Lời mở đầuĐể một đất nước có thể phát triển giàu mạnh, nền kinh tế thị trường đóng vai trò chủ chốt bởi đâu là nơi diễn ra những hoạt động sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm, hoạt động t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Đề tài Trình bày nội dung và tác động của quy luật cạnh tranh trong nền :
kinh tế thị trường Vận dụng quan điểm Kinh tế Chính trị Mác-Lenin, phân tích quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường giữa Vinamilk
và Th true MILK
I) Giới thiệu về Vinamilk
II) Tổng quan lý thuyết
III) Thực trạng cạnh tranh của Vianmilk
IV) Giải pháp, đề nghị để nâng cao vị thế cạnh tranh của Vinamilk
HỌ VÀ TÊN: ĐỖ ĐỨC CƯỜNG
MÃ SINH VIÊN: 11221150 LỚP: LLNL1106(222)_18 GIẢNG VIÊN: NGUYỄN THỊ HÀO
Hà Nội, ngày 9, tháng 6, năm 2023
Trang 2Lời mở đầu
Để một đất nước có thể phát triển giàu mạnh, nền kinh tế thị trường đóng vai trò chủ chốt bởi đâu là nơi diễn ra những hoạt động sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm,
hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa từ đóng góp một vai trò không nhỏ trong sự vận động và phát triển nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường ấy, không thể không kể đến một trong những quy luật phổ biến nhất – quy luật cạnh tranh Khi đã tham gia vào thị trường, để có sự tồn tại
và phát triển, không thể thiếu đi sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong bất kì lĩnh vực nào Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đang trở nên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang mở cửa hội nhập, giao lưu với các quốc gia từ nhiều nền kinh tế khác, thu hút nguồn vốn đầu tư
từ nước ngoài, đổi mới, chuyển giao những tiến bộ về khoa học công nghệ, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp trong nước và quốc tế phát triển.Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế từ việc tăng cường hội nhập, thị trường sẽ ngày càng trở nên khốc liệt đòi hỏi sáng tạo liên tục khi một doanh nghiệp vừa phải cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, vừa phải cạnh tranh với những doanh nghiệp lớn từ nước ngoài hay những doanh nghiệp FDI Trong điều kiện khắc nghiệt này, doanh nghiệp sẽ cần nhạy bén ra sao, thay đổi để phù hợp với thị trường như thế nào để đem lại lợi nhuận lớn, phát triển doanh nghiệp mà không được phép sử dụng các biện pháp phi đạo đức, vi phạm pháp luật để thu về lợi nhuận vẫn là một bài toán khó
Để có thể hiểu và vận dụng quy luật tốt hơn trong thực tiễn, em xin phép phân tích
đề tài : “Vận dụng quan điểm Kinh tế Chính trị Mác-Lenin, phân tích quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường giữa Vinamilk và TH true MILK” từ đó chỉ ra
Trang 3tình trạng cạnh tranh trong thị trường sữa, đặc điểm của Vinamilk và giải pháp phù hợp giúp Vinamilk phát triển
I- Giới thiệu khái lược
1.1- Tiền thân, quá trình phát triển Vinamilk
Vinamilk là một trong những doanh nghiệp thành công nhất Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất các sản phẩm từ sữa Danh mục sản phẩm của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, sữa chua ăn và sữa chua uống, kem và phô mai
Vinamilk được thành lập với tiền thân là công ty Sữa - Café Miền Nam thuộc Tổng Công Ty Thực phẩm, với 6 đơn vị trực thuộc:
Nhà máy sữa Thống Nhất
Nhà máy Sữa Trường Thọ
Nhà máy Sữa Dielac
