Hơn nữa, lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách khoa học sự phát triển, vận động lịch sử nối chung của xã hội loài người Song, đứng trước sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đô
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài:
Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội và sự vận dụng của đảng ta hiện nay
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thanh
Mã sinh viên: 11225783
Lớp học phần: LLNL1105(122)_33
HÀ NỘI-2023
1
Trang 2I.Lời mở đầu
hội………
1 Các cách tiếp cận khác nhau về xã hội………
1.1 Cách tiếp cận duy tâm về xã hội………
1.2 Cách tiếp cận duy vật về xã hội………
1.2.1 Quan điểm của các nhà duy vật trước Mác về xã hội………
1.2.2 Quan điểm của Mác về xã hội
………
2 Nội dung khoa học và Cách mạng của học thuyết hình thái KTXH………
2.1.Sản xuất vật chất là nền tảng của sự vận động, phát triển xã hội………
2.2.Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất………
2.3 Quan điểm của Mác về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng…
2.4 Cấu trúc hình thái kinh tế- xã hội………
2.5 Quá trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế- xã hội………
3 Các hình thái kinh tế- xã hội………
4 Ý nghĩa của hình thái kinh tế- xã hội ………
III/ sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế- xã hội của Đảng ta trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa………
1 Sự vận dụng………
1.1.Vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa………
1.2 Vấn đề phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN………
1.3 Vấn đề củng cố và hoàn thiện kiến trúc thượng tầng XHCN ở Việt Nam hiện nay… 2 Thành tựu………
3 Hạn chế………
2
Trang 34 Giải pháp khắc phục……… IV/ Kết luận………
I/ LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận về hình thái kinh tế- xã hội được Mác và Ăng-ghen phát hiện vào những năm
40 của thế kỉ XIX, được Lê-nin kế thừa, phát triển và vận dụng vào cuộc Cách mạng tháng 10 Nga Lý luận về hình thái kinh tế – xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử có vị trí quan trọng trong triết học Mác Nhờ đó, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ
rõ được bản chất của từng chế độ xã hội Hơn nữa, lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách khoa học sự phát triển, vận động lịch sử nối chung của xã hội loài người Song, đứng trước sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, lý luận hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác bị cho rằng là đã lỗi thời trong thời đại ngày nay, thậm chí bị bôi nhọ, chống phá, công kích từ nhiều phía.Hiện nay, những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu như sự phát triển khoa học công nghệ, chiến trnah cục bộ, xung đột tôn giáo, ô nhiễm môi trường, đòi hỏi mỗi người chúng ta cùng chung tay giải quyết Chính vì vậy làm rõ thực chất lý luận hình thái kinh tế – xã hội, giá trị khoa học
và tính thời đại của nó đang là một đòi hỏi cấp thiết
Tổng kết 30 năm đổi mới, Đảng ta rút ra một số bài học mà bài học số một là: “Trong quá trình đổi mới, phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…”
Vận dụng lý luận hình thái kinh tế – xã hội, chưng minh công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một tất yếu khách quan Tại đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc lần XI, Đảng ta khẳng định việc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuấ hiện đại, quan hệ sản xuẩt tiến bộ, phù hợp, nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Chính vì có ý nghĩa thiết thực về cả lí luận và thực tiễn, nên em lựa chọn đề tài “ Học thuyết hình thái kinh tế xã hội và sự vận dụng của Đảg ta trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” cho bài tiểu luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu
3
Trang 4Mục đích nghiên cứu của đề tài là trình bày một cách khái quát lịch sử hình thành
cũng như nội dung và ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế xã hội, đồng thời chứng
minh lý luận đó vẫn giữ nguyên giá trị
II/HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ- XÃ HỘI
1 Các cách tiếp cận khác nhau về xã hội
1.1.Phương pháp duy tâm
