Việc nghiên cứu về các thành phần kinh tế này thực chất là phân tích về các quan hệ lợi ích giữa những nhà tư bản với nhau, giữa nhà tư bản với địa chủ trong việc phân chia giá trị thặng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN
ĐỀ TÀI :
“Lý luận chung về lợi nhuận, lợi tức và địa tô.
Giả sử mình là chủ doanh nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao động của mình? Với người cho vay vốn và với người cho thuê mặt
bằng để làm nhà xưởng?”
Họ và tên: Lê Minh Trang
Khóa: 64
Lớp tín chỉ: LLNL1106(222)_29-Kinh tế chính trị Mác–Lênin MSV: 11226376
Hà Nội, Tháng 6 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN, LỢI TỨC, ĐỊA TÔ 2
1.1 Lý luận chung về lợi nhuận 2
1.1.1 Chi phí sản xuất và bản chất của lợi nhuận 2
1.1.2 Tỷ suất lợi nhuận 3
1.1.3 Tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân 3
1.1.4 Lợi nhuận thương nghiệp 4
1.2 Lý luận chung về lợi tức 4
1.3 Lý luận chung về địa tô 4
II THỰC TIỄN VIỆT NAM 5
III THÁI ĐỘ, TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN 6
IV TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CHỦ DOANH NGHIỆP 7
2.1 Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp với người lao động 8
2.2 Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp với người cho vay vốn 9
2.3 Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp với người cho thuê mặt bằng 9
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
I Ý NGHĨA LÝ LUẬN
Giá trị thặng dư là một yếu tố quan trọng trong lĩnh vực triết học và kinh tế học, là phạm trù chỉ ra mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường C.Mác đã đưa ra lý luận chung về sự chuyển hóa của giá trị thặng dư và các hình thức của nó dưới dạng lợi nhuận, lợi tức và địa tô Việc nghiên cứu về các thành phần kinh tế này thực chất là phân tích về các quan hệ lợi ích giữa những nhà tư bản với nhau, giữa nhà tư bản với địa chủ trong việc phân chia giá trị thặng dư thu được trên cơ sở hao phí sức lao động của người lao động làm thuê Cụ thể hơn, trong khi lý luận chung về lợi nhuận cho chúng ta nhận biết được mục đích chính của hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì lý luận chung về lợi tức sẽ phản ánh mối quan hệ giữa đối tượng cho vay và đi vay, còn lý luận chung về địa tô phân tích quan hệ của nhà tư bản kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và địa chủ cho thuê đất
II Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Trong suốt 36 năm qua, Việt Nam từ một đất nước kém phát triển, chịu sự tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, quan hệ ngoại giao hạn chế,… nay đã vươn lên trở thành một quốc gia hòa bình, ổn định; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; đặc biệt có nền kinh tế đang phát triển Để đạt được những thành tựu này, ta không thể bỏ qua tầm quan trọng của các công trình nghiên cứu và vận dụng các lý luận chung về giá trị thặng dư, bao gồm lợi nhuận, lợi tức và địa tô trong thực tiễn Bởi đó chính là cơ sở khoa học để ta xây dựng nên các chính sách kinh tế phù hợp và hiệu quả cho nước nhà Và bước vào thời kì mới, thời kì của công nghệ, của toàn cầu hóa, thế hệ trẻ cần tiếp tục học hỏi, tiếp thu những nền tảng cốt lõi này, dựa vào đó để sáng tạo và phát triển những ý tưởng kinh tế mới, đưa nền kinh tế ngày một tiến bộ hơn, giàu mạnh hơn
