1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) đề tài tác động của hội nhập và toàn cầu hoá đến phát triển kinh tế ở việt nam

67 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Hội Nhập Và Toàn Cầu Hoá Đến Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Vương An, Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Thị Thuý Hằng, Đặng Thuý Hiền, Phạm Quốc Hưng, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phạm Kiều Vân, Phạm Hồng Thái, Đỗ Công Luận, Đặng Xuân Chín
Người hướng dẫn TS. Lê Huỳnh Mai
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Học So Sánh
Thể loại Bài Tập Nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 8,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó kinh tế thị trường và sự phát triển như vũ bã

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- ***

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ HỌC SO SÁNH

ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Lớp học phần : Kinh tế học so sánh (222)_02 Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Huỳnh Mai

Trang 3

3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HÓA CỦA VIỆT NAM 2

1.1 Nội hàm của hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá 2

1.1.1 Hội nhập quốc tế 2

1.1.2 Toàn cầu hóa 2

1.2 Cơ sở ạch định cho chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế 3 ho 1.2.1 Bối cảnh thế giới 3

1.2.2 Bối cảnh trong nước 4

1.3 Quá trình hình thành chủ trương chính sách hội nhập quốc tế 4

1.4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế 5

1.5 Tiến trình hội nhập của Việt Nam 6

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM 12

2.1 Tác động hội nhập đến tăng trưởng kinh tế ở ệt Nam 12 Vi 2.1.1 Tác động tích cực 12

2.1.2 Tác động tiêu cực 15

2.2 Tác động của hội nhập đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam 18

2.2.1 Cơ cấu các ngành kinh tế 18

2.2.2 Cơ cấu thành phần kinh tế 25

2.2.3 Cơ cấu thương mại quốc tế 27

2.3 Tác động của hội nhập đến xã hội 36

2.3.1 Tác động tích cực 36

2.3.2 Tác động tiêu cực 39

2.4 Đánh giá kết quả 45

2.4.1 Thành tựu 45

2.4.2 Hạn chế 49

2.4.3 Nguyên nhân 52

Trang 4

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG

QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HÓA 54

3.1 Phương hướng chung 54

3.2 Giải pháp cụ thể 54

3.2.1 Đối với tăng trưởng kinh tế 54

3.2.2 Đối với tiến bộ xã hội 56

3.3 Vai trò của sinh viên trong hội nhập kinh tế qu ốc tế 57

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61!

Trang 5

1

LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồn gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người với con người Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết với các quốc gia khác Chặng đường gần 37 năm đổi mới hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa của Việt Nam từ 1986 đến nay là một quá trình đồng hành đầy thử thách, khó khăn Những thành công đạt được có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề và động lực để Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển mạnh

mẽ, toàn diện hơn Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với nhau Ngày nay, quá trình hội nhập quốc

tế và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác động của nhiều nhân

tố, trong đó kinh tế thị trường và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ là động lực hàng đầu Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đã, đang là một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia

Như vậy, thực tế hội nhập và toàn cầu hóa đã tác động như thế nào đến Việt Nam? Vấn đề này đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu một cách tổng quan và kịp thời để có thể hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc chọn ra các phương án tối ưu để phát triển nền kinh tế khi tiến trình toàn cầu hoá ngày càng diễn ra nhanh hơn, rộng hơn và khi nền kinh tế Việt Nam sẽ ngày càng

mở cửa, hội nhập đầy đủ hơn với nền kinh tế thế giới Do đó, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tác động của hội nhập và toàn cầu hoá đến phát triển kinh tế Việt Nam” cho bài tiểu luận của nhóm mình dưới theo góc nhìn của hội nhập quốc tế

Trang 6

CHƯƠNG 1: TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HÓA

CỦA VIỆT NAM

1.1 Nội hàm của hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

1.1.1 Hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồn gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người với con người Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết với các quốc gia khác Trong một thế giới hiện đại, sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải

mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế Đây chính là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế

Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc các lĩnh vực của đời sống xã hội và xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất Quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở mức độ cao đã vượt

ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hoá ngày một sâu sắc Sự quốc tế hoá như vậy thông qua việc hợp tác ngày càng sâu giữa các quốc gia ở tầm song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu

Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế Hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác đều vì lợi ích quốc gia, dân tộc Các quốc gia tham gia quá trình này cơ bản vì lợi ích cho đất nước, vi sự phồn vinh của dân tộc mình Mặc khác, các quốc gia thực hiện hội nhập quốc tế cũng góp phần thúc đẩy thế giới tiến nhanh trên con đường văn minh, thịnh vượng

Nhìn tổng thể thì hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập toàn cầu, khu vực và song phương Các phương thức hội nhập này được triển khai trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Cho đến nay, đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế được triển khai trên 3 lĩnh vực chính gồm: Hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế), hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.2 Toàn cầu hóa

Khái niệm toàn cầu hóa (Globalization)

Trang 7

Discover more from:

Trang 8

Theo nghĩa rộng, toàn cầu hoá là một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá đến môi trường, v.v…) giữa các quốc gia Nói một cách khác,“Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới.” Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Biểu hiện của toàn cầu hoá có thể dưới dạng khu vực hoá – việc liên kết khu vực và các định chế, các tổ chức khu vực, hay cụ thể, toàn cầu hoá là “quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau, trước hết về kinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hoá và nguồn lực (resources) qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động

và giao dịch kinh tế quốc tế.”

Nội dung của toàn cầu hóa

Nội dung của toàn cầu hoá được thể hiện thông qua nhiều biểu hiện tùy thuộc vào các góc

độ tiếp cận cụ thể khác nhau Nếu tiếp cận toàn cầu hóa với góc nhìn và quan sát chung thì toàn cầu hóa biểu hiện theo ba biểu hiện sau đây, đó là:

Thứ nhất, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của các luồng giao lưu quốc tế về hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ, nhân công Thứ hai, toàn cầu hóa thể hiện qua sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trên phạm vi khu vực và toàn cầu

Thứ ba, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng số lượng, quy mô và vai trò ảnh hưởng các công ty xuyên quốc gia tới nền kinh tế thế giới

ààààà Nhóm nghiên cứu quyết định tìm hiểu về đề tài dưới góc độ hội nhập

1.2 Cơ sở hoạch định cho chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế

1.2.1 Bối cảnh thế giới

Khi Việt Nam giành được độc lập năm 1975 thì lúc này cuộc chiến tranh lạnh giữa hai bên

xã hội chủ nghĩa (đứng đầu là Liên Xô) và tư bản chủ nghĩa (đứng đầu là Hoa Kỳ) vẫn đang diễn

ra dù cả hai bên Mỹ và Liên Xô đều đang hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực

Sang đến nửa đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XIX, mối quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô có chiều hướng xấu đi Các cuộc gặp gỡ cấp cao bị ngừng, nhiều cuộc xung đột khu vực nổ ra với sự tham gia của cả hai nước,… Có thể nói, đây là giai đoạn căng thẳng đã trở lại

Trang 9

4

Những năm sau đó, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều đã nối lại các cuộc gặp mặt cấp cao giữa hai nước Những điểm đáng lưu ý là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở khu vực Đông Âu Nhiều nhà nước xã hội chủ nghĩa lần lượt biến mất và chuyển sang nhà nước tư bản Đây có thể coi là dấu hiệu cho sự kết thúc của chiến tranh lạnh Vào ngày 25 tháng 12 năm 1992, nhà nước Liên Xô chính thức tan rã, chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh Từ thời điểm này, tình hình thế giới chuyển sang một siêu nhiều cường – Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới, bên cạnh các cường quốc như Nga, Nhật, …

Về sau, thế giới có nhiều sự thay đổi: các quốc gia bắt đầu chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác; quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh; sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ; nhiều nguy cơ phi truyền thống mới xuất hiện bên cạnh các nguy cơ truyền thống…

1.2.2 Bối cảnh trong nước

Sau khi giành được độc lập, thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam bắt đầu vào công cuộc tái thiết đất nước Sau đó, Việt Nam đã có mâu thuẫn với nhiều nước về vấn đề Campuchia Kể từ đó, chúng ta bị bao vây cấm vận trong nhiều năm liền Trong thời kỳ bị bao vây cấm vận thì đất nước ta đã ở trong một tình trạng khủng hoảng về nhiều mặt: kinh tế kém phát triển, cơ sở hạ tầng lạc hậu, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn…