Nhà máy Café Biên Hòa
Nhà máy Bột Bích Chi và Lubico
Tháng 11 Năm 2003 đánh dấu mốc quan trọng công ty chuyển đổi thành Công ty
Cổ phần đổi tên thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Sau đó Công ty thực hiện việc mua thâu tóm
Năm 2005 mua số cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong Công Ty Liên Doanh sữa Bình Định (sau đổi tên thành nhà máy sữa Bình Định) khánh thành nhà máy sữa Nghệ An
Trang trại bò sữa đầu tiên được Vinamilk mua lại từ Trung tâm nhân giống Bò sữa
-Bò thịt cao sản Phú Lâm lấy tên là Công ty TNHH Một thành viên bò sữa Việt Nam
Trang 4Tháng 07/2007, trụ sở chính Công ty được chuyển về TP.Hồ Chí Minh nhằm thuận tiện cho công tác quản lý Trang trại Bò sữa Phú Lâm được đổi tên thành Trang trại
Bò sữa Tuyên Quang
Vào tháng 04/2008, trang trại chăn nuôi Bò sữa thứ 2 của Công ty là Trang trại Bò sữa Bình Định được Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bình Định cấp giấy phép thành lập
và đi vào hoạt động giúp cung cấp nguồn sữa tươi nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất cho các Nhà máy của Vinamilk tại khu vực miền Trung
Đến 09/2009, Trang trại Bò sữa Nghệ An khánh thành và đưa vào hoạt động đã được báo chí và các cơ quan truyền thông đánh giá là trang trại xuất sắc nhất năm
2014, với tổng số vốn hơn 100 tỷ đồng
Tháng 07/2010, Vinamilk mua lại toàn bộ cổ phần tại Công ty Cổ phần Sữa Lam Sơn, trong đó có Trang trại Bò sữa Sao Vàng Sau đó Vinamilk đã bàn giao trang trại này cho Công ty TNHH Một thành viên Bò sữa Việt Nam quản lý Vào tháng 08/2010, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Thanh Hóa đã cấp giấy phép hoạt động và chính thức đổi tên trang trại này thành Trang trại Bò sữa Thanh Hóa
Tháng 04/2012, Trang trại Bò sữa Lâm Đồng đã hoàn tất công tác xây dựng chuồng trại và nhập bò về chăn nuôi Đây là trang trại chăn nuôi bò sữa thứ 5 của Công ty được đưa vào hoạt động
Tháng 12/2013, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Tây Ninh đã cấp giấy phép hoạt động cho Trang trại Bò sữa Tây Ninh, trang trại có quy mô 8.000 con bò sữa được đặt tại huyện Bến Cầu (tỉnh Tây Ninh)
Trong năm 2014 và giai đoạn tiếp theo, Công ty tiếp tục triển khai các dự án trang trại mới như Trang trại Bò sữa Hà Tĩnh (quy mô 2.000 con); Dự án Trang trại Bò sữa Thanh Hóa 2 (quy mô 2.000 con) và Dự án Công ty TNHH Bò sữa Thống Nhất Thanh Hóa có quy mô 16.000 con
Trang 5Doanh nghiệp đã đạt được các thành tích cao quý như:
Huân chương lao động Hạng II (1991)
Huân chương lao động Hạng I (1996)
Anh Hùng Lao động (2000)
Huân chương Độc lập Hạng III (2005)
Huân chương Độc lập Hạng II (2009)
Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao (từ 1995 đến nay)
Top 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam (2016-2020)
Top 10 doanh nghiệp phát triển bền vững (2016)
Top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam
Giai đoạn 2013-2014 doanh thu công ty tăng trưởng bình quân 14% Đa phần sản phẩm được sản xuất tại chín nhà máy với tổng công suất khoảng 570.406 tấn sữa mỗi năm Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu “Vinamilk”, thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng” trong top 100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006
1.2- Thị trường Vinamilk
Thị trường chính của Vinamilk là thị trường trong nước Vinamilk đã xây dựng một
