TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂNTiểu luận Triết Học Mac – Lênin Đề tài: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP , RÈN LUYỆN CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Tiểu luận Triết Học Mac – Lênin
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP , RÈN LUYỆN
CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN.
Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Huyền Trang
Trang 2Giảng viên hướng dẫn : Thầy Lê Ngọc Thông.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
A LỜI MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 4
Phần 1: Nguyên lý phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 4
1 Phép biện chứng duy vật 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật 4
1.3 Quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 5
1.4 Vai trò của phép biện chứng duy vật 6
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật 6
2.1 Khái niệm về mối liên hệ phổ biến 6
2.2 Cơ sở khoa học mối liên hệ phổ biến 8
2.3 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 9
2.4 Tính chất cơ bản của mối liên hệ phổ biến 10
2.5 Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ phổ biến 12
Phần 2: Sự vận dụng trong học tập và rèn luyện của bản thân sinh viên 13
1 Định hướng vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 13
2 Thực tế vận dụng 17
2.1 Thành công trong vận dụng quy luật phổ biến của sinh viên vào học tập và đời sống 17
2.2 Thất bại trong vận dụng quy luật về mối quan hệ phổ biến vào học tập và đời sống 19
3 Nguyên nhân 19
4 Giải pháp 19
C KẾT LUẬN 20
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI CẢM ƠN.
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại Kinh
tế Quốc Dân đã tạo điều kiện cho em được tiếp vận và học tập bộ mônTriết học Mac- Lênin Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảngviên bộ môn – Thầy Lê Ngọc Thông đã dạy dỗ, truyền đạt những kiếnthức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thờigian tham gia lớp học Triết học Mác- Lênin , em đã có thêm cho mìnhnhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đâychắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để em có thểvững bước sau này
Bộ môn Triết học Mác- Lênin là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và
có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhucầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạnchế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cốgắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏinhững thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong thầy xemxét và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
A LỜI MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất Vì thế Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sựphát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng vai trò xương sống trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin khi xem xét, kiến giải sự vật,hiện tượng
Trong cuộc sống này, từ thuở xa xưa đến nay, con người, sự vật, hiện tượng nào cũng đang ở trong những mối liên hệ Những mối liên
hệ của con người có thể là những mối liên hệ đơn giản thân sơ như ôngcháu, cha con, anh em trong gia đình (Dựa trên cơ sở huyết thống) đếnnhững mối liên hệ phức tạp như đối tác, người yêu, bạn bè (Không dựa trên cơ sở huyết thống) và muôn vàn sự vật hiện tượng khác cũng
Trang 4không ngoại lệ Nhưng, con người ta chẳng thể sáng tạo hay dẹp bỏ những mối liên hệ đó theo ý muốn chủ quan của mình mà vấn đề là ở chỗ phải nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó như thế nào vào trong hoạt động thực tiễn Chính vì lẽ đó, em đã đã chọn đề tài: “ Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và sự vận dụng trong hoạt động học tập, rèn luyện của bản thân sinh viên” Sau đây em sẽ đi phân tích
về nguyên lý mối liên hệ phổ biến, từ đó sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý này , nhằm vận dụng vào trong những hoạt động và cuộc sống học tập của sinh viên chúng em
Phép biện chứng duy vật là “ linh hồn sống ” , là “ cái quyết định ” của chủ nghĩa Mác, là đỉnh cao của tư duy khoa học mà nhân loại đã đạt được thông qua bộ óc thiên tài của C Mác vào giữa thế kỷ XIX Sau đó đã được Ph.Ăngghen bổ sung, hoàn thiện vào cuối thế kỷ XIX và được V.I Lênin phát triển trong điều kiện cách mạng mới vào đầu thế
kỷ XX Gọi phép biện chứng duy vật là “ linh hồn sống ” , là “ cái quyết định ” của chủ nghĩa Mác bởi khi nghiên cứu các quy luật phát triển phổ biến của hiện thực khách quan
và của nhận thức khoa học, phép biện chứng duy vật thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và thực tiễn Chức năng này thể hiện ở chỗ, conngười dựa vào các nguyên lý, được cụ thể hóa bằng các cặp phạm trù và quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật để đề ra các nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lýluận và thực tiễn của mình
1.2 Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lenin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học Đây là sự khác biệt tinh tế về trình độ phát triển so với các tư tưởng biệnchứng trong các thời kỳ trước đây Trong
Trang 5phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac- Lenin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan ( duy vật biện chứng) và phương pháp luận ( biện chứng duy vật)
+ Phép biện chứng duy vật là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học Với đặc trưng này, phép biện chứng duy vật không chỉ có
sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của Hêghen (là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng thế giới quan duy tâm), mà còn có sự khác biệt về trình độ phát triển so với nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (là phép biện chứng về căn bản được xây dựng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật nhưng đó là chủ nghĩa duy vật còn ở trình độ trực quan, ngây thơ và chất phác)
+ Trong phép biện chứng duy vật có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng củathế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới
1.3 Quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng có ba quy luật cơ bản bao gồm:
- Quy luật thứ nhất: quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành thay đổi về chất và ngược lại.