Để có thể thoát khỏi tình trạng trên thì lúc này, việc cần tận dụng mọi nguồn lực (kể cả ở trong nước lẫn nước ngoài) đều vô cùng cấp thiết Những thứ đất nước ta cần lúc này là vốn, công nghệ và khả năng quản lý, nhưng Việt Nam đều đang thiếu Tuy nhiên, Việt Nam lúc này lại đang

bị bao vây cấm vận từ nhiều nước tư bản chủ nghĩa, còn các nước xã hội chủ nghĩa (trừ Trung Quốc lúc này đang bao vây cấm vận nước ta), đứng đầu là Liên Xô cũng đang dần suy yếu nên chúng ta không thể dựa vào họ được Chúng ta nhận ra rằng phải mở cửa, phải hội nhập quốc tế thì mới phát triển đất nước được Đó chính là lúc Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập quốc tế

từ năm 1986

1.3 Quá trình hình thành chủ trương chính sách hội nhập quốc tế

Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Ý tưởng về hội nhập quốc tế đã được chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến trong “Lời kêu gọi Liên Hợp Quốc” được viết vào năm 1946 Bác Hồ viết: “Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và thực thi trong mọi lĩnh vực” Đồng thời, Người khẳng định: “Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc” Đây có thể coi là một bước tiền đề cho hội nhập quốc tế của Việt

Trang 10

Nam Tuy nhiên sau đó chúng ta phải đương đầu với thù trong giặc ngoài nên chúng ta chưa chú trọng vào vấn đề hội nhập quốc tế

Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), Đảng ta đã sớm đề ra đường lối, chiến lược về hội nhập quốc tế và thực hiện hợp tác quốc tế với các nước và tổ chức quốc tế trên thế giới, thể hiện qua các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta đã khẳng định chủ

trương: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững Đại hội

IX chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển

Đảng đã nhận rõ mối quan hệ giữa hội nhập và phát triển Hội nhập tạo tiền đề để phát triển, càng phát triển lại càng cần phải hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới do vậy cần phải chủ động hội nhập

Tư tưởng chỉ đạo này đã theo suốt trong các bước đi hội nhập sau này, chủ trương chủ động

hội nhập của Đại hội IX đã tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 07-NQ/2001/TW về Hội

nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết 07 đưa ra quan điểm chỉ đạo phải: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường

Như vậy, từ Đại hội IX của Đảng đến nay, quan điểm của Đảng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” ngày càng đầy đủ và đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước Từ nhận thức về “quốc tế hóa” đã phát triển thành nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” và đi đến nhận thức về “toàn cầu hóa” Trên cơ sở thực tiễn

về “toàn cầu hóa”, Đảng và Nhà nước ta đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” và ngày nay là chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, “nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế”, “đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”

1.4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế

Dù chủ trương về hội nhập quốc tế có nhiều thay đổi nhưng vẫn có nhiều quan điểm xuyên suốt từ năm 1986 đến nay Từ năm 1986 đến nay, Đảng luôn đặt mục tiêu cho chủ trương là phải

tự chủ động và tích cực tranh thủ tối đa, tận dụng các nguồn ngoại lực để phục vụ cho các lợi ích quốc gia Quá trình hội nhập quốc tế phải đảm bảo đem lại các lợi ích tối đa cho quốc gia, mặt

Trang 11

để phù hợp với tình hình Chúng ta nêu rõ tinh thần tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng biện pháp vũ lực để giải quyết các vấn đề mà bằng con đường đàm phán, đối thoại; hợp tác trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi Đảng ta luôn thể hiện rõ tư tưởng chủ đạo: phải giữ vững nguyên tắc hội nhập quốc tế vì lợi ích dân tộc (nguyên tắc cao nhất trong hội nhập quốc tế của nước ta) Chúng ta không được cứng nhắc mà phải vận dụng sáng tạo, linh hoạt, hợp lí để thay đổi, phù hợp với tình hình trong nước và trên thế giới Việt Nam luôn muốn mở rộng quan hệ với tất cả các nước, các tổ chức quốc

tế trên thế giới theo tinh thần bình đẳng, hợp tác cùng có lợi và không can thiệp công việc của nhau Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, góp phần tích cực vào

sự phát triển và ổn định của thế giới

Về nội dung, chúng ta tích cực chủ động thúc đẩy các mối quan hệ song phương và đa phương với tất cả các nước, tổ chức quốc tế và khu vực trên nhiều lĩnh vực nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của nước ta Việt Nam luôn chú trọng vào quan hệ đối ngoại với các nước láng giềng, các nước xã hội chủ nghĩa, các cường quốc lớn, các tổ chức quốc tế, các đảng cộng sản, các phong trào dân tộc, tiến bộ trên thế giới Việt Nam tham gia tích cực vào các cơ chế kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội,… Đồng thời, chúng ta cùng các nước giải quyết các vấn đề truyền thống và phi truyền thống đang tồn tại trên thế giới Chúng ta cũng khéo léo kết hợp nhiều loại hội nhập quốc

tế với nhau; đấu tranh chống các thế lực thù địch và làm phá vỡ các kế hoạch chống phá của chúng Tất cả đều vì lợi ích quốc gia: phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới, giữ vững an ninh – chính trị

Phương châm được sử dụng xuyên suốt là hợp tác các bên cùng có lợi – các bên đều không làm hại lợi ích của nhau nhưng cùng nhau chia sẻ một số lợi ích Hội nhập quốc tế đòi hỏi việc vừa phải đấu tranh vừa phải mềm mỏng, nhượng bộ nhau để đạt đến thành công nhưng đồng thời cũng cần sự cảnh giác và tỉnh táo trong mọi việc làm

1.5 Tiến trình hội nhập của Việt Nam

Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế

Trang 12

Từ khi bắt đầu, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn Nối lại các quan hệ với các nước lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, kết quả Chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam năm 1994, Tổng thống Mỹ tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1995, tháng 7/2000,

ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ Khai thông và phát triển quan hệ với Nhật Bản và năm 1992 Chính phủ Nhật nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam Năm 1991, Chính phủ Australia bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam Năm 1992, Việt Nam - Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ…

Việt Nam đã gia nhập ASEAN năm 1995; ASEM năm 1996; APEC năm 1998; WTO năm 2007; CPTPP năm 2018 Đã đăng cai thành công Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2006 và 2017; hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần hai năm 2019… Một số các cột mốc đánh dấu thành tựu của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế phải kể đến như:

• 1970: Việt Nam gia nhập Cộng đồng Pháp Ngữ

• 20/7/1977: Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc

• 28/7/1995: Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

• 1996: Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp tác Á- Âu ( ASEM), tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do của ASEAN (AFTA)

• 11/1998 : Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

• 11/1/2007: Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

• 16/10/2007: Việt Nam đã được bầu làm 1 trong các thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009

Việt Nam chủ động tham gia vào ban lãnh đạo các tổ chức quốc tế

Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật như:

• 12/11/2006: Việt Nam lần đầu tiên đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 tại thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm vai trò Giám đốc điều hành Ban Thư ký APEC quốc tế

• Năm 2010, lần thứ hai Việt Nam đảm nhiệm cương vị Chủ tịch ASEAN

• 5/11/2017: Việt Nam lần thứ hai đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 25 tại thành phố Đà Nẵng

Trang 13

8

• 7/6/2019: Việt Nam lần thứ 2 được bầu chọn là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021

• 01/01/2020, Việt Nam chính thức đảm nhận vai trò Chủ tịch luân phiên của ASEAN

• 8/9/2020, lần thứ ba Quốc hội Việt Nam đảm nhận vai trò Chủ tịch AIPA-41

Trong năm 2020, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là Dịch Covid – 19, với vai trò Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chủ trì và tổ chức thành công các Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN và ASEAN+3 về Ứng phó dịch bệnh COVID-19 (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản)