vị thế mạnh mẽ trong ngành công nghiệp sữa của Việt Nam và trở thành một trong những thương hiệu sữa hàng đầu trong nước Công ty đã tận dụng lợi thế về nguồn nguyên liệu sữa từ nông dân Việt Nam và quản lý chuỗi cung ứng sữa chặt chẽ để cung cấp sản phẩm sữa chất lượng cao đến người tiêu dùng trong nước
Vinamilk đã phát triển mạnh mẽ và sở hữu một mạng lưới phân phối rộng khắp cả nước, bao gồm các kênh bán lẻ, siêu thị, cửa hàng tiện lợi và kênh phân phối qua mạng lưới đại lý Công ty không chỉ tập trung vào sữa tươi và sữa bột mà còn mở rộng sản xuất và phân phối các sản phẩm từ sữa khác như sữa chua, bơ, sữa chua uống, nước giải khát từ sữa, và thực phẩm chức năng
Trang 6Ngoài thị trường trong nước, Vinamilk cũng đã mở rộng hoạt động kinh doanh ra nhiều quốc gia khác Các thị trường quốc tế mà Vinamilk đã tham gia bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia và các nước trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, thị trường trong nước vẫn là thị trường chính của Vinamilk và đóng góp lớn vào doanh thu và lợi nhuận của công ty
II- Tổng quan lý thuyết liên quan vấn đề nghiên cứu
*Quy luật cạnh tranh
Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hoá, yêu cầu các chủ thể khi tham gia vào thị trường, bên cạnh sự hợp tác, luôn phải chấp nhận sự cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được những ưu thế về sản xuất cũng như tiêu thụ qua đó thu được lợi ích tối đa
Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế:
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các chủ thể kinh trong
cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hoá hoặc dịch vụ
o Biện pháp cạnh tranh: các doanh nghiệp ra sức cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho giá trị hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó
o Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá trị thị trường của từng loại hàng hóa Cùng một loại hàng hoá sản xuất bởi các doanh nghiệp khác nhau sẽ có giá trị cá biệt khác nhau do điều kiện
Trang 7Discover more from:
KTCT 121
Document continues below
Kinh tế chính trị
Đại học Kinh tế Quốc dân
241 documents
Go to course
KINH TE Chinh TRI
95
Bài Thu Hoạch Kết Thúc Học Phần Cao Cấp Lý Luận Chính Trị
10
Tiểu luận KTCT Trần Ngọc Minh-11213947
11
CHƯƠNG I - Cô Hào
5
CHƯƠNG II - Cô Hào
29
Tiểu luận kinh tế chính trị
19
Trang 8trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề người lao động có sự chênh lệch, nhưng các hàng hoá được trao đổi theo giá thị trường chấp nhận
Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất kinh
doanh giữa các ngành kinh tế khác nhau nhằm tìm kiếm nơi đầu tư có lợi nhất
o Biện pháp cạnh tranh: các doanh nghiệp tự do di chuyển nguồn lực từ ngành này sang ngành khác, vào các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau
Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
Cạnh tranh giữa người sản xuất và người tiêu dùng: Là một sự mặc cả theo
luật mua rẻ - bán đắt khi cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích
Cạnh tranh giữa người tiêu dùng và người tiêu dùng: Xảy ra khi mức cung
nhỏ hơn cầu của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ Lúc này hàng hoá trên thị trường khan hiếm, người tiêu dùng sẵn sàng mua hàng với mức giá cao Mức
độ cạnh tranh giữa những người tiêu dùng trở nên gay gắt hơn