Trang 4NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN, LỢI TỨC, ĐỊA TÔ
1.1 Lý luận chung về lợi nhuận
1.1.1 Chi phí sản xuất và bản chất của lợi nhuận
Để làm rõ bản chất của lợi nhuận, C Mác đi từ việc phân tích chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là khoản chênh lệch giữa giá trị hàng hóa đã bán được và giá trị tư bản đã ứng ra từ trước để sản xuất hàng hóa ấy Trước hết, đây là nhân tố bù đắp
tư bản về giá trị và hiện vật, cụ thể là giá cả của những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng
và giá cả của sức lao động đã được sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hóa, từ đó đảm bảo cho điều kiện tái sản xuất Đồng thời, chi phí sản xuất còn là căn cứ quan trọng cho cạnh tranh về giá cả bán hàng giữa các nhà tư bản
Lợi nhuận
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn giá trị hàng hóa, nên sau khi bán hàng hóa (bán ngang giá), nhà tư bản không những bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra
mà còn thu được số tiền lời bằng giá trị thặng dư Số tiền này được gọi là lợi nhuận Thực chất, C.Mác từng khái quát: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận.” Điều đó có nghĩa, lợi nhuận chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặt nền kinh tế thị trường Nhà tư bản chỉ cần bán hàng hóa với giá cả cao hơn chi phí sản xuất là đã có lợi nhuận Ngay cả khi bán hàng hóa thấp hơn giá trị nhưng chỉ cần lớn hơn chi phí sản xuất thì nhà tư bản cũng có thể thu được lợi nhuận Nhưng lúc này, lợi nhuận nhỏ hơn giá trị thặng dư Trong trường hợp bán đúng bằng chi phí sản xuất là không có lợi nhuận Tóm lại, lợi nhuận chính là mục tiêu, động cơ, động lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
1.1.2 Tỷ suất lợi nhuận
Trang 5Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của tư bản ứng trước.
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mức doanh lợi đầu tư tư bản và thể hiện đầy đủ mức độ hiệu quả kinh doanh hơn Chính vì vậy, tỷ suất lợi nhuận đã trở thành động
cơ hàng đầu của hoạt động cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Tìm ra cách thức để đạt được tỷ suất lợi nhuận cao nhất, các nhà tư bản mới có thể làm giàu và làm giàu nhanh
Tỷ suất lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi tỷ suất giá trị thặng dư, cấu tạo hữu cơ tư bản, tốc độ chu chuyển của tư bản và tiết kiệm tư bản bất biến
1.1.3 Tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Những điều kiện sản xuất đa dạng ở nhiều ngành sản xuất kinh doanh đã tạo nên sự khác nhau về tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành Các doanh nghiệp sẽ dựa vào
tỷ suất lợi nhuận để rút vốn từ ngành có tỷ suất thấp và đầu tư vào ngành có tỷ suất cao hơn Đây gọi là hiện tượng tự do di chuyển vốn sản xuất kinh doanh Sự tự do di chuyển vốn vào các ngành chỉ tạm dừng lại khi tỷ suất lợi nhuận ở tất cả các ngành đều xấp xỉ bằng nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
Lợi nhuận bình quân
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, lợi nhuận bình quân là lợi nhuận thu được theo tỷ suất lợi nhuận bình quân Khi lợi nhuận bình quân trở thành quy luật phổ biến chi phối các hoạt động kinh doanh thì giá trị của hàng hóa chuyển hóa thành
giá cả sản xuất Giá cả sản xuất là giá cả mang lại lợi nhuận bình quân.