+ Nội dung quy luật: sự thống nhất về lượng và chất trong sự vậttạo thành độ của sự vật Những thay đổi về lượng dẫn đạt đến giới hạnnhất định sẽ xảy ra bước nhảy khiến chất cũ bị phá vỡ và chất mớiđược tạo thành Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng đânđến những thay đổi về chất và ngược lại đã chỉ ra cách thức hoạt động
và phát triển của sự vật, hiện tượng
+ Ý nghĩa quy luật: Muốn có sự thay đổi về chất phải tích lũy vềlượng, không được nóng vội, chủ quan Khi tích lũy về lươngj đã đủ cầnthực hiện bước nhảy tránh bảo thủ, trì trệ Cần phân biệt và vận dụngsáng tạo bước nhảy Đẻ sự vật còn là nó phải nhận thức được độ của nó
và không để lượng thay đổi vượt quá giới hạn độ Khi chất mới được rađời cần xác định quy mô và tốc độ phát triển mới về lượng
- Quy luật thứ hai: quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
+ Nội dung quy luật: Mọi sự vật, hiện tường đều chứa đựng nhữngmặt, nhưbgx khuynh hướng đối lập và tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo
Trang 6thành xung đột nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn đến việc cái
cũ mất đi và cái mới hình thành
+ Ý nghĩa: Cần phải thấy được đông lực phát triển của sự vật xuấtphát từ những mâu thuẫn trong bản thân nó Việc nhận thức mâu thuẫn là điều cần thiết và phải khách quan Trong hoạt động thực tiễn, phải xác định được trạng thái chín muồi của mâu thuẫn đê kịp thời giải quyết Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có điều kiện chín muồi, cho nên không được nóng vội giải quyết khi chưa có điều kiện chín muồi và không để việc giải quyêt mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát
- Quy luật thứ ba: quy luật phủ định của phủ định.
+ Nội dung quy luật: phủ định của phủ định là khái niệm dược dùng để chỉ sự vận động, phát triển của sự vật thông qua hai lần phủ định biện chứng, kết quả là quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng coa hơn Phủ định hai lần khiến cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình Những lần phủ định tiếp theo sẽ hình thành sự vật mới mang những đặc trưng của sự vật ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn
Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển và đồng thời cũng là điểm xuất phát của một chu kỹ phát triển tiếp theo tạo ra đường xoắn ốc của sự phát triển Môi trường mới của đường xoắn ốc thể hiện một trình độ cao hơn sự phát triển
Trong thực tế, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật có thể gồm nhiều lần biện chứng
+ Ý nghĩa của quy luật: đây là cơ sở để hiểu sự ra đời của cái mới
và mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống thái độ phủ định sạch trơn và phải biết sàng lọc những gì tích cực của cái cũ Phát triển không phải là đường thẳng mà theo đương xoắn ốc đi lên tức là có nhiều khó khăn phức tạp trong quá trình vận động phát triển
1.4 Vai trò của phép biện chứng duy vật.
Xuất pháp từ các ưu điểm tiến bộ của mình, phép biện chứng duy vật trở thành một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời nó là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Từ đặc trưng và vai trò nêu trên, ta thấy phép biện chứng duy vật tồn tại dựa trên các nguyên lý cơ bản Làm sáng tỏ và phong phú thêm những quy luật thể hiện hai nguyên lý này chính là đối tượng của phép biện chứng duy vật
Trang 7Discover more from:
KTCT01
Document continues below
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin
Đại học Kinh tế Quốc dân
Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1
17
Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)
14
Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (133)
63
KTCT - Tài liệu ôn tự luận
57
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nayKinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)
