giá trị sợi gồm:
Giá trị 50 kg bông chuyển vào: 50 USD
Hao mòn máy móc: 3 USD
Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 15 USD
Tổng cộng: 68 USD
Nhà tư bản ứng ra 68 USD, giả định sợi được bán hết, thu về 68 USD Nếu quá trình lao động dừng lại tại điểm này thì không có giá trị thặng dư, tiền ứng
ra chưa trở thành tư bản
Để có giá trị thặng dư, thời gian lao động phải vượt quá cái điểm bù lại giá trị sức lao động Lưu ý là nhà tư bản mua sức lao động của công nhân đề sử dụng trong 8 giờ (với 15 USD như đã thỏa thuận), không phải là 4 giờ Công nhân
Trang 7Discover more from:
KTCT01
Document continues below
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin
Đại học Kinh tế Quốc dân
999+ documents
Go to course
Phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động tích cực đối với Việt Nam
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (48)
12
Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1
17
Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)
14
Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (134)
63
KTCT - Tài liệu ôn tự luận
57
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)
16
Trang 8phải tiếp tục làm việc trong 4 giờ nữa Trong 4 giời này, nhà tư bán chỉ phải bỏ thêm 50 USD để mua 50 kg bông và 3 USD hao mòn máy móc
Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu số sợi được tạo ra trong 4 giờ lao động sau cũng có giá trị 68 USD Con số này bao gồm:
Giá trị của bông chuyển vào: 50 USD
Hao mòn máy móc: 3 USD
Giá trị mới tạo thêm: 15 USD
Sau khi sợi được bán hết, giá trị thu về sau 8h lao động của công nhân là: 68 USD + 68 USD = 136 USD
Tổng cộng, nhà tư bản ứng ra 100 USD + 6 USD + 15 USD =121 USD, trong khi đó số sợi sản xuất ra có giá trị 136 USD Do đó, nhà tư bản thu được lượng giá trị thặng dư là 136 USD - 121 USD = 15 USD
Phần chênh lệch này là giá trị thặng dư Đây là giá trị mới do người lao động tạo ra ngoài hao phí lao động tất yếu Phần giá trị mới này nhà tư bản nắm lấy
do địa vị là người chủ sở
Như vậy, Giá trị thặng dư là một phần của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do lao động của người công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
2 Các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư
a Tỉ suất giá trị thặng dư
Tỉ suất giá trị thặng dư là tỉ lệ tính theo phần trăm giá trị thặng dư và tư bản
khả biến:
m′= 100%
Trong đó, m’ là tỷ suất giá trị thăng dư; m là giá trị thặng dư; V là tư bản khả biến m’ chỉ rõ trong phần giá trị mới do công nhân làm thuê làm ra, người công nhân được nhận bao nhiêu, tư bản lấy đi bao nhiêu
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ khai thác sức lao động làm thuê
Trang 9b Khối lượng giá trị thặng dư
Khối lượng giả trị thặng dư là lượng giá trị thặng dư bằng tiền mà nhà tư bản
thu được:
M=m′.V Trong đó, V là tổng số công nhân làm thuê cho nhà tư bản hay tổng số tiền công tư bản trả công nhân; M là khối lượng giá trị thặng dư
Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô giá trị thặng dư mà chủ sở hữu
tư liệu sản xuất thu được
3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
a Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao
động Nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động cần thiết không thay đổi
Ví dụ: nếu ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết là 4 giờ, thời
gian lao động thặng dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư là 100%
Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa với mọi điều kiện không đổi thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng từ 4 giờ lên 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:
m′= 100% = 150%
Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hóa sức lao động phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động
Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư đạt tối đa Nhưng bằng phương pháp này mục đích đó bị hạn chế bởi ngày lao động không quá 24 giờ ( Trong thực tế không được 24 giờ vì phải tái sản xuất sức lao động.) Hơn nữa, công nhân kiến quyết đấu tranh đòi rút ngắn ngày lao động Quyền lợi hai bên có mâu thuẫn, thông qua đâu tranh, tuỳ tương quan lực lượng mà tại các dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể có thể quy định độ dài nhất định của ngày
Trang 10lao động Tuy vậy, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu và cũng không thể vượt giới hạn thể chất và tinh thần của người lao động
b Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian
lao động cần thiết Do đó kéo dài thời gian lao dộng thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi
Ví dụ: ngày lao động 8 giờ, với 4 giờ lao động cần thiết, 4 giờ lao động thặng
dư, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Nếu giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động cần thiết rút xuống còn 2 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ
là 6 giờ Khi đó:
m′= 100% = 300%
Nếu ngày lao động giảm xuống còn 6 giờ nhưng giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động tất yếu rút xuống còn 1 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 5 giờ Khi đó:
m′= ×100%=500%
Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất sức lao động, do đó phải tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo ra tư liệu sinh hoạt đó
Trong thực tế, việc cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động diễn ra trước hết
ở một hoặc vài xí nghiệp riêng biệt, làm cho hàng hoá do các xí nghiệp ấy sản xuất ra có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, và do đó, sẽ thu được một số giá trị thặng dư trội hơn so với các xí nghiệp khác Phần giá trị thặng dư trội
hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch.