1.1.4 Lợi nhuận thương nghiệp
Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra khi nhà tư bản sản xuất hàng hóa bán cho tư bản thương nghiệp với giá cả cao hơn chi phí sản xuất, để sau đó tư bản thương nghiệp bán hàng hóa thay cho mình, với giá hàng hóa đúng với giá trị của chính nó
Trang 61.2 Lý luận chung về lợi tức
Người đi vay dùng số tiền nhàn rỗi của người cho vay để đầu tư và thu về lợi nhuận bình quân, do đó người đi vay phải khấu trừ một phần của lợi nhuận bình quân nhận được, chính là lợi tức, để trả cho người cho vay Về thực chất, lợi tức đó là một phần của giá trị thặng dư mà người đi vay đã thu được thông qua sử dụng tiền vay đó
Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức và tư bản cho vay Tỷ suất lợi tức chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu là tỷ suất lợi nhuận bình quân và tình hình cung cầu về tư bản cho vay
1.3 Lý luận chung về địa tô
Định nghĩa
Bên cạnh lợi nhuận bình quân, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp còn phải thu thêm được một phần giá trị thặng dư dôi ra nữa, tức là lợi nhuận
siêu ngạch, để trả cho địa chủ vì đã thuê đất của họ Vậy là, C.Mác khái quát, địa tô
là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa chủ
Trong thực tiền đời sống kinh tế, địa tô là cơ sở để tính toán giá cả ruộng đất khi thực hiện bán quyền sử dụng đất cho người khác
Các hình thức địa tô
Thứ nhất, địa tô chênh lệch Đây là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận
bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình Trong đó, địa tô chênh lệch I là địa tô mà địa chủ thu được do ruộng đất cho thuê tốt và có độ màu mỡ cao, điều kiện tự nhiên thuận lợi Địa tô chênh lệch II là địa tô mà địa chủ thu được
do mảnh đất cho thuê đã được đầu tư, thâm canh và làm tăng độ màu mỡ của đất
Thứ hai, địa tô tuyệt đối, là phần địa tô mà địa chủ thu được trên mảnh đất cho
thuê, không kể độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi hay do thâm canh Đó là phần lợi nhuận
Trang 7Discover more from:
KTCT01
Document continues below
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin
Đại học Kinh tế Quốc dân
999+ documents
Go to course
Phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động tích cực đối với Việt Nam
12
Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1
17
Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
14
Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin
63
KTCT - Tài liệu ôn tự luận
57
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
16
Trang 8siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị nông sản và giá cả sản xuất chung của nông sản
II THỰC TIỄN VIỆT NAM
Từ sau năm 1986, đất nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh
tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Để có chỗ đứng trên thị trường, các thành phần kinh tế đều phải tìm cách để bù đắp được chi phí và thu lợi nhuận, từ đó
mở rộng quy mô nâng cao tích luỹ vốn Bởi vậy lợi nhuận chính là mục tiêu cao nhất của các nhà kinh tế, là động lực phát triển kinh tế của các nước nói chung và của riêng Việt Nam Tuy nhiên, hiện tại, lợi nhuận không đơn thuần là kết quả của việc
bóc lột sức lao động nữa, mà nó phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa giá bán và giá thành sản phẩm Và trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công nghệ là một yếu tố chủ đạo góp phần gia tăng sự chênh lệch đó, hay chính là gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp Ta có thể thấy rõ sự nâng cấp về mặt kĩ thuật trong dây chuyền sản xuất và trang thiết bị của các doanh nghiệp ngày nay, đi cùng với đó là sự tiến bộ trong sản lượng và chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng của người lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp và toàn xã hội, nhà nước ta đã có những chính sách dài hạn để xây dựng nguồn nhân lực và tạo điều kiện
để trọng dụng nhân tài đúng nơi đúng cách Tóm lại, xuất phát từ đặc điểm định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam ta vừa phải theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, vừa phải giải quyết những vấn đề về môi trường, đời sống xã hội để bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế theo hướng lành mạnh và bền vững, từ đó bắt kịp nhịp độ kinh tế của các nước khác trên thế giới
Nhằm góp phần phát triển nền kinh tế, trong vài năm gần đây, khởi nghiệp đã trở thành một lĩnh vực phổ biến tại Việt Nam, thu hút rất nhiều sự quan tâm từ giới trẻ Tuy nhiên, nguồn vốn vẫn là một trong những rào cản lớn đối với khởi nghiệp, và nhiều startup đã phải bỏ cuộc chỉ vì thiếu tài chính (khoảng 26.3%, theo VCCI 2017) Không chỉ riêng những người khởi nghiệp, những doanh nghiệp đã tham gia thương