Để khẳng định được vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, Việt Nam đã và đang phấn đấu dần đóng vai trò “nòng cốt, dẫn dắt, hoà giải, sáng kiến, tích cực, có trách nhiệm” tại các diễn đàn,

tổ chức đa phương có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ tốt đẹp với tất cả nước lớn, các Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 quốc gia (trong đó có 3 đối tác chiến lược toàn diện), 13 đối tác toàn diện Năm 2020, Việt Nam đã phê chuẩn và triển khai có hiệu quả Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA); tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực Đã có 71 nước công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường Việt Nam là một thành viên tích cực của hầu hết các văn kiện cơ bản về quyền con người của Liên hợp quốc và đã được bầu là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm

kỳ 2014 – 2016 Đặc biệt, Việt Nam 2 lần được bầu giữ chức Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, nhiệm kỳ 2020 - 2021 (nhiệm kỳ 2020- 2021 đạt số phiếu gần như tuyệt đối 192/193 phiếu) Đảm nhận tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng bảo an ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ (tháng 1/2020), Việt Nam đã tham gia chủ động, tích cực tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thể hiện hình ảnh một Việt Nam trách nhiệm, đề cao luật pháp quốc tế, nỗ lực xây dựng đồng thuận, tìm kiếm giải pháp thỏa đáng cho các tranh chấp, xung đột BTA – WTO – TPP là ba dấu mốc lớn đánh dấu mức độ hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Bên cạnh việc thúc đẩy kinh tế phát triển, “ba dấu mốc” trên còn đem đến cho Việt Nam một bước tiến dài trong cải cách thể chế, minh bạch hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh Nhìn nhận về công cuộc hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong bài báo "BTA- WTO

- TPP: Dấu mốc hội nhập sâu rộng", Báo Công Thương cho rằng, đây là ba dấu mốc lớn đánh dấu mức độ hội nhập sâu rộng của Việt Nam, bên cạnh việc thúc đẩy kinh tế phát triển, ba dấu mốc trên còn đem đến cho Việt Nam một bước tiến dài trong cải cách thể chế, minh bạch hóa và nâng

Trang 14

cao năng lực cạnh tranh

Có thể khẳng định, những kết quả đã đạt được toàn diện sau 37 năm đổi mới trên tất cả các lĩnh vực và 2 năm đảm nhận Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm

kỳ 2020 - 2021 cùng chuyến công tác của Cựu Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam vào thời điểm tròn 44 năm ngày Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta; trong đó nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại

đa phương, đề cao tự cường, tự tin nỗ lực hòa mình trong dòng chảy thời đại để có tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay

Việt Nam ký các hiệp định song phương, đa phương

Đến nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết thực hiện 14 Hiệp định thương mại tự

do (FTA) có hiệu lực và 01 FTA đã chính thức ký kết, sắp có hiệu lực, hiện đang đàm phán 02 FTA Trong số 14 FTA đã có hiệu lực và đang triển khai, Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ

xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia, tiếp theo

đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA)

Cụ thể, ASEAN, Australia và New Zealand ký kết Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-Australia-New Zealand (AANZFTA) ngày 27/2/2009, có hiệu lực từ ngày 1/1/2010 Đây là thỏa thuận thương mại tương đối toàn diện, bao gồm rất nhiều cam kết về hàng hóa, dịch vụ (gồm cả dịch vụ tài chính và viễn thông), đầu tư, thương mại điện tử, di chuyển thể nhân, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh và hợp tác kinh tế

Tháng 8 năm 2009, Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG) được ký kết: Ấn Độ cam kết cắt giảm thuế quan đối với nhiều mặt hàng Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu như hàng may mặc, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, than đá, cao su, sắt thép Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh kinh tế Á – Âu (EEUV FTA) bao gồm các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan) được ký kết ngày 29/5/2015, và có hiệu lực từ ngày 05/10/2016 Đây cũng

là FTA đầu tiên của EAEU do đó các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế khi xuất khẩu sang khu vực thị trường này

Ngày 22/11/2015: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh đạo ASEAN

đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) được ký kết ngày 5/5/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 20/12/2015

Trang 15

10

Việt Nam chủ động đổi mới cơ chế, chính sách trong tiến trình hội nhập

Trong 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã tích cực, chủ động sửa đổi, bổ

sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế nhằm đáp ứng những yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế Bên cạnh những thành quả đã đạt được, hệ thống pháp luật về kinh tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập Quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế đang đặt

ra những yêu cầu mạnh mẽ về sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật

về kinh tế

Bắt đầu từ năm 1986, Chính phủ đã chủ trương tự do hóa thương mại và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân Luật Công ty 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định về việc thành lập và hoạt động của các chủ thể kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tư nhân Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty tuy còn quy định

sơ sài nhưng đó là một sự kiện trọng đại, mở ra một

hành lang pháp lý và con đường phát triển của doanh

nghiệp khối tư nhân Năm 1999, Luật doanh nghiệp ra

đời trên cơ sở hợp nhất hai đạo luật trên và được cho

là một trong những đột phá lớn về đổi mới thể chế và

thay đổi cung cách điều hành phát triển đất nước, cho

thấy tầm nhìn của Thủ tướng Phan Văn Khải trước các

vấn đề đến nay vẫn còn mang tính thời sự Luật doanh

nghiệp ra đời với 02 nội dung quan trọng và nổi bật:

mọi tổ chức và công dân đều có quyền tự do kinh

doanh theo pháp luật, nhà nước tổ chức quản lý, giám

sát theo nguyên tắt công khai, minh bạch Ngày 17

tháng 6 năm 2020, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã

thông qua Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2020 Các quy

định trong Luật Doanh nghiệp 2020 được coi là có

nhiều điểm mới như: Về việc gia nhập thị trường của

doanh nghiệp: Bãi bỏ thủ tục thông báo mẫu con dấu

của doanh nghiệp, Bổ sung quy định về phương thức

đăng ký doanh nghiệp; Về quản trị doanh nghiệp:

người đại diện theo pháp luật, thời hạn vốn góp,… tạo

Trang 16

thuận lợi cho doanh nghiệp trong giai đoạn gia nhập thị trường nói riêng và trong quá trình đầu tư, kinh doanh nói chung

Việt Nam đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước phát triển bền vững Chủ trương, quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế đã có những thay đổi qua các kỳ đại hội của Đảng cùng với quá trình đổi mới tư duy, nhận thức của Đảng, sự phát triển của nền kinh tế, của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác

và quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước

ở nước ta luôn được khẳng định và được định hướng bởi chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước cũng như việc sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước Năm 1987, Luật Đất đai đầu tiên ở Việt Nam ra đời và đánh dấu mốc quan trọn trong hệ thống pháp luật về đất đai Đồng thời, ghi nhận đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước nhất nhất quản lý Qua 5 năm lần sửa đổi và bổ sung (năm 1993, 1998, 2001, 2003, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh năm 2022, trong đó điều chỉnh Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh năm 2021 Điều này hứa hẹn sẽ mang đến nhiều đổi mới, giúp Luật đất đai ngày càng phù hợp với xu thế và thị trường trong tương lai Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đang được Ủy ban Thường vụ Quốc hội lấy ý kiến của người dân

Trang 17

12

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HOÁ

ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

2.1 Tác động hội nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

2.1.1 Tác động tích cực

Do tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, nền kinh tế – xã hội Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng, đạt được nhiều thành tựu to lớn Sau 37 năm đất nước đổi mới, quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, với GDP tăng từ 446 nghìn tỷ đồng vào năm 1986 lên 3,847 triệu tỷ đồng vào năm 2020 tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực cũng như trên thế giới Đặc biệt, tốc độ tăng GDP của nước ta có có 2 năm đạt trên 9% là 1995 (9,54%) và 1996 (9,34%) do Việt Nam gia nhập ASEAN (năm 1995) và Diễn đàn hợp tác Á- Âu ( ASEM), tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do của ASEAN (AFTA) (1996)

Hình 1 GDP của Việt Nam giai đoạn năm 1986 - 2021

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

Theo Báo cáo Đánh giá cập nhật Quốc gia Việt Nam 2021 - hoạt động định kỳ 5 năm một lần của Ngân hàng Thế giới (WB), nhờ những cải cách kinh tế từ năm 1986, kinh tế liên tục tăng trưởng, Việt Nam đã phát triển từ một trong những quốc gia có thu nhập thấp trở thành quốc gia

Trang 18

thu nhập trung bình thấp Đồng thời, Việt Nam hiện là một trong những quốc gia năng động nhất Đông Á - Thái Bình Dương

Hình 2 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 1989-2021 (USD)

Đơn vị tính: Theo phương pháp phương pháp Atlas (USD hiện hành)