Xét từng trường họp đơn vị sản xuất cá biệt, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, xuất hiện rồi mất đi, nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng tổn tại thường xuyên
Trang 11Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra
sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động Hoạt động riêng lẻ đó của từng nhà tư bản đã dẫn đến kết quả làm tăng năng suất lao động xã hội, hình thành giá trị thặng dư tương đối, thúc đẩy lực lượng sân xuất phát triển Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
II Thực trạng về hiệu quả kinh doanh của Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Thiên Long ở nước ta hiện nay.
1 Thực trạng về hiệu quả kinh doanh của Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Thiên Long ở nước ta hiện nay.
a Chi phí bán hàng
Những năm gần đây chi phí của Thiên Long liên tục tăng mạnh, năm 2022 khoảng 1.997 tỷ đồng tăng 30% so với năm 2021 6 tháng đầu năm 2023, chi phí bán hàng tăng 18% so với cùng kỳ lên 1.119 tỷ đồng do tập đoàn đầu tư mạnh vào đội ngũ nhân sự từ giữa năm 2022 để chuẩn bị cho sự phát triển trong tương lai Bên cạnh đó, đơn vị cũng đã tăng chi phí hoạt động bán hàng
và phát triển thương hiệu để sẵn sàng cho mùa tiêu thụ cao điểm trong năm
b Nguồn vốn
Nợ phải trả tại cuối tháng 6/2023 của Thiên Long là 1.029 tỷ đồng, trong đó
dư nợ vay tài chính ở mức 376 tỷ đồng, chủ yếu là nợ vay ngắn hạn Vốn chủ
sở hữu doanh nghiệp đạt 2.003 tỷ đồng, gồm 600 tỷ đồng lợi nhuận chưa phân phối
c Tình hình tài chính
Tính đến cuối tháng 6/2023, tổng tài sản của Thiên Long đạt 3.031 tỷ đồng, tăng 6% so với đầu năm Khoản tiền tương đương với tiền gửi có kỳ hạn khoảng 628 tỷ đồng, chiếm 21% tổng tài sản Vốn điều lệ của Thiên Long gần
778 tỷ đồng, trong đó CTCP Đầu tư Thiên Long An Thịnh nắm 48,01% cổ
Trang 12phần NWL Cayman Holdings và ông Cô Gia Thọ nắm giữ lần lượt là 7,07%
và 6,1% vốn Giữa tháng 9/2023, HĐQT Thiên Long thông báo phát hành mới 800,000 cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP), tỷ
lệ 1.03% Nếu thành công, vốn điều lệ Công ty dự kiến tăng lên 786 tỷ đồng
d Doanh thu
Tập đoàn Thiên Long công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2023 với doanh thu thuần đạt 1.988 tỷ, tăng 106 tỷ đồng, tương đương tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái Đồng thời hoàn thành 49% kế hoạch doanh thu được đề ra tại ĐHĐCĐ thường niên hổi tháng 4 là 4.000 tỷ đồng
e Lợi nhuận
Trong 6 tháng đầu năm 2023, Thiên Long báo lãi sau thuế hơn 268 tỷ đồng, giảm 32 tỷ đồng, tương ứng giảm 10,6% so với cùng kỳ Đồng thời hoàn thành 67% kế hoạch lợi nhuận năm được đề ra tại ĐHĐCĐ thường niên hồi tháng 4 là 400 tỷ đồng
f Đối với thị trường xuất khẩu
Tính đến cuối năm 2021, sản phẩm của Thiên Long đã xuất khẩu đến 67 quốc gia trên thế giới FlexOffice, tên gọi nhãn hàng xuất khẩu của Thiên Long xem Đông Nam Á là thị trường chủ lực và đã xuất khẩu sang tất cả các quốc gia của khu vực này với sự hiện diện tại 10/11 quốc gia Các sản phẩm của Thiên Long còn có mặt tại những thị trường khó tính như Mỹ, Canada, Úc, Nhật, Hàn Quốc… Bên cạnh đó, đẩy mạnh xuất khẩu và hợp tác với những “ông lớn” như Newell Brands - công ty dẫn đầu ngành tiêu dùng toàn cầu có trụ sở tại Mỹ Năm 2021, cơ cấu doanh thu xuất khẩu chiếm 21% tổng doanh thu của Thiên Long và tăng lên gần 24% trong năm 2022 với 800 tỷ đồng
2 Đánh giá thực trạng
a Những kết quả đạt được