Trang 9trường vẫn cần duy trì và mở rộng quy mô sản xuất, và họ thường thông qua việc mua bán cổ phiếu, lợi nhuận cổ phẩn,… để kiếm được lợi tức
Ngày nay, một số nhà kinh doanh có vốn muốn thành lập công ty thì phải thuê mặt bằng (đất) của nhà nước hay của những người có quyền sở hữu đất Nói cách khác, đất không chỉ được thuê cho việc kinh doanh nông nghiệp mà còn trong nhiều lĩnh vực khác, thậm chí, nhà nước ta còn cho người nước ngoài thuê đất để trực tiếp thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, từ đó làm tăng nguồn thu cho ngân sách Việc mua bán ruộng đất thực chất là mua bán quyền sử dụng đất giữa các chủ đầu tư
và là hoạt động bình thưởng trong thị trường bất động sản, nhưng khác với các thị trường khác, sau khi các bên đạt được thỏa thuận trong hợp đồng mua bán đất thì còn cần phải làm việc và báo cáo sự biến động của bất động sản với cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Điều này là bởi, theo Điều 4 Luật Đất đai 2013, “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”
III THÁI ĐỘ, TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN
Trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế này, không chỉ các nhà kinh tế đang trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh mà các nhà kinh tế tương lai còn đang trong quá trình học tập nghiên cứu cần hiểu, nắm rõ những nhân tố của nền kinh tế thị trường, trong đó bao gồm lợi nhuận, lợi tức, địa tô Đồng thời, sinh viên cũng cần phải nhận thức được sâu sắc bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam, những cơ hội và thách thức, để từ đó vận dụng hiệu quả các lý thuyết vào thực tế trong môi trường doanh nghiệp, trong nền kinh tế chung
Cụ thể hơn, trong thời đại hội nhập toàn cầu, để trở thành một nhà kinh tế, kinh doanh thành công, tạo được tầm ảnh hưởng trên thương trường, mỗi sinh viên cần phải kết hợp cả Nhân – Nghĩa – Trí – Dũng Trước hết, về “Nhân”, các thanh niên thời đại mới cần luôn trau dồi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, ý thức được những đạo lý, giá trị nhân văn cao cả trong cuộc sống “Nhân” nhắc nhở ta phải có trách
Trang 10nhiệm với cộng đồng, với xã hội, luôn quan tâm và đặt vấn đề phúc lợi cho người lao động, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường lên ngang bằng với thước đo về doanh thu, lợi nhuận “Nghĩa” mang hàm ý luôn ngay thẳng, không làm việc gì trái với lương tâm, đạo đức Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh lành mạnh và tuân thủ luật pháp, đạo đức kinh doanh, tôn trọng đối tác vì sự bình đẳng quyền lợi của các bên chính là tôn chỉ Để có được phẩm chất “Trí”, mỗi sinh viên phải không ngừng học tập, phấn đấu, nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn và trình độ ngoại ngữ; kịp thời nắm bắt những kiến thức mới, tri thức mới Phải có sự đầu tư trí tuệ cho công việc, biết huy động trí lực của tập thể, toàn tâm, toàn ý cống hiến vì mục tiêu và sứ mệnh trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước Còn “Dũng” là dũng cảm, dũng cảm vì theo đuổi sự nghiệp lớn, theo đuổi đến cùng hoài bão ước mơ Bất cứ con đường nào đi đến thành công cũng đều gắn liền với chông gai, gian truân và thử thách, vậy nên mỗi sinh viên phải rèn luyện sự gan dạ, tinh thần trách nhiệm và không ngại khó khăn để đưa đất nước ngày một phát triển hơn, sánh vai với bạn bè quốc tế
IV TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CHỦ DOANH NGHIỆP
Đặt mình vào vai trò của người chủ doanh nghiệp, phải vay vốn để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải
có trách nhiệm gì đối với người lao động và với những đối tác của mình? Dựa vào những lý luận chung ở bên trên, có thể thấy, người chủ doanh nghiệp đang giữ vai trò
là nhà tư bản trong mối quan hệ với công nhân, nhân viên, người cho vay vốn và người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng Tuy trách nhiệm của người chủ doanh nghiệp trong tình huống này là tương tự ở mọi nơi trên thế giới, nhưng để thuận tiện hơn trong việc áp dụng các điều luật, ta sẽ cụ thể hóa khu vực là Việt Nam
2.1 Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp với người lao động
Trong bất kỳ lĩnh vực nào, người lao động luôn là nguồn lực đầu vào quan trọng, tạo ra giá trị thặng dư cho doanh nghiệp và tạo thế mạnh cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường Có thể nói, họ là nguồn gốc của lợi nhuận, của sự giàu