Nguồn: The Data World Bank

Cụ thể, theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 1989, thu nhập bình quân của Việt Nam đạt 200 USD, xếp thứ 9/10 khối ASEAN và thứ 141/149 trên thế giới Trong khối ASEAN, thu nhập bình quân Việt Nam xếp trên Myanmar (40 USD) vào năm 1989

Đến năm 2021, thu nhập bình quân của Việt Nam đã tăng lên đạt khoảng 3.590 USD, xếp thứ 120 trên thế giới Như vậy, thu nhập bình quân của Việt Nam đã tăng gần 18 lần sau 32 năm

và nhảy 21 bậc trên thế giới

Đối với Việt Nam, kể từ khi cải cách kinh tế năm 1986 đến năm 2009, Việt Nam đã chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình thấp

Về tầm nhìn và định hướng phát triển, tại Đại hội XIII, Việt Nam đặt đã mục tiêu cụ thể đến năm 2025, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 4.700-5.000 USD/năm

Trang 19

14

Nhờ chủ trương đổi mới, mở cửa, trong gần 37 năm qua, Việt Nam đã thu được những thành tựu hết sức to lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao trong khu vực

Xét trong toàn bộ các nước thuộc khối ASEAN, thu nhập bình quân của Việt Nam có sự thay đổi rõ rệt trong giai đoạn 1989 - 2021

Năm 1989, thu nhập bình quân của Việt Nam xếp thứ 9/10 trong khối ASEAN, chỉ cao hơn Myanmar (40 USD) Trong giai đoạn 1989-2021, thu nhập bình quân của Việt Nam đạt khoảng 1.208 USD/năm, cao hơn 2,4 lần thu nhập bình quân của Myanmar (508 USD/năm); cao hơn 1,6 lần thu nhập bình quân của Campuchia (744 USD/năm) và cao hơn 1,28 lần so với thu nhập bình quân của Lào (942 USD/năm)

Hình 3 Thu nhập bình quân các nước ASEAN giai đoạn 1989-2021

Đơn vị tính: Theo phương pháp phương pháp Atlas (USD hiện hành)

Sau 32 năm, thu nhập bình quân của Việt Nam đã tăng gần 18 lần Các quốc gia khác đều

có sự cải thiện nhưng chậm hơn như: Lào (gấp 12 lần), Indonesia (gấp 8,04 lần), Campuchia (gấp 7,71 lần), Singapore (gấp 6,2 lần), Thái Lan (gấp 5,25 lần), Malaysia (gấp 4,6 lần), Philippines (gấp 4,43 lần) và Brunei (gấp 2,53 lần)

Trang 20

Đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu: Dù hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, song việc có tận dụng được các ưu đãi về thuế quan để mở rộng thị trường hay không lại phụ thuộc vào việc đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ cũng như các yêu cầu khác (an toàn thực phẩm, vệ sinh dịch tễ ) Với năng lực tự sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu còn hạn chế, thì những yêu cầu về quy tắc xuất

xứ hàng hóa lại đang đặt ra thách thức và mối lo ngại cho các doanh nghiệp Việt Nam Điểm hạn chế trong thương mại hàng hóa với các nước ASEAN là Việt Nam vẫn chủ yếu nhập siêu Trong 10 năm gần đây, nhập siêu liên tục ở mức 6-7 tỷ USD, chiếm trên 30% kim ngạch xuất khẩu

Đối với sản xuất trong nước: Việc tự do hóa thuế nhập khẩu sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng nhập khẩu từ các nước, đặc biệt là từ các nước TPP, EU vào Việt Nam do giá thành rẻ hơn, chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ tác động đến lĩnh vực sản xuất trong nước

Ngoài ra, khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ nhưng các hàng rào kỹ thuật không hiệu quả, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chất lượng kém, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng trong khi lại không bảo vệ được sản xuất trong nước

Đặc biệt, sản phẩm nông nghiệp và các doanh nghiệp, nông dân Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt, trong khi đó hàng hóa nông sản và nông dân là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong hội nhập

- Hội nhập có thể làm gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động khôn lường về chính trị, kinh tế

và thị trường quốc tế hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và nền kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, do việc mở cửa hội nhập và gắn kết với nhiều nước khác nên điều này đã làm Việt Nam bị phụ thuộc nhiều hơn đến bối cảnh kinh tế thế giới

Trang 21

16

Cuộc khủng hoảng thứ nhất, tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát vào những năm 80 của thế kỷ trước đã tác động không ít tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ những khó khăn sau chiến tranh, từ những hạn chế của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, từ hậu quả sai lầm về giá - lương - tiền, cộng hưởng với khó khăn do sự bao vây cấm vận của Mỹ Hậu quả tới Việt Nam biểu hiện ở nhiều mặt Tăng trưởng kinh tế thấp, có năm còn bị sụt giảm; bình quân thời kỳ 1977- 1980, thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng dân số (2,31%/năm); bình quân thời kỳ 1977- 1985 chỉ tăng 3,7%/năm

Cuộc khủng hoảng thứ hai là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra năm 1997 - 1998

ở khu vực Châu Á Việt Nam do bắt đầu mở cửa hội nhập, nên cũng bị tác động nhất định Tăng trưởng kinh tế đang ở mức 9,54% năm 1995, 9,34% năm 1996 và 8,15% năm 1997, đến 1998 chỉ tăng 5,76%, 1999 chỉ tăng 4,77% Nhưng do Việt Nam đồng tiền chưa chuyển đổi, sẵn có thùng gạo (có gạo xuất khẩu), và thùng dầu (có dầu thô xuất khẩu), nên đã không bị cuốn hút vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng này Tuy nhiên, tốc độ tăng GDP giảm nhanh và sâu (năm 1998 còn 5,76%, năm 1999 còn 4,77%, ) và phải mấy năm sau tăng trưởng kinh tế mới phục hồi Tình hình phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam trong năm 2008 đã chịu tác động tương tác giữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác Nền kinh

tế toàn cầu biến động phức tạp: giá dầu tăng mạnh và giá lương thực leo thang đến tháng 8/2008; khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008 và nền kinh tế thế giới lún sâu vào suy thoai Trong bối cảnh có những biến động không thuận của thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2008 đã chậm lại, còn 6,2% so với 8,5% năm 2007 Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2000; hơn nữa tăng trưởng quý IV/2008 chỉ đạt 5,7% so với 6,5% của ba quý đầu năm 2008

Kết quả là Việt Nam đã không bị rơi vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng thế giới, kinh

tế không bị suy thoái (tăng trưởng âm) mà chỉ bị suy giảm tốc độ tăng trưởng, rơi xuống đáy vào quý I/2009, nhưng bắt đầu từ quý II/2009 đã có dấu hiệu thoát đáy vượt dốc đi lên với tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã cơ bản ra khỏi sóng gió từ cuộc khủng hoảng thứ tư – khủng hoảng tài chính thế giới, đang tiến tới phục hồi để đạt mục tiêu cao hơn trong năm 2011

Do hội nhập kinh tế sâu rộng, kinh tế – xã hội của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 trong năm 2020 Tuy nhiên, nhờ có các biện pháp đối phó chủ động từ Trung ương tới địa phương, tác động y tế của dịch bệnh không nghiêm trọng như nhiều quốc gia khác Kinh tế vĩ mô và tài khóa giữ được ổn định, với mức tăng trưởng GDP ước tính đạt 1,81%, trong

6 tháng đầu năm 2020 Tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19 đang diễn ra là khó dự đoán, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh Đại dịch Covid-19 cũng cho thấy cần phải cải cách mạnh mẽ hơn để kinh tế phục hồi trong thời gian tới, như: cải thiện môi trường kinh

Trang 22

doanh, thúc đẩy kinh tế số, nâng cao hiệu quả đầu tư công Đây là các nội dung chính mà Việt Nam cần thực hiện để cải cách nhanh và mạnh hơn

Gần đây nhất, trong năm 2022, chiến sự Nga - Ukraine đã ảnh hưởng lớn tới kinh tế nước

ta Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường Nga và Ukraine với lượng hàng hóa không lớn nhưng lại có sự lan tỏa tới khu vực thị trường liên minh Á - Âu) là khu vực Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do (FTA) Do đó, sự đứt gãy chuỗi cung ứng sẽ tác động đến cả những thị trường liên đới khác, liên quan đến các giao dịch thanh toán với các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã bị ngừng trệ đơn hàng, đứt gãy nguồn cung nguyên vật liệu, chậm trễ trong các biện pháp thanh toán