Trong nho giáo, có thuyết nhân trị là là quan niệm đạo đức - chính trị, chủ trương việc trị quốc căn bản phải dựa vào đức nhân của người cầm quyền mà không phải dựa vào pháp luật như phái pháp gia chủ trương để cai trị xã hội
Đường lối nhân trị của Nho giáo chính là đường lối nhân văn, mặc dù có giá trị nhân văn sâu sắc song vẫn mang tính “ không tưởng “, thuộc về chủ nghĩa duy tâm chủ quan Bởi cách tiếp cận này không phản ánh được vai trò của nhân tố kinh tế, quan hệ kinh tế-vật chất, không xuất phát từ nền sản xuất, sự vận động của xã hội, mà tin rằng có thể xây dựng một xã hội mới chủ yếu thông qua con đường giáo dục
Xét ở lịch sử Việt Nam, có quan điểm cho rằng việc đất nước rơi vào tay thực dân Pháp là do ý chí của người lãnh đạo Cuối thời Nguyễn, vua quan ăn chơi sa đoạ, không chăm lo đến sản xuất vật chất, đời sống của người dân khiến cho đất nước bị suy yếu Thực dân Pháp đã nhanh chóng chớp được thời cơ đó để xâm lược nước ta
Theo Hê-ghen, mọi vấn đề của xã hội đều xuất phát từ ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối, thuộc chủ nghĩa duy tâm khách quan Có những câu tục ngữ phản ánh điều này như : “ Sống chết có mệnh, giàu sang do đời”; “ Cha mẹ sinh con, trời sinh tính “, Mặc dù nói lên được sự độc lập của nhận thức con người, song có phần đối lập với khoa học và kìm hãm sự phát triển của xã hội
Suy cho cùng, các nhà duy tâm cho rằng Trong giới tự nhiên, thì tính quy luật, tính tất nhiên thống trị Sự thay đổi của ngày đêm, sự thay đổi của bốn mùa, sự biến hóa của khí hậu và những hiện tượng không phụ thuộc vào ý và chí và ý thức của người ta, còn những sự kiện lịch sử thì do hoạt động tự giác và ý chí của người ta, trước hết là của những nhân vật lịch sử, những lãnh tụ, anh hùng quyết định ; ý chí của người ta có thể thay đổi tiến trình lịch sử
Quan điểm này có những thiếu sót căn bản, đó là không vạch ra được bản chất và nguyên nhân vật chất của những hiện tường xã hội; không tìm ra những quy luật phổ
4
Trang 5biến chi phối sự vận động và phát triển của xã hội; không thấy vai trò quyết định của quân chúng nhân dân trong lịch sử
1.2.Quan niệm duy vật
Các nhà duy vật trước Mác đã mang đến những bước tiến rất dài trong nhận thức về
xã hội Họ phê phán việc thổi phồng vai trò của tư tưởng, ý thức, tinh thần, năng lực siêu nhiên và tìm ra yếu tố quyết định mọi vấn đề xã hội chính là kinh tế Nhưng họ bị cầm tù bởi phương pháp tư duy siêu hình, họ chưa thấy mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế- vật chất, sự vận động của hệ thống các quy luật khách quan trong việc nghiên cứu xã hội, tiếp cận xã hội và giải thích sự vận động, biến đổi, của xã hội
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mác đã lấy con người làm xuất phát điểm cho học thuyết của mình Đó không phải con người trừu tượng, con người biệt lập, cố định, phi lịch sử mà là con người hiện thực đang sống,hoạt động, con người của tự nhiên và
xã hội, của hoạt động sản xuất, tái sản xuất ra đời sống hiện thực cho mình
Theo ông, bản thân con người khác với động vật là khi con người bắt đầu sản xuất ra các tư liệu sản xuất, phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của mình Ông viết: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa” Như vậy, tiền đề đầu tiên cho sự tồn tại của con người là việc sản xuất vật chất
Cuộc sống con người tiến hóa từ thời cổ đại đến hiện nay thông qua quá trình sản xuất vật chất mà tồn tại được Con người phải sản xuất vật chất như nông – lâm – ngư – công nghiệp, xây dựng,… trồng trọt, chăn nuôi giúp cung cấp lương thực , thực phẩm cho con người tồn tại và phát triển đi lên Bên cạnh đó, con người cũng sản xuất vật chất không ngừng để thay đổi bản thân và cả thế giới Từ việc săn bắt, hái lượm bằng tay con người dần dần biết tạo vũ khí để sản xuất; sau đó tiến bộ đến ngày nay là sản xuất vật chất quy mô công nghiệp lớn
2 Nội dung khoa học và Cách mạng của học thuyết hình thái KTXH
2.1.Sản xuất vật chất là nền tảng của sự vận động, phát triển xã hội
Theo Mác, “Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người”.
Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, quyết định sự tồn tại và phát triển của
xã hội Vì vậy, xuất phát từ con người hiện thực, trước hết phải xuất phát từ sản xuất để
đi tới các mặt khác của xã hội, tìm ra các quy luật vận động phát triển khách quan của
xã hội Mác đã phát hiện ra trong sản xuất có hai mặt không thể tách rời nhau Một mặt,
là quan hệ giữa người với tự nhiên, mặt khác là quan hệ giữa người với người
Bất cứ quá trình sản xuất nào cũng được tiến hành với một cách thức xác định, gọi là phương thức sản xuất hai mặt của phương thức sản xuất là lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quả
5
Trang 6trình tác động vào thiên nhiên để tạo ra của cải vật chất nó còn thể hiện mối quan hệ giữa tự nhiên và con người lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động trình độ phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ năng lực lao động
xã hội
Trước hết, sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt cho con người,
duy trì sự tồn tại và phát triển của con người
Sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt của con
Sản xuất vật chất là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người
Thứ hai, sản xuất vật chất là cơ sở hình thành nên quan hệ kinh tế - vật chất giữa
người với người , là tiền đề để hình thanh nên câc qan hệ xẫ hội khác như tư tưởng, chính trị, đạo đức, tôn giáo, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng,… thúc đấy phát triển
xã hội
Thứ ba, sản xuất vật chất đã tạo điều kiện, phương tiện bảo đảm cho hoạt động tinh
thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sản xuất tinh thần của xã hộira bản thân con người
Thứ tư, con người hình thành ngôn ngữ, nhận thức, tư duy tinh cảm, đạo đức… nhờ
hoạt động sản xuất vật chất
Thứ năm, sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản, quyết định nhất đối với sự hình thành,
phát triển phẩm chất xã hội của con người
Nhờ lao động sản xuất, con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hòa nhập với
Vì vậy muốn nhận thức và cải tạo, phát triển xã hội, phải xuất phát từ đời sống sản,
xuất, nền sản xuất vật chất xã hội hơn nữa, chúng ta không thể dùng tinh thần để cải thiện đời sống tinh thần
2.2.Quan điểm của Mác về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Bất cứ một quá trình sản xuất, vật chất nào cũng diễn ra với sự tồn tại “song trùng” của hai mối quan hệ cơ bản, đó là: mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với nhau Khái niệm lực lượng sản xuất và khái niệm quan hệ sản xuất phản ánh hai mối quan hệ song trùng ấy,
Trong tuyên ngôn của đảng cộng sản (2 - 1948), C Mác và PH Ănggghen nêu rõ:
"Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chứ đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại" trong thực tiễn, chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, chính sản xuất hàng hóa với quy mô lớn và quan hệ thị trường đã phá vỡ quan hệ sản xuất phong kiến và hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,
Lực lượng sản xuất tác động đến quan hệ sản xuất như sau:
Thứ nhất, quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lượng
sản xuất quyết định; khi một phương thức sản xuất mới ra đời thì quan hệ sản xuất sẽ phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đó;
6
Trang 7Discover more from:
KTCT01
Document continues below
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin
Đại học Kinh tế Quốc dân
999+ documents
Go to course
Phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động tích cực đối với Việt Nam
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (48)
12
Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 99% (69)
17
Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)
14
Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (134)
63
KTCT - Tài liệu ôn tự luận
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (65)
57
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)
16
Trang 8Thứ hai, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định sẽ làm cho
quan hệ sản xuất từ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển này, thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới thì phương thức sản xuất mới ra đời thay thế cho cái cũ
Quan hệ sản xuất tác động đến lực lượng sản xuất, cụ thể như sau:
Thứ nhất, sự hình thành, biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất;
Thứ hai, quan hệ sản xuất gây ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, chất lượng
và hiệu quả của quá trình sản xuất, cải tiến công cụ lao động Sự tác động này có thể diễn ra theo hai hướng : Tích cực là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nếu nó phù hợp, còn tiêu cực là kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó không còn phù hợp
Thứ ba, quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì
nó trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển và ngược lại
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác động lẫn nhau, như sau:
Một là, sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
xã hội hợp thành phương thức sản xuất Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất Sự tác động của nó trong lịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái xã hội cao hơn
Hai là, quan hệ sản xuất thường xuyên vận động, phát triển nên qun hệ sản xuất cũng
luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất
2.3.Quan điểm của Mác về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hê sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế xã hội nhất định
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm những quan hệ sản xuất thống trị, quan
