Khái niệm, điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hóa và ưu thế của sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cung, tự cấp a Khái niệm sản xuất hàng hóa Theo quan điểm của Kinh tế chính
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA BẤT ĐỘNG SẢN & KINH TẾ TÀI
NGUYÊN
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: : Lý luận về sản xuất hàng hóa (KTHH) và vận dụng trong phát
triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ THÚY HƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS TÔ ĐỨC HẠNH
Năm học: 2022-2023 ,
,
,
Trang 2MỤC LỤC
I Một số vấn đề lý luận về sản xuất hàng hóa…… 3
1 Khái niệm, điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hóa và ưu thế của sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cung, tự cấp 3
a) Khái niệm sản xuất hàng hóa
b) Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hóa
c) Ưu thế của sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cung, tự cấp
2 Hàng hóa
a) Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa
b) Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
3 Tiền tệ
a) Nguồn gốc, bản chất của tiền tệ
b) Các chức năng của tiền tệ
4 Các quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa
a) Quy luật giá trị
b) Quy luật cạnh tranh
c) Quy luật cung cầu
d) Quy luật lưu thông tiền tệ
II Thực trạng phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
1 Những thành tựu đạt được
a) Hệ thống pháp luật, quy tắc, cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với luật pháp quốc tế
b) Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao
III Giải pháp nâng cao sản xuất hàng hóa trong giai đoạn phát triển kinh
tế thị trường ở Việt Nam 17
2
Trang 3I Một số vấn đề lý luận về sản xuất hàng hóa
1 Khái niệm, điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hóa và ưu thế của sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cung, tự cấp
a) Khái niệm sản xuất hàng hóa
Theo quan điểm của Kinh tế chính trị Mác - Lênin:
Sản xuất hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế, trong đó sản phẩm sản xuất
ra được mua bán, trao đổi trên thị trường
Lịch sử loài người đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế là sản xuất
tự cung, tự cấp và sản xuất hàng hóa Trong nền sản xuất tự cung, tự cấp, sản phẩm làm ra nhằm thoả mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất ra nó Ngược lại, trong nền sản xuất hàng hóa, sản phẩm được sản xuất ra nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của người khác, của xã hội; đây là một bước tiến quan trọng của nền sản xuất xã hội
b) Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hóa
Thứ nhất, phân công lao động xã hội:
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa trong lao động sản xuất Khi đó, mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một số loại sản phẩm nhất định Trong khi, để tồn tại và phát triển, họ cần được thỏa mãn nhiều nhu cầu bằng nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thỏa mãn những nhu cầu đó, những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau, tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau Sản xuất hàng hóa càng phát triển,
sự phụ thuộc vào nhau giữa những chủ thể của nền sản xuất ấy càng trở nên rõ nét
Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất:
Trong lịch sử, điều kiện này xuất hiện dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là sự đa dạng hóa các hình thức
sở hữu và sự tách biệt về quyền sở hữu, quyền sử dụng càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất ra càng phong phú Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất làm cho họ độc lập với nhau, có sự tách biệt về mặt lợi ích Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa
c) Ưu thế của sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cung, tự cấp
3
Trang 4Một là, sản xuất hàng hóa tạo ra động lực mạnh mẽ giải phóng sức sản xuất
Trong sản xuất hàng hóa, người lao động sản xuất ra sản phẩm là để cho người khác, cho xã hội Vì mục tiêu lợi nhuận, người sản xuất sẽ tìm cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người khác, của xã hội, chính điều này đã tạo ra động lực mạnh mẽ giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Hai là, sản xuất hàng hóa thúc đẩy sàng lọc tự nhiên yếu tố con người và các yếu tố vật chất của sản xuất
Trong sản xuất hàng hóa, với đặc trưng cơ bản là cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận, do đó, nó tạo cơ hội để những người sản xuất hiệu quả tiếp tục phát triển, đồng thời loại bỏ những người sản xuất kém hiệu quả, chậm đổi mới, thúc đẩy phân công lao động xã hội ngày càng sâu, rộng, hiệu quả
Ba là, sản xuất hàng hóa thúc đẩy mở rộng thị trường, giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, các địa phương và các quốc gia:
Sản xuất hàng hóa với năng suất lao động cao, chất lượng hàng hóa tốt, khối lượng hàng hóa nhiều, chủng loại đa dạng làm cho thị trường mở rộng, giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, vùng miền phát triển, tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của mỗi thành viên trong xã hội