- Hội nhập có thể dẫn đến phân phối không công bằng lợi ích và rủi ro cho các nước và các nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội

Trong quá trình hội nhập, các quốc gia có nền kinh tế mạnh có khả năng tận dụng lợi thế cạnh tranh của họ để thu hút đầu tư và xuất khẩu, trong khi các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển có thể gặp khó khăn trong việc cạnh tranh Điều này dẫn đến chênh lệch phát triển kinh

tế giữa các quốc gia, khiến một số quốc gia phát triển mạnh mẽ trong khi các quốc gia khác đứng lại Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2019, mặc dù hội nhập kinh tế

đã giúp tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở một số quốc gia, tuy nhiên khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia vẫn rất lớn Ví dụ, GDP của Mỹ và Nhật Bản đều trên 40.000 USD mỗi năm, trong khi đó GDP của Ethiopia chỉ khoảng 1.000 USD mỗi năm

Các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thường phải đối mặt với các thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế, ví dụ như cạnh tranh với các sản phẩm giá rẻ của các nước phát triển khác và khó khăn trong cải thiện công nghệ và chất lượng sản phẩm của mình Điều này có thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp và tăng thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo trong các nước

đó

Hội nhập kinh tế cũng có thể gây ra rủi ro về an ninh và môi trường Ví dụ, việc mở rộng thị trường và vận tải quốc tế có thể dẫn đến lưu lượng hàng hóa lớn đến các quốc gia, gây tăng đột biến lượng khí thải và ô nhiễm không khí Các nước đang phát triển có thể không đủ tài nguyên hoặc kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề này và sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề hơn các nước phát triển Hội nhập cũng có thể dẫn đến bất bình đẳng trong việc tiếp cận tài nguyên và cơ hội Các doanh nghiệp nước ngoài có thể có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên, thị trường và cơ hội kinh doanh, trong khi các doanh nghiệp địa phương nhỏ hơn có thể gặp khó khăn hơn trong việc cạnh tranh Điều này có thể dẫn đến sự tăng lên của các tập đoàn đa quốc gia, trong khi các doanh nghiệp địa phương có thể suy yếu hoặc gặp khó khăn

Trang 23

18

Quá trình hội nhập cũng có thể dẫn đến việc không đảm bảo đầy đủ quyền lợi và bảo vệ lao động cho các công nhân địa phương Các công ty nước ngoài có thể tận dụng việc không có quy định lao động chặt chẽ hoặc quản lý lao động kém để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn, đồng thời giảm bớt chi phí lao động Điều này có thể dẫn đến điều kiện lao động kém và đối mặt với nhiều rủi ro về an toàn lao động và quyền lao động của các công nhân, đồng thời đẩy các nhóm đang ở

vị trí yếu hơn vào tình trạng bất bình đẳng xã hội

2.2 Tác động của hội nhập đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam

Toàn cầu hóa là một quá trình không thể tránh khỏi trong thế giới hiện đại, quá trình này tăng cường sự liên kết giữa các nền kinh tế trên thế giới thông qua các hoạt động mua bán, đầu tư,

di chuyển lao động và các dịch vụ khác Tuy nhiên, tác động của nó đến các quốc gia đang phát triển như Việt Nam vẫn còn nhiều tranh cãi

Toàn cầu hóa đã có tác động lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam trong những năm qua Việt Nam có một lịch sử lâu đời, văn hóa phong phú và nền kinh tế đang trưởng thành

và phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng đã đem lại những thách thức và tác động đáng kể đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam

2.2.1 Cơ cấu các ngành kinh tế

a Tác động tích cực

Kể từ công cuộc đổi mới, Việt Nam hiện đang có một nền “kinh tế mở” đối với thương mại và hội nhập quốc tế Điều này đồng nghĩa với việc thị trường lao động sẽ ngày càng đa dạng

và có nhiều thay đổi để có thể thích nghi được với xu hướng toàn cầu hóa Trước hết, toàn cầu hóa

sẽ đi đôi với công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, nó sẽ dẫn đến sự chuyển dịch và thay đổi

cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, hiện đại và hiệu quả

Hình 4 Cơ cấu các ngành kinh tế đóng góp vào tổng GDP năm 2022

Nguồn: Tổng cục Thống kế Việt Nam

Trang 24

Ước tính vào năm 2022, tỷ lệ phần trăm các nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch

vụ đóng góp vào tổng GDP lần lượt là 11,8%, 38,26%, và 41,33% Nhóm ngành dịch vụ và công nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất, trong khi trước đây tỉ trọng của nhóm ngành nông nghiệp luôn đứng đầu trong 3 nhóm ngành này Điều này đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta Năm 2020, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ghi nhận tăng trưởng GDP dương khi đại dịch COVID bùng phát, điều này đã ghi điểm cộng cho Việt Nam trong mắt các nhà đầu

tư nước ngoài Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, năm 2020, tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 281 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2019 Trong đó, các sản phẩm chủ lực của Việt Nam như điện tử, dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm nông sản đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò

bệ đỡ trong việc đảm bảo ổn định kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong các cuộc khủng hoảng kinh

tế

Trong quá trình hội nhập, kinh tế Việt Nam đã có rất nhiều biến đổi Nhìn chung, cơ cấu kinh tế công - nông - dịch vụ cả nước đã chuyển đổi theo đúng quy luật khách quan Giá trị sản lượng nông nghiệp (cả nông, lâm, ngư nghiệp) liên tục tăng trưởng với tốc độ bình quân 5,55%/năm và tăng GDP 3,36%/năm Nước ta đã chú trọng đến phát triển thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung được hình thành (như vùng lúa gạo

ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, cà phê ở Tây Nguyên, chè ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, cao su ở Đông Nam Bộ ) Vì thế, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu thứ nhất về hạt tiêu (chiếm 14,3% thị phần thế giới), về cà phê vối (chiếm 40% thị phần thế giới), thứ hai về lúa gạo (chiếm 12% thị phần thế giới), về hạt điều (chiếm 9,5% thị phần thế giới) Từ một nước hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, đến nay Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới, với bình quân xuất khẩu 6-7 triệu tấn gạo/năm Sản xuất nông nghiệp phát triển ngày càng đồng bộ, toàn diện đáp ứng nhu cầu nội địa và dư thừa phục vụ xuất khẩu Thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản được mở rộng Đến nay, sản phẩm nông, lâm, thủy sản (NLTS) Việt Nam đã có mặt ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Với vị trí quan trọng như vậy, nông nghiệp đã trở thành chìa khoá đối với sự ổn định và phát triển của đất nước Khi tham gia vào quá trình hội nhập, nông nghiệp nước ta sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, bởi sẽ được tiếp cận thị trường nông sản của 150 nước thành viên WTO Đồng thời, cũng tạo ra những thời cơ thu hút vốn đầu tư FDI cho nông nghiệp Cho đến nay, đã có 781 dự án FDI đầu tư cho nông nghiệp, với tổng số vốn đăng ký trên 1,75 tỷ USD, đã và đang góp phần phát triển công

nghiệp chế biến nông sản, sản xuất cây, con giống có chất lượng cao…

Trang 25

20

Bảng 2 Cơ cấu ngành của Việt Nam giai đoạn năm 1985 - 2020

Ngành 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020 Nông nghiệp 38,06 38,74 27,18 24,53 20,9 18,38 17 14,85 Công nghiệp 28,88 22,67 28,76 36,73 41 32,13 33,25 33,72 Dịch vụ 33,06 38,59 44,06 38,74 38,1 36,94 39,73 41,63