hệ sản xuất tồn dư của xã hội trước và quan hệ sản xuất là mầm mống của xã hội sau Những đặc trưng do tính chất của cơ sở hạ tầng là do quan hệ sản xuốt thống trị quy định Trong xã hội có giai cấp đối kháng, tính chất giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong cơ sở hạ tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng
và những quan hệ nội tại của chúng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định Các yếu tố kiến trúc thượng tầng tác động qua lại lẫn nhau và đều nảy sinh trên cơ sở hạ
7
Trang 9tầng Trong đó các tổ chức chính trị, pháp luật còn các yếu tố triết học, nghệ thuật, tôn giáo
Sự tác động qua lại của hai yếu tố này cụ thể là:
thứ nhất, mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng nếu cơ sở hạ
tầng không có tính đối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng không có như trong xã hội nguyên thuỷ, cơ sở hạ tầng không đối kháng về lợi ích kinh tế nên kiên trúc thượng tầng chưa có nhà nước, pháp luật
thứ hai, cơ sở hạ tầng biến đổi thì kiến trúc thượng tầng cũng biến đổi theo, nhưng
diễn biến phưc tạp Chẳng hạn, cơ sở hạ tầng phong kiến biến đổi thành tư bản thì chế
độ chính trị, pháp luật, có những lĩnh vực như nghệ thuật, tôn giáo biến đổi chậm hoặc vẫn kế thừa
thứ ba, kiến trúc thượng tầng độc lập tương đối và thường tác động trở lại với cơ sở
hạ tầng như khi quan hệ sản xuất vô sản thống trị, cần thiết lập nhà nước vô sản để bảo
vệ, phát triển xã hội sở hữu tập thể
thứ tư, sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra
theo hai chiều Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy
luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát
triển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm
phát triển xã hội
2.4.Cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội
Theo phương pháp tiếp cận duy vật của Mác, xã hội là một hệ thống cấu trúc với ba lĩnh vực cơ bản tạo thành là:
1) toàn bộ các lực lượng sản xuất phát triển ở một trình độ nhất định; 2) quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất;
3) kiến trúc thượng tầng được xác lập trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó Theo mô tả đó của Mác, có thể xác định khái niệm hình thái kinh tế-xã hội, với tư cách
là một phạm trù cơ bản của hệ thống quan điểm duy vật về lịch sử, được dùng để chỉ mỗi xã hội cụ thể trong tiến trình phát triển của nó, được đặc trưng bởi một kiểu quan hệ sản xuất, phù hợp vái một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tâng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy 2.4 Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế- xã hội
Sự vận động của hình thái kinh tế- xã hội mang tính lịch sử do chịu sự chi phối của các quy luật kahsch quan, lịch sử xã hội làoi người là một quy trình nối tiếp nhau từ
8
Trang 10thấp đến cao các hình thái kinh tế- xã hội : cộng sản nguyên thuỷ- chiếm hữu nô lệ-phong kiến- tư bản chủ nghĩa- xã hội chủ nghĩa
Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời là tất yếu khách quan, nó phải thông qua đấu tranh giai cấp, mà đỉnh cao là cách mạng xã hội chủ nghĩa Sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội bị chi phối bởi tính phổ biến và tính đặc thù
Tiến trình lịch sửu xã hội loài người là kết quả của sự thống nhất giữua lịch sử và logic Nó bao hàm cả sự phát triển tuần tự đối với phát triển toàn thế giới và sự phát triển “ bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế xã hội đối với một số quốc gia, dân tộc cụ thể, thể hiện Tư tưởng của Lênin về vấn đề bỏ qua một hình thái kinh tế này lên một hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn
3 Các hình thái kinh tế- xã hội
Loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế Mỗi hình thái sau tiến bộ hơn, văn minh hơn hình thái trước
Đầu tiên là hình thái kinh tế tự nhiên (cộng sản nguyên thuỷ ) con người chỉ biết săn bắn hái lượm, ăn thức ăn sống cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Có thể nói đây là thời kỳ sơ khai một thời kỳ mông muội của loài người
Sau đó đến hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu nô lệ, con người đã văn minh hơn họ không còn ăn tươi sống và đã biết lao động tạo ra của cải : xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, bắt đầu phân chia thành kẻ giầu người nghèo Hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô
lệ, quan hệ giữa hai giai cấp đó là quan hệ bóc lột hoàn toàn của cải vật chất và con người Nô lệ biến thành công cụ lao động Vấn đề giai cấp khi lên đến xã hội phong kiến bản chất vẫn là quan hệ bóc lột, nhưng sự bóc lột thể hiện qua sự cống nạp Người nông dân, tá điền phải làm thuê và nộp thuế cho quan lại, địa chủ, song họ có một chút quyền lợi là được tự do
Hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa ra đời đưa loài người lên nấc thang cao hơn của nền văn minh Xã hội đã phong phú hơn về giai cấp Giai cấp thống trị là giai cấp
cơ bản Thủ đoạn bóc lột của chúng tinh vi hơn rất nhiều lần so với sự bóc lột trước đó trong các xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến Người công nhân làm thuê bị bóc lột sức lao động qua giá trị thặng dư, sự làm việc quá sức ….Mặc dù tư bản xã hội chủ nghĩa tạo ra một lượng của cải vật chất rất lớn cho xã hội , nhưng bản chất bóc lột cùng những mâu thuẫn khác nhau là không thể điều hoà Phần đông con người trong xã hội
tư bản chủ nghĩa đều bị mất quyền lợi bình đẳng
Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa ra đời vừa phát huy thừa kế những thành quả, đồng thời khắc phục những mâu thuẫn, những hạn chế của tư bản chủ nghĩa Một xã hội mà quyền lực nằm trong tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động – một tầng lớp đông
9