16
Trang 82 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
2.1 Khái niệm về mối liên hệ phổ biến.
“ Liên hệ ” được hiểu là quan hệ giữa hai đối tượng nếu mộttrong số chúng có sự thay đổi nhất định thì sẽ làm đối tượng kia cũng
có sự biến đổi Ngược lại với liên hệ là sự cô lập, tách rời là một trạngthái của các đối tượng, khi sự thay đổi của đối tượng này không làmảnh hưởng gì đến các đối tượng khác
Ví dụ về liên hệ như công cụ lao động liên hệ trực tiếp với đối tượng laođộng: Những thay đổi của công cụ lao động luôn gây ra những thay đổixác định trong đối tượng lao động mà các công cụ đó tác động lên Và
sự biến đổi của đối tượng lao động cũng sẽ gây ra những biến đổi ở cáccông cụ lao động Mọt ví dụ điển hình như ở thời kỳ nguyên thủy, conngười chỉ có thể săn bắt, hái lượm nhưng đến khi công cụ lao động nhưcày, cuốc xuất hiện đã tác động mạnh mẽ làm thay đổi đối tượng laođộng là đất đai Từ đó con người bắt đầu hoạt động trồng trọt để tạo rasản phẩm nông nghiệp phục vụ đời sống của mình Khi đối tượng laođộng bị biến đổi như đất đai khô cằn thì công cụ lao động cũng thayđổi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh như sự xuất hiện của máy cày,máy xới để phục vụ nông nghiệp
“ Mối liên hệ ” là một loại phạm trù của triết học dùng để chỉ mốiràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố,
Trang 9bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Kháiniệm về “ mối liên hệ phổ biến ” (Tên tiếng anh là CommonConnections) dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, chỉ nhữngmối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới hay nói cáchkhác mối liên hệ phổ biến được dùng với hai nghĩa cơ bản đó là dùng
để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, dùng để chỉ sự khái quátnhững mối liên hệ có tính chất phổ biến nhất
Giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệđặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở phạm vi nhất định.Đồng thời cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đónhững mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biếntrong những điều kiện nhất định Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù vàphổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại,tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong thế giới tựnhiên, xã hội và tư duy
2.2 Cơ sở khoa học mối liên hệ phổ biến.
Người theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng cái quyết định mối quan hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay do
ý thức cảm giác của con người Đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan, Bécơli cho rằng cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Hêghen xuất phát từ lập trường duy tâm khách quan lại vạch ra rằng “ý niệm tuyệt đối” là nền tảng của mối liên
hệ giữa các sự vật hiện tượng
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vât và hiện tượng Các sự vật, hiện
Trang 10tượng tạo thành thế giới dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng dều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất- thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong
sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở
đó triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng đểchỉ sự quy định sự tác động qua lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
Các sự vật hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sựvận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Bản chất tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tácđộng của chúng đối với sự vật, hiện tượng khác Chúng ta chỉ có thể đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một con người cụ thể thông qua mối liên hệ, sự tác động của con người đó đối với người khác, đối với xã hội và tự nhiên thông qua hoạt động của chính người ấy Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi chúng được con người vận dụng vào hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chính con người.Nguyên lý này được dựa trên một khẵng định trước đó của triết học Mác-Lênin là khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vât và hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng dều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất- thế giới vật chất Engels đã nhấn mạnh điều này
“ Tính thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng sự phát triển lâu dài và khó khăn của Triết học và khoa học tự nhiên”
Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong
sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở
đó triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng đểchỉ sự quy định sự tác động qua lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
2.3 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý của mối liên hệ phổ biến được dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ cụ thể để hiểu hơn về nội dung này đó là khi khẳng định rằng mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, không loại trừ sự vật, hiện tượngnào, lĩnh vực nào
Trang 11Bên cạnh đó thì khái niệm này cũng dùng để chỉ: những liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới (tức là dùng để phân biệt với khái niệm các mối liên
hệ đặc thù chỉ biểu hiện ở một hay một số các sự vật, hiện tượng, hay lĩnh vực nhất định
Cụ thể để minh chứng cho mối liên hệ phổ biến như với mối liên hệgiữa cung và cầu là mối liên hệ phổ biến, tức cũng là mối liên hệchung, nhưng mối liên hệ đó được thể hiện cụ thể khác nhau, có tínhchất đặc thù tuỳ theo từng loại thị trường hàng hoá, tuỳ theo thời điểmthực hiện… Khi nghiên cứu cụ thể từng loại thị trường hàng hoá, khôngthể không nghiên cứu những tính chất riêng có (đặc thù) đó Nhưng dùkhác nhau bao nhiêu thì chúng vẫn tuân theo những nguyên tắc chungcủa mối quan hệ cung cầu
Có nhiều cấp độ, phạm vi của mối liên hệ phổ biến, trong đó phép biệnchứng duy vật với tư cách là khoa học triết học có nhiệm vụ nghiên cứucác mối liên hệ phổ biến nhất, làm tiền đề phương pháp luận chungcho việc nghiên cứu các mối liên hệ cụ thể trong từng lĩnh vực nghiêncứu của các khoa học chuyên ngành; đó là các mối liên hệ như: cáichung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả…
2.4 Tính chất cơ bản của mối liên hệ phổ biến.
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là nhữngtính chất cơ bản của các mối liên hệ
a.Tính khách quan của các mối liên hệ