Nguồn: Tổng cục Thống kế Việt Nam

Sự thay đổi này phù hợp với quá trình công nghiệp hóa ở các quốc gia này, trong đó đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Trong điều kiện hội nhập, kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng: giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực công nghiệp và dịch vụ, tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến tinh và chế biến sâu, giảm các mặt hàng xuất khẩu thô, chú trọng nhập khẩu công nghệ hiện đại, tinh xảo

và cải tiến chất lượng sản phẩm

Hội nhập mang lại cho Việt Nam những cơ hội lớn mới Bằng lợi thế vốn có về tài nguyên, lao động, thị trường, các ngành công nghiệp nhẹ, du lịch, dịch vụ Việt Nam phát triển các ngành

sử dụng nhiều lao động, nhiều nguyên liệu, cần ít vốn đầu tư, công nghệ trung bình tiên tiến tạo ra những hàng hoá - dịch vụ không thể thiếu trong cơ cấu hàng hoá - dịch vụ trên thị trường thế giới Chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp được thực hiện gắn liền với sự phát triển các ngành theo hướng đa dạng hóa, từng bước hình thành một số ngành trọng điểm và mũi nhọn, có tốc độ phát triển cao, thuận lợi về thị trường, có khả năng xuất khẩu Các sản phẩm công nghiệp quan trọng đều tăng khá như điện, thép, phân bón, dầu thô, xi măng, than… Sự phát triển này đã góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế: tỷ trọng GDP tính theo giá thực tế trong khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 23,2% năm 1996 lên 41,0% năm 2005, 41,6% năm 2006 và năm

2007 ước đạt 41,7% (năm 2007 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống mức khoảng 20,9% và khu vực dịch vụ tăng lên khoảng 37,6%) Tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong GDP tăng dần thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế quốc dân (năm 2007 chỉ tính riêng khu vực công nghiệp chiếm khoảng 34,6%) Đây là năm thứ ba liên tiếp ngành công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao

Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 1997-2007 Về giá trị sản xuất công nghiệp (tính theo giá so sánh năm 1994) năm 2007 ước tăng 17,1% so với năm 2006, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng 10,3%; khu vực ngoài nhà nước

Trang 26

tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2% Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp cũng chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến từ 83,9% năm 2006 lên khoảng 84,4% năm 2007 Đối với nhóm ngành chế biến nông, lâm, thủy, hải sản, nhất là chế biến thực phẩm và đồ uống đóng góp quan trọng vào cơ cấu chế biến với tỷ trọng là 21,0% năm 2006

và khoảng 21,3% năm 2007

Lợi thế so sánh trong các ngành chế biến, chế tạo sử dụng nhiều lao động đã được khai thác với ưu thế của ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu so với các sản phẩm xuất khẩu thô Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu đã có những thay đổi cơ bản, theo hướng vừa không ngừng nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Nhiều sản phẩm công nghiệp không chỉ đáp ứng cơ bản nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế như điện, than, phân bón, sắt thép… mà còn tham gia vào xuất khẩu và chiếm tỷ trọng cao (76,3%) như: mặt hàng nhựa, dệt may, điện tử và linh kiện máy tính, thủ công mỹ nghệ… Tăng trưởng xuất khẩu của khu vực này chủ yếu do một số ngành công nghiệp nhẹ; chẳng hạn, năm 2007, ngành dệt may đã chuyển từ sản xuất theo kiểu gia công xuất khẩu (có tỷ lệ lãi khoảng từ 3-6%) sang sản xuất theo phương thức mua đứt, bán đoạn (có tỷ lệ lãi khoảng từ 5-8%); kim ngạch xuất khẩu đạt 7,8 tỷ USD tăng khoảng 30% so với năm 2006 Các sản phẩm xuất khẩu của ngành dệt may và giày dép lần đầu tiên đạt trên 10 tỷ USD, dẫn đầu trong các ngành hàng tham gia xuất khẩu Đặc biệt, các sản phẩm

cơ khí xuất khẩu cũng là lần đầu tiên được bổ sung vào danh sách 10 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD (năm 2007 sản phẩm cơ khí tăng trưởng trên 120% so với năm

2006, đem lại kim ngạch xuất khẩu trên 2,2 tỷ USD) Đứng đầu danh sách nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD phải kể đến là dầu thô (trên 8,4 tỷ USD); tiếp theo là dệt may (7,7 tỷ USD); giày dép (3,9 tỷ USD)

Một số tác động của hội nhập APEC với du lịch Việt Nam

Hợp tác phát triển sản phẩm du lịch ASEAN sẽ góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Việt hiện nay

Tranh đủ được các nguồn khách nối tour trong khu vực để qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của du lịch khu vực ASEAN nói chung và khả năng kết nối khách giữa Việt Nam với các nước

và ngược lại

Việc nới lỏng điều kiện tự do đầu tư và di chuyển lao động giữa 12 nước nội khối trong AEC sẽ giúp gia tăng nhu cầu đi lại tìm kiếm cơ hội đầu tư, việc làm và kết hợp du lịch, tức gia tăng dòng khách quốc tế và tăng cường mật độ, quy mô các loại hình du lịch- kinh doanh, du lịch- hội họp ngay trong nội khối AEC mà Việt Nam là một thành viên

Trang 27

22

Hình 5 Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, giai đoạn 1990-2019 (nghìn lượt)

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Tổng cục Thống kê

Lượng khách du lịch quốc tế và nội địa ngày càng nhiều, du lịch mang lại nguồn thu ngày một lớn cho nền kinh tế Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân, mang lại nguồn thu không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch

mà gián tiếp đối với các ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập cho các cộng đồng dân

cư địa phương

Năm 1990, tổng thu từ du lịch mới đạt 1.340 tỷ đồng thì đến năm 2019, con số đó là 755.000 tỷ đồng (tương đương 32,8 tỷ USD), trong đó tổng thu từ khách du lịch quốc tế đạt 421.000

tỷ đồng (18,3 tỷ USD), tổng thu từ khách du lịch nội địa đạt 334.000 tỷ đồng (14,5 tỷ USD)

Hình 6 Tổng thu từ khách du lịch, giai đoạn 1990 - 2019 (tỷ đồng)

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Tổng cục Thống kê

Trang 28

Bên cạnh đó, hệ thống tài chính của quốc gia sẽ được thúc đẩy phát triển theo chiều sâu đi sau quá trình hội nhập kinh tế; nó có tác động tích cực đến tăng trưởng nhờ vào việc sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn Đến lượt tăng trưởng lại dẫn đến tài chính phát triển sâu hơn Sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán sẽ làm tăng thanh khoản cho thị trường, thúc đẩy thị trường phát triển Đồng thời, các định chế tài chính quốc tế sẽ du nhập công cụ tài chính mới, tăng tính cạnh tranh hơn trên thị trường

Ngoài ra, theo báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, từ năm 2000 đến 2018, Việt Nam là một trong những quốc gia chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh nhất thế giới, với mức tăng trưởng GDP trung bình đạt 6,8% mỗi năm Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tận dụng được cơ hội từ toàn cầu hóa để mở rộng kinh doanh và tăng cường cạnh tranh Cụ thể, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong năm 2020, số lượng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu đạt hơn 35.000 doanh nghiệp, tăng 5,2% so với năm trước đó Trong đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm khoảng 70% trong tổng số doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam Toàn cầu hóa cũng đã tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi cho Việt Nam Theo báo cáo của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/10/2022, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đạt hơn 22,46 tỷ

USD, bằng 94,6% so với cùng kỳ năm 2021, tăng 9,9 điểm phần trăm so với 9 tháng

Hình 7 Cơ cấu ĐTNN 10 tháng năm 2022 theo tháng và theo thành phần vốn đầu tư

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 12,9 tỷ USD, chiếm 57,5% tổng vốn đầu tư đăng ký Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư

Trang 29

24

hơn 3,87 tỷ USD, chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo lần lượt là các ngành sản xuất, phân phối điện; hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ với vốn đăng ký đạt lần lượt hơn 928 triệu USD và hơn 853 triệu USD

b Tác động tiêu cực

Doanh nghiệp và vốn nước ngoài chỉ tập trung đầu tư vào các ngành tạo ra lợi nhuận lớn

mà bỏ qua ngành nông nghiệp vì nông nghiệp vốn là ngành tồn tại nhiều rủi ro bởi tác động của thiên tai, dịch bệnh

Trên thực tế, nông nghiệp đang đứng ngoài trong cuộc chạy đua thu hút vốn FDI Tính trung bình trong 10 năm qua, tỷ lệ vốn FDI vào nông nghiệp rất thấp, chỉ chiếm 5,4% trong tổng

số vốn FDI Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 10 tháng đầu năm 2008 cả nước có 953 dự án đầu tư FDI với tổng số vốn là 58,3 tỉ USD, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng có 512 dự án với tổng số vốn là 32,5 tỉ USD, chiếm 55,7%; khu vực dịch vụ có 400 dự án với tổng số vốn 25,5 tỉ USD, chiếm 43,9%; khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ có 42 dự án với tổng số vốn 0,3 tỉ USD, chiếm 0,5%