Cạnh tranh giữa người sản xuất với người sản xuất: Đây là sự cạnh tranh
quyết liệt nhất trong nền kinh tế thị trường hiện nay Các doanh nghiệp luôn phải ganh đua để giành cho mình những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, như vốn, lao động, nguồn nguyên liệu, thị trường
Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Những tác động tích cực:
Thúc đẩy sự phát triển sản xuất, trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh
doanh không ngừng tìm kiếm và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, từ đó kéo theo sự đổi mới về trình độ tay nghề, tri thức của người lao động, giúp xã hội phát triển
Trang 9 Thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường, mọi hành vi của các chủ thể kinh tế
đều hoạt động trong môi trường cạnh tranh hơn, ngoài hợp tác, họ phải cạnh tranh để có được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất từ đó giúp nền kinh
tế hoàn thiện
Điều chỉnh linh hoạt phân bổ các nguồn lực, các chủ thể sản xuất kinh doanh
phải thực hiện cạnh tranh để cơ hội sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sản xuất kinh doanh
Thúc đẩy năng lực thoả mãn nhu cầu của xã hội, chỉ có những sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng lựa chọn thì mới bán được và có lợi nhuận Những người sản xuất phải tìm mọi cách tạo ra khối lượng sản phẩm đa dạng, dồi dào, phong phú, chất lượng tốt, giá thành thấp
Những tác động tiêu cực:
Tổn hại môi trường kinh doanh, khi các chủ thể thực hiện biện pháp cạnh
tranh thiếu lành mạnh dẫn đến xói mòn môi trường kinh doanh và giá trị đạo đức xã hội
Lãng phí nguồn lực xã hội, chủ thể chiếm giữ các nguồn lực mà không phát
huy vai trò của chúng trong sản xuất kinh doanh, không đưa vào sản xuất để tạo
ra hàng hoá (số lượng ít để đẩy giá hàng hoá lên cao)
Tổn hại phúc lợi xã hội, khi cạnh tranh không lành mạnh, xã hội sẽ có ít cơ hội
lựa chọn để thoả mãn nhu cầu hơn
III- Thực trạng cạnh tranh của công ty
3.1 Thực trạng Vinamilk giai đoạn 2013-2014
Nghiên cứu, khảo sát do Tạp chí Nhịp cầu đầu tư thực hiện đã cho ra kết quả là có
50 doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả nhất Việt Nam năm 2013 Theo kết quả công
bố, đứng đầu danh sách các doanh nghiệp kinh doanh tốt nhất là Công ty CP CNG
Trang 10Việt Nam, kế sau đó là Vinamilk, Công ty CP thiết bị y tế Việt Nhật, Công ty CP Cao su Đồng Phú, Vinacafe
Trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức, Vinamilk vẫn tăng trưởng
và phát triển vững mạnh, duy trì tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu, đặc biệt là nộp ngân sách nhà nước, giữ vững thị trường nội địa và phát triển thị trường xuất khẩu
Năm 2013, doanh thu đạt hơn 27.000 tỷ đồng; xuất khẩu gần 180 triệu USD; lợi nhuận trước thuế đạt gần 7.000 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước gần 3.000 tỷ đồng; giá trị vốn hóa trên thị trường khoảng 5 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân 30% 5 năm liên tục
Thống kê tại thời điểm 2014 cho thấy Vinamilk chiếm 75% thị phần sữa đặc có đường, 90% thị phần sữa chua, 50% thị phần sữa tươi và 30% thị phần sữa bột của Việt Nam Các sản phẩm có mặt tại 26 quốc gia trên thế giới, 50% sản lượng sữa bột của Vinamilk được xuất khẩu ra nước ngoài, chiếm 70% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Vinamilk
3.2 Đặc thù cạnh tranh Vinamilk