2 Hàng hóa
a) Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa
* Khái niệm hàng hóa
Theo quan niệm của Kinh tế chính trị Mác - Lênin: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có khả năng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường
* Hai thuộc tính của hàng hóa
Dù khác nhau về hình thái tồn tại, song mọi hàng hóa đều có hai thuộc tính:
Một là, giá trị sử dụng của hàng hóa
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
4
Trang 5Giá trị sử dụng của hàng hóa do những thuộc tính tự nhiên của hàng hóa đó quy định, là một phạm trù vĩnh viễn, tồn tại trong mọi kiểu tổ chức kinh tế, mọi phương thức sản xuất Ví dụ, gạo sở dĩ nó có thể thỏa mãn nhu cầu “ăn” của con người là vì gạo chứa tinh bột, có thể cung cấp chất dinh dưỡng để nuôi sống cơ thể
Hai là, giá trị của hàng hóa
Giá trị hàng hóa là hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó
Đây là một khái niệm trừu tượng, không thể cảm nhận trực tiếp được bằng các giác quan mà phải nhận thức nó bằng tư duy Để lý giải rõ, C.Mác bắt đầu nghiên cứu từ mối quan hệ tỷ lệ về lượng giữa các giá trị sử dụng khác nhau - giá trị trao đổi Nói cách khác, hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa là cơ sở chung cho sự trao đổi giữa tất cả các hàng hóa Các hàng hóa, dù khác nhau về giá trị sử dụng, song đều là kết quả của sự hao phí sức lao động của người sản xuất hàng hóa ấy, nên hàng hóa có giá trị Ví du: Một lượng vàng = 1 chiếc xe máy
Ba là, mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Tính thống nhất thể hiện ở chỗ: giá trị và giá trị sử dụng cùng tồn tại trong hàng hóa, quá trình tạo ra giá trị sử dụng đồng thời là quá trình tạo ra giá trị Thiếu một trong hai thuộc tính này, vật phẩm không phải là hàng hóa
Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ: Với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về chất Ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất, đều là sự kết tinh của lao động, là lao động đã được vật hóa Giá trị được thực hiện trước trong lưu thông, còn giá trị sử dụng được thực hiện sau trong tiêu dùng
b) Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Thứ nhất, lao động cụ thể
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những ngành nghề chuyên môn nhất định
Ví dụ, lao động của người thợ may có mục đích là sản xuất ra quần áo chứ không phải là bàn ghế; còn phương pháp là cắt, may chứ không phải là bào, đục,
5
Trang 6cưa; và lao động của người thợ may tạo ra quần áo để mặc, không như thợ mộc tạo
ra bàn, ghế để ngồi Nghĩa là lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa
Thứ hai, lao động trừu tượng
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa đã gạt bỏ hình thức biểu hiện cụ thể của nó để quy về cái chung, đồng nhất, đó là sự hao phí sức lao động, tiêu hao thần kinh, cơ bắp của người sản xuất hàng hóa
Lao động cụ thể của người thợ may và người thợ mộc ở ví dụ trên cho thấy, nếu gạt bỏ đi những hình thức cụ thể bên ngoài của nó, thì giữa người thợ mộc và người thợ may đều có một điểm chung nhất đó là: quá trình lao động, họ đều bị hao phí cả về thần kinh và sức bắp - gọi là lao động trừu tượng Lao động trừu tượng đã tạo ra giá trị của hàng hóa, và là một phạm trù lịch sử, gắn với sản xuất hàng hóa, chỉ có trong nền sản xuất hàng hóa
c) Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
* Lượng giá trị hàng hóa
Lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa, được tính bằng thời gian lao động (ngày, giờ, phút, giây ), nhưng là thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải thời gian lao động cá biệt
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Một là, năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Khi năng suất lao động tăng lên, lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa đó giảm xuống, khi đó giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống tương ứng, nhưng tổng giá trị không đổi
Hai là, cường độ lao động
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất Tăng cường độ lao động là tăng mức độ khẩn trương, tích cực của
6
Trang 7Discover more from:
KTCT01
Document continues below
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin
Đại học Kinh tế Quốc dân
999+ documents
Go to course
Phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động tích cực đối với Việt Nam
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (48)
12
Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 99% (69)
17
Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)
14
Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (133)
63
KTCT - Tài liệu ôn tự luận
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (64)
57
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)
16
Trang 8lao động Khi cường độ lao động tăng, số lượng hàng hóa làm ra tăng, tổng giá trị hàng hóa tăng tương ứng, nhưng giá trị một đơn vị hàng hóa không đổi
Ba là, tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động
Trong nền sản xuất hàng hóa, những người sản xuất có sự khác nhau về mức độ thành thạo và trình độ nghề nghiệp, nhưng họ vẫn phải trao đổi sản phẩm cho nhau Lao động của họ đều là sự thống nhất giữa mặt cụ thể và mặt trừu tượng