Phần lớn dự án FDI vào nông nghiệp tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh vùng sâu, vùng xa hầu như chưa thu hút được dự án nào Khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, mỗi nơi chỉ thu hút được vài chục triệu USD Điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở các tỉnh miền núi, miền Trung và Tây Nguyên

Đầu tư FDI trong khu vực nông nghiệp cũng có độ chênh lệch cao giữa các ngành nghề, thường tập trung chủ yếu vào các dự án thu hồi vốn nhanh Có đến 53,7% tổng số vốn FDI được đưa vào ngành chế biến nông sản thực phẩm, 24,7% vốn vào chế biến lâm sản Ngành chăn nuôi

và chế biến thức ăn gia súc thu được 12% và thấp nhất là ngành trồng trọt chỉ thu hút được 8,9% tổng số vốn Trong trồng trọt, rất ít dự án triển khai vào việc phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp, lai tạo giống cây trồng, vật nuôi mới, chế biến các loại rau quả xuất khẩu có kỹ thuật cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện Việt Nam

Nông nghiệp nước ta mới thu hút được vốn FDI chủ yếu từ các nước châu á có nền công nghệ chưa thực sự phát triển cao như Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma- -xi-a, Hàn Quốc và Trung laiQuốc Dù đã có những chính sách ưu đãi đầu tư, ngành nông nghiệp nước ta vẫn chưa có khả năng thu hút đầu tư từ các nước có nền nông nghiệp mạnh như: Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây- -a và các nước lichâu Âu

Điều tra của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp, Nông thôn Việt Nam (IPSARD) cũng cho thấy phần lớn các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp

Trang 30

Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có mức vốn thấp dưới 2 triệu USD Không ít doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, thậm chí có doanh nghiệp có mức vốn dưới 500.000 USD như Công ty TNHH Shin Wall của Hàn Quốc đóng tại huyện Phúc Thọ (thuộc tỉnh Hà Tây cũ), vốn đăng ký kinh doanh chỉ có 160.000 USD Các doanh nghiệp đầu tư từ 5 triệu USD trở lên không nhiều, chỉ chiếm khoảng 18% tổng số doanh nghiệp Một điểm đáng chú ý là, vốn thực tế hoạt động của các doanh nghiệp FDI còn rất thấp so với vốn đăng ký kinh doanh Việc tổ chức triển khai dự án chậm

do nhiều nguyên nhân, ngoài những nguyên nhân chủ quan, cũng có những lý do khách quan như nhiều doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư thăm dò thị trường hoặc như lựa chọn công nghệ thích hợp vào Việt Nam

Cũng theo thông tin của IPSARD, bên cạnh một số dự án FDI đầu tư thành công vẫn còn nhiều doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chưa hiệu quả, nhiều doanh nghiệp không đầu tư hết số vốn đăng ký, một số khác rút giấy phép kinh doanh vì nhiều lý do khác nhau Tất cả các hoạt động kém hiệu quả đó đã góp phần tạo ra dư luận không tốt về môi trường đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng và ở Việt Nam nói chung

2.2.2 Cơ cấu thành phần kinh tế

a Tác động tích cực

Cơ cấu thành phần kinh tế Việt Nam trước toàn cầu hóa, hội nhập

Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế có hai hình thức sở hữu, hai loại hình kinh tế chủ yếu là xí nghiệp quốc doanh và tập thể, chỉ có một ít là loại hình kinh tế cá thể, chưa

có kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn, với hàng chục nghìn xí nghiệp quốc doanh Gọi là xí nghiệp quốc doanh, nhưng chưa thể gọi là doanh nghiệp, bởi xí nghiệp gần như không có quyền tự chủ, mọi cái từ đầu vào (lao động, vốn đầu tư, nguyên nhiên vật liệu ), sản xuất, kinh doanh (cái gì, bao nhiêu ), đầu ra (tiêu thụ ở đâu, giá cả ra sao ), đến kết quả sản xuất, kinh doanh (lãi, lỗ, ) đều do Nhà nước lo, Nhà nước chịu Kinh tế tập thể chiếm gần hết khu vực ngoài Nhà nước với hàng nghìn hợp tác xã cũng thuộc đủ các ngành Gọi là kinh tế tập thể dựa trên nguyên tắc tự nguyện nhưng phương án ăn chia

do Nhà nước duyệt; vật tư chủ yếu do Nhà nước cung cấp; sản phẩm do Nhà nước thu mua; xã viên ăn theo định lượng

Cơ cấu thành phần kinh tế Việt Nam sau toàn cầu hóa, hội nhập

Nhờ đổi mới, mở cửa hội nhập (bắt đầu từ năm 1986), cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch khá rõ Trước hết là trong cơ cấu GDP, tỷ trọng khu vực Nhà nước đã giảm xuống còn dưới 1/3; của khu vực tập thể còn rất thấp (5,05%); của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm gần 20%; còn khu vực kinh tế tư nhân chiếm trên dưới 11% Cơ cấu thành phần kinh tế về

Trang 31

26

lao động đang làm việc, nếu năm 1986, lao động khu vực Nhà nước là 15,5%, khu vực ngoài Nhà nước chiếm 84,5% thì nay, khu vực Nhà nước chỉ còn chiếm 10,3%, khu vực ngoài Nhà nước chiếm 86,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,3% Vốn đầu tư đã có sự chuyển dịch theo hướng khai thác các nguồn lực của các thành phần kinh tế ở trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước đã giảm từ 54,3% (thời kỳ 1996-2000) xuống còn 39,3% (thời kỳ 2011-2013); của khu vực ngoài Nhà nước tương ứng tăng từ 24,1% lên 38,1%; của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng

từ 15,7% (thời kỳ 2001-2005) lên 22,6% (thời kỳ 2011-2013)

Về tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (TMBL), tỷ trọng kinh tế Nhà nước từ chỗ chiếm 40,7% năm 1985 xuống còn 10,2% năm 2013; tỷ trọng của khu vực ngoài Nhà nước tăng tương ứng từ 59,3% lên 86,7%, trong đó của kinh tế tập thể giảm còn 1%, của kinh

tế tư nhân đã chiếm trên dưới 1/3; tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trước năm 1994 chưa có gì, nay đã chiếm 3,1% Thu hút vốn đầu FDI có thêm các nguồn vốn cũng như KHKT hiện đại để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động

Tổng quan, các số liệu thực tế cho thấy rằng toàn cầu hóa đã đóng góp tích cực đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng toàn cầu hóa cũng đem lại một số thách thức và khó khăn cho Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cạnh tranh với các nền kinh tế khác trên thế giới

b Tác động tiêu cực

Sự phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu và FDI

Sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu và FDI của Việt Nam được coi là một vấn đề tiềm

ẩn rủi ro đối với đất nước Trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 20,3% GDP của Việt Nam, họ đã đóng góp tới 67,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm

2019 Một trong những ví dụ điển hình về sự đóng góp “ngoại cỡ” của khu vực đầu tư nước ngoài vào sự phát triển kinh tế và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam là Samsung Năm 2019, doanh thu của Samsung tại Việt Nam là khoảng 68,3 tỷ USD, bằng khoảng 26% GDP của Việt Nam; các sản phẩm xuất khẩu của công ty trị giá 51,3 tỷ đô la, chiếm 19,4% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Nếu Samsung quyết định ngừng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động tại Việt Nam, nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng nặng nề

Cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhu cầu từ bên ngoài và năng lực xuất khẩu của khu vực FDI khiến nền kinh tế của Việt Nam dễ bị tổn thương trước khủng hoảng toàn cầu Việc Việt

Trang 32

Nam mở rộng quá nhiều các FTA với bên ngoài nhưng quên việc bảo vệ thị trường trong nước sẽ khiến doanh nghiệp nước ngoài dần chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

Chịu sự cạnh tranh gay gắt hơn trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia

Có thể nói, đây là thách thức lớn và trực diện nhất, bởi các sản phẩm và doanh nghiệp của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm giá rẻ, chất lượng tốt từ nước ngoài, không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay trên thị trường nội địa Việc mở cửa cho hàng hóa đến từ các nước đối tác FTA thông qua loại bỏ phần lớn thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu sẽ dần xóa nhòa biên giới thị trường Theo thống kê sơ bộ của Viện chiến lược và chính sách tài chính, với 96% tổng

số doanh nghiệp đang hoạt động trong nước là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, gặp nhiều khó khăn

về vốn, mặt bằng sản xuất kinh doanh, công nghệ, kỹ năng quản trị và điều hành áp lực cạnh tranh với những doanh nghiệp công nghệ cao, những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới là rất lớn Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam còn đối mặt với những thách thức từ những cuộc tấn công mạng vào các hệ thống quản lý, hệ thống dữ liệu để ăn cắp dữ liệu, ăn cắp công nghệ, kế hoạch, các bí quyết kinh doanh, nhất là của những đối thủ cạnh tranh

Sản phẩm nông nghiệp và nông dân Việt Nam là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong hội nhập, do nền nông nghiệp hiện áp dụng còn ở mức khiêm tốn về các công nghệ tiên tiến trên thế giới cho trồng trọt, chế biến và sản xuất nông sản Đồng thời, "chi phí sản xuất vẫn còn cao" do nền nông nghiệp chưa được công nghiệp hóa, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nông dân với quy mô hoạt động nhỏ Trong thời gian gần đây, nông sản Việt Nam khó cạnh tranh với nông sản các nước khác cả về chất lượng cũng như uy tín

Không chỉ doanh nghiệp và người nông dân, chính phủ ta cũng phải cạnh tranh với chính phủ các nước trong cải thiện môi trường thu hút đầu tư, nguồn nhân lực Các lĩnh vực kinh tế vốn được bảo hộ bị thách thức gay gắt do việc cắt giảm thuế quan, như ngành sản xuất ô-tô, mía đường, gạo, xăng dầu…

2.2.3 Cơ cấu thương mại quốc tế

a Độ mở nền kinh tế

Ở Việt Nam, trong 20 năm đầu (1986-2006), bước đầu hình thành các ngành sản xuất hướng về xuất khẩu, xuất hiện hai mặt hàng xuất khẩu quan trọng làm thay đổi đáng kể cán cân thương mại, đặc biệt là dầu thô và gạo Từ năm 1989, Việt Nam thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu và cải thiện cán cân thương mại Quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam được mở rộng với nhiều nước trên thế giới.Kim ngạch xuất khẩu: Trước khi gia nhập WTO (năm 2006), 03 quốc gia nhập khẩu từ Việt Nam nhiều nhất là: Hoa Kỳ 7,8 tỷ USD, Nhật Bản 5,2 tỷ USD và Australia 3,7 tỷ USD Đến năm 2016, 03 quốc gia nhập khẩu

Trang 33

đó, đáng lưu ý là trong giai đoạn 2006-2016, kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng rất mạnh (tăng thêm 42,4 tỷ, gấp 6,7 lần trước khi gia nhập WTO)

Cán cân thương mại được cải thiện rõ nét, từ mức 14,2 tỷ USD năm 2007 và 3,7 tỷ USD năm 2015, đã ghi nhận mức xuất siêu kỷ lục - gần 20 tỷ USD năm 2020 Thặng dư thương mại năm 2020 cao hơn mức thặng dư năm 2019 (10,8 tỷ USD) và năm 2018 (6,4 tỷ USD); gấp hơn

10 lần năm 2017 (1,9 tỷ USD) và gần 11 lần so với mức thặng dư năm 2016 (1,6 tỷ), thành tích này chủ yếu được tạo ra bởi khu vực FDI

Hình 8 Kim ngạch thương mại của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2021

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

Trong giai đoạn 1990-2018, kim ngạch ngoại thương của Việt Nam tăng từ 5,16 tỷ USD lên 480,94 tỷ USD, lũy kế vốn đăng ký của các dự án FDI đã tăng từ 1,6 tỷ USD năm 1990 lên 415,3 tỷ USD vào cuối năm 2018 Thành tích thương mại và FDI ấn tượng của Việt Nam trong

30 năm qua đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế cởi mở nhất thế giới

Về xuất khẩu hàng hóa/GDP, nếu năm 1985 mới đạt 5% thì năm 1995, sau khi đẩy mạnh

mở cửa hội nhập (Mỹ bỏ cấm vận, Việt Nam gia nhập ASEAN…) đã đạt 26,2%; năm 2000, sau khi ký Hiệp định Thương mại song phương Việt-Mỹ đã đạt 46,4%; năm 2008, sau khi gia nhập

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đạt 64,3%; năm 2013 đã đạt 77% - cao hơn nhiều trước đổi mới, trước mở cửa hội nhập Đây cũng là tỷ lệ thuộc loại cao trong khu vực và trên thế giới

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Vinh (2017), “Nhìn lại quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sau 30 năm đổi mới”, tạp chí Khoa học Đại học Mở TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sau 30 năm đổi mới
Tác giả: Nguyễn Tấn Vinh
Năm: 2017
2. Đồng chí Trần Tuấn Anh (2016), “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, những vấn đề đặt ra cho giai đoạn tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, những vấn đề đặt ra cho giai đoạn tới
Tác giả: Đồng chí Trần Tuấn Anh
Năm: 2016
3. Nguyễn Thị Mỹ Linh (2018), “Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam”, tạp chí KH và CN Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Linh
Năm: 2018
4. Bạch Tân Sinh (2017), “Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của Việt Nam với các nước ASEAN hướng tới phát triển bền vững”, Tạp chí JSTPM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của Việt Nam với các nước ASEAN hướng tới phát triển bền vững
Tác giả: Bạch Tân Sinh
Năm: 2017
5. Khang Nhi (2020), “Xuất khẩu lao động của Việt Nam vượt mức 100.000 người trong 6 năm liên tiếp,”, Tạp chí Kinh tế & Đô thị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động của Việt Nam vượt mức 100.000 người trong 6 năm liên tiếp
Tác giả: Khang Nhi
Năm: 2020
6. Nguyễn Minh Phong (2022), “Dấu ấn tích cực trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam,” Báo Điện tử Chính Phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn tích cực trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Phong
Năm: 2022
7. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), “Tác động của hội nhập quốc tế lên bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị tại Việt Nam,” Luận án Tiến sĩ Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hội nhập quốc tế lên bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2014
8. Phạm Thị Minh Nguyệt (2014), “Tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đối với đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đối với đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Phạm Thị Minh Nguyệt
Năm: 2014
9. Tổng cục thống kế (2021), “ Xuất, nhập khẩu Việt Nam-ASEAN: Phát triển mạnh mẽ” . 10. ThS. ĐỖ NGỌC TRÂM (Khoa Kế toán kiểm toán - Học viện Ngân hàng) (2019), “Những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với kinh tế thương mại Việt Nam”, Tạp chí Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất, nhập khẩu Việt Nam-ASEAN: Phát triển mạnh mẽ”". 10. ThS. ĐỖ NGỌC TRÂM (Khoa Kế toán kiểm toán - Học viện Ngân hàng) (2019), “"Những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với kinh tế thương mại Việt Nam”
Tác giả: Tổng cục thống kế (2021), “ Xuất, nhập khẩu Việt Nam-ASEAN: Phát triển mạnh mẽ” . 10. ThS. ĐỖ NGỌC TRÂM (Khoa Kế toán kiểm toán - Học viện Ngân hàng)
Năm: 2019
13. Phạm Đức Minh và Phạm Thị Ngân Hà (chủ biên, 2021), “Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam”, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam”
14. Tạp chí cộng sản, “Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết số 06 – NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết số 06 – NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII”, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2021
16. TS. Ngô Hoàng Anh - CN. Lê Thị Nghệ (2019), “Tác động của toàn cầu hóa đến giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam”, Ban Tuyên giáo Tỉnh Kontum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của toàn cầu hóa đến giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam”
Tác giả: TS. Ngô Hoàng Anh - CN. Lê Thị Nghệ
Năm: 2019
17. Thành Duy, “ Văn hoá Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá - thời cơ và thách thức” , Nxb Văn hoá Thông tin, Viện Văn hoá, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá - thời cơ và thách thức”
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
18. NGUYỄN THỊ THU THỦY (Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) (2021), “Giải pháp chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hướng tới tăng trưởng kinh tế”, Tạp chí Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hướng tới tăng trưởng kinh tế”
Tác giả: NGUYỄN THỊ THU THỦY (Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội)
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w