Công nghệ:
Nhà máy Sữa Việt Nam được trang bị dây chuyền sản xuất sữa tươi tiệt trùng với thiết bị hiện đại, dây chuyền khép kín và công nghệ sản xuất tiên tiến hàng đầu Nhà máy sở hữu dây chuyền sản công nghệ phun sấy Niro của Đan Mạch giúp mang lại nguồn sản phẩm vượt trội về chất lượng và độ an toàn
Sản phẩm tươi ngon trong 6 tháng không cần bảo quản
Dấu ấn thương hiệu mạnh mẽ
Trang 11Vinamilk được người tiêu dùng công nhận là 1 trong 10 thương hiệu Việt Nam chất lượng cao So với các doanh nghiệp cung cấp sữa khác, Vinamilk đã trải qua gần 40 năm xây dựng và phát triển, thương hiệu sữa này từ lâu đã có một vị thế vững mạnh trong lòng khách hàng Việt
Sản phẩm “phủ sóng đất nước”
Thương hiệu sữa Vinamilk hầu như đã trải dài khắp mọi tỉnh thành Việt Nam Ngoài ra, với chất lượng tối ưu, sản phẩm của Vinamilk còn được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Với mạng lưới rộng, sản phẩm sữa Vinamilk luôn nhận được
sự đón nhận của người tiêu dùng
Nguồn tài chính mạnh mẽ
Thương hiệu Vinamilk sở hữu nguồn vốn ổn định và an toàn, đảm bảo khả năng tự chủ tài chính Tài chính dồi dào cũng là một trong các điểm mạnh hàng đầu của thương hiệu So với các doanh nghiệp phải chật vật vì lãi suất vay, Vinamilk luôn tạo ra doanh thu từ nhiều nguồn lợi khác
3.3 Cạnh giữa Vinamilk và TH true MILK giai đoạn 2013-2014
Về hình thức trang trại:
Vinamilk: vốn chủ yếu thu mua sữa từ các trang trại liên kết với người nông dân và
nhập khẩu nguyên liệu
TH true Milk: chiến lược đầu tư quy mô khép kín, trang trại tập trung, cùng số
lượng đàn bò gia tăng nhanh chóng, đánh trúng vào điểm yếu của Vinamilk
Vinamilk ít tự chủ được về nguồn nguyên liệu hơn TH true MILK
Công suất sản xuất, nhà máy:
Trang 12Vinamilk: Trước hết, để khắc phục điểm yếu về nguồn nguyên liệu, Vinamilk tập
trung mở rộng đàn bò Năm 2014 Vinamilk nhập số lượng lớn bò ngoại nhất Đầu năm, Vinamilk nhập 5.000 con bò sữa từ Autralia và Mỹ, và tiếp tục nhập thêm 3.000 con đến đầu năm 2015 Cùng với đó, hàng loạt các trang trại nuôi bò đã được Vinamilk đầu tư và đưa vào hoạt động, nâng lên thành 9 trang trại với khoảng 46.000 con, cùng hệ thống hộ chăn nuôi vệ tinh, có tổng số khoảng 80.000 con, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu sữa tươi nguyên liệu
Vinamilk cũng đưa vào vận hành nhà máy sữa nước "siêu hiện đại" vào bậc nhất thế giới tại Bình Dương vào tháng 9/2013, có công suất lên tới 800 triệu lít sữa/năm Như vậy, công suất của nhà máy thứ 10 này tương đương với 9 nhà máy của Vinamilk cộng lại
TH True MILK: dù liên tục đầu tư nhưng chưa thể bắt kịp với Vinamilk Mặc dù
đã đạt số lượng đàn bò lên tới 45.000 con, nhưng số lượng sữa sản xuất ra tại TH true Milk đạt mức 400 tấn/ngày, trong khi của Vinamilk là 500 tấn/ngày
Năm 2014, TH true MILK đã mở rộng đàn bò với các dự án được thực hiện tại các tỉnh Đăk Lăk, có quy mô khoảng 30.000 con bò sữa và tại Thanh Hoá là 20.000 con Nhà máy của TH true MILK cũng khánh thành vào tháng 7/2013, được xem là
có quy mô lớn nhất Đông Nam Á, song tổng công suất thiết kế vẫn thấp hơn Vinamilk với 500 triệu lít sữa/năm
Về thị phần sữa/ sản phẩm:
TH True MILK: Thương hiệu này cũng vươn lên chiếm lĩnh thị phần và trở thành
một trong ba doanh nghiệp có vị trí lớn nhất trong thị trường sữa nước, chiếm khoảng 7,7% thị phần thị phần sữa tươi khoảng 40%