Do đó, khi xét đến lượng giá trị hàng hóa và quan hệ trao đổi giữa những người sản xuất hàng hóa phải xét đến tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động
3 Tiền tệ
Quan hệ hàng hóa - tiền tệ là một trong những quan hệ kinh tế cốt lõi của kinh tế hàng hóa Trên thị trường, để trao đổi hàng hóa, người ta thường dùng tiền
a) Nguồn gốc, bản chất của tiền tệ
* Nguồn gốc của tiền tệ
Tiền tệ ra đời là kết quả của sự vận động và phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa, là sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao, tương ứng với những trình độ phát triển khác nhau của sản xuất và trao đổi hàng hóa Hình thái này xuất hiện khi vật ngang giá chung được gắn một cách vững chắc với một số loại hàng hóa đặc thù
V
í dụ:
5 kg thóc =
1 con gà =
4 kg cà phê = 0,1 gram vàng
1 cái rìu =
Ở đây, giá trị của tất cả hàng hóa (thóc, gà, cà phê, rìu …) đều được biểu hiện ở một hàng hóa đóng vai trò tiền tệ Lúc đầu, có nhiều hàng hóa thay nhau đóng vai trò tiền tệ Dần dần về sau, vai trò làm tiền tệ được chuyển sang cho các kim loại quý (tiền kim loại) như đồng, bạc, vàng Tiền vàng hoặc tiền bạc xuất hiện trở thành yếu
tố ngang giá chung cho toàn bộ thế giới hàng hóa
* Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất
cả hàng hóa; nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa
7
Trang 9b) Các chức năng của tiền tệ
Một là, thước đo giá trị
Thước đo giá trị là một chức năng cơ bản của tiền tệ Thực hiện chức năng này, tiền được dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa khác Để đo lường giá trị của các hàng hóa, tiền cũng phải có giá trị Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị, người ta ngầm hiểu tiền đó là tiền vàng Vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã phản ánh lượng lao động xã hội hao phí nhất định
Hai là, phương tiện lưu thông
Thực hiện chức năng này, tiền làm trung gian trong trao đổi hàng hóa Khi đó trao đổi hàng hóa vận động theo công thức H - T - H (hàng - tiền - hàng), đây chính là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn Lúc này cần sự xuất hiện của tiền trên thực
tế, vì khi hàng chuyển từ tay người bán sang tay người mua thì tiền phải chuyển từ tay người mua sang tay người bán
Ba là, phương tiện thanh toán
Sản xuất hàng hóa phát triển đến một trình độ nào đó nhất định nảy sinh quan
hệ mua - bán chịu, khi đó tiền có thêm chức năng phương tiện thanh toán Chức năng này của tiền gắn với chế độ tín dụng thương mại, tức là mua bán thông qua chế độ tín dụng, thanh toán không dùng tiền mặt mà chỉ dùng tiền trên sổ sách kế toán, hoặc tiền trong tài khỏan, tiền điện tử,
Bốn là, phương tiện cất trữ
Thực hiện chức năng này, tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ Sở dĩ tiền thực hiện được chức năng này vì tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải
Năm là, tiền tệ thế giới
Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia, tiền làm chức năng tiền tệ thế giới Thực hiện chức năng này, tiền được sử dụng làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc giữa các nước với nhau
4 Các quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa
a) Quy luật giá trị
8
Trang 10Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của
hệ thống các quy luật trong nền sản xuất hàng hóa Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng
Về nội dung, quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết Trong trao đổi, phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị làm cơ sở, không dựa trên giá trị cá biệt, chỉ có như vậy mới đảm bảo bù đắp được chi phí cho người sản xuất và có lãi
Quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá
cả quanh trục giá trị, dưới tác động của quan hệ cung cầu Giá cả thị trường là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa Nó lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, cạnh tranh và một số yếu tố khác
Trong kinh tế hàng hóa, quy luật giá trị có tác động cơ bản sau đây:
Tự phát điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội; Phân hóa những người sản xuất thành những người giàu, người nghèo một cách tự phát, làm nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
b) Quy luật cạnh tranh
Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hóa Khi đã tham gia thị trường, bên cạnh việc phối hợp, hợp tác, các chủ thể sản xuất kinh doanh phải ganh đua nhằm giành giật những ưu thế về sản xuất, tiêu thụ, qua đó thu lợi ích tối đa
Trong kinh tế hàng hóa, cạnh tranh có thể diễn ra giữa các chủ thể trong nội bộ ngành, cũng có thể diễn ra giữa các chủ thể thuộc các ngành khác nhau; giữa người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng; giữa người sản xuất với người sản xuất Cạnh tranh đòi hỏi các nhà sản xuất phải dùng mọi biện pháp (biện pháp kinh tế, phi kinh tế hoặc kết hợp cả hai), phát huy mọi khả năng để làm cho hàng hóa, dịch vụ chiếm được thiện cảm và sự chấp nhận của người tiêu dùng Cạnh tranh cũng đòi hỏi người bán và người mua phải nghiên cứu thị trường để
có quyết định đúng đắn
c) Quy luật cung cầu
9