1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mua bán sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam

40 825 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mua bán sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Ngân hàng
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 484 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi hệ thống ngân hàng một cấp của Việt Nam được tách thành ngân hàng trung ương đại diện bởi NHNN và các ngân hàng thương mại (NHTM) quốc doanh vào năm 1988, khu vực ngân hàng đã có sự tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ về số lượng, quy mô và đa dạng về cơ cấu sở hữu cũng như loại hình. Đợt sóng phát triển mạnh mẽ đầu tiên là sự thành lập tới 20 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) từ năm 1991 đến 1994 mà đến nay vẫn còn tồn tại. 11 năm sau đó, từ 1995 đến 2005, chỉ có 4 ngân hàng mới được cấp phép hoạt động. Đợt sóng thành lập ngân hàng mạnh mẽ thứ hai được bắt đầu từ năm 2006 với việc chuyển đổi 10 ngân hàng nông thôn thành ngân hàng thương mại cổ phần (đô thị) và thành lập mới 4 ngân hàng. Hiện nay, khu vực ngân hàng trong nước của Việt Nam có 5 NHTM thuộc sở hữu Nhà nước và 37 NHTMCP.Trong bối cảnh gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngành tài chính ngân hàng tiếp cận với nhiều cơ hội nhưng bên cạnh đó cũng phải đối mặt với không ít thách thức. Để tăng khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã chính thức được thông qua vào cuối năm 2011, trong đó mua bán và sáp nhập (MA) được coi là một trong những phương thức quan trọng trong quá trình tái cấu trúc với mục tiêu tăng cường năng lực tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như khả năng quản lý và tiết kiệm chi phí. Các hoạt động MA trong lĩnh vực ngân hàng đã bắt đầu xuất hiện sau ngày nước ta chuyển sang cơ chế mở cửa thị trường năm 1986, tuy nhiên số lượng các thương vụ chưa nhiều và quy mô của thương vụ còn khá khiêm tốn. Cho đến thời điểm hiện tạ, MA vẫn còn là khái niệm khá mới mẻ với nhiều người. Riêng hoạt động MA ngân hàng thì mới thực sự được nhắc đến nhiều kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007. Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu thêm về hoạt động MA nói chung và đặc biệt là hoạt động MA trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng em đã quyết định chọn đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động MA ngân hàng tại Việt Nam”.2. Mục tiêu nghiên cứuMục tiêu nghiên cứu của đề tài đó là :Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng MA ngân hàng Việt Nam, qua đó chỉ ra hoạt động MA trong lĩnh vực ngân hàng là một xu thế tất yếu.Thứ hai, trên cơ sở thực trạng MA ngân hàng tại Việt Nam thời gian qua, chỉ ra các mặt đạt được và những điểm hạn chế của hoạt động này cùng với nguyên nhân của các hạn chế đó.Cuối cùng là đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hạn chế của hoạt động MA ngân hàng tại Việt Nam.3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động MA của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Phạm vi là các giao dịch MA ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, đề tài còn đề cập đến một số lĩnh vực khác như pháp lý có liên quan đến hoạt động này.4.Nội dung nghiên cứuNội dung nghiên cứu của đề tài đó là thực trạng hoạt động MA ngân hàng tại Việt Nam từ khi bắt đầu xuất hiện cho tới thời điểm hiện tại và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động MA ngân hàng tại Việt Nam. Theo đó, hoạt động MA ngân hàng bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ những năm cuối 90 đầu 2000. Ban đầu mới chỉ là các vụ sáp nhập các ngân hàng nhỏ trong nước với nhau, số lượng các thương vụ cũng chỉ rải rác qua các năm. Kể từ năm 2005, khi nước ta thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì các thương vụ có yếu tố nước ngoài bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt, sau khủng hoảng kinh tế 2007 và với đề án tái cấu trúc ngân hàng của NHNN năm 2011, hoạt động MA ngân hàng sôi nổi hơn rất nhiều. Thị trường mua bán sáp nhập đã xuất hiện các thương vụ lớn đáng chú ý. Tuy nhiên, do thời gian phát triển chưa lâu và những đặc điểm riêng có của thị trường Việt Nam, hoạt động MA ngân hàng có những nét riêng và còn tồn tại rất nhiều hạn chế cần khắc phục.Từ việc chỉ ra các tồn tại đó, đề tài đã nêu ra một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động MA ngân hàng tại Việt Nam. 5.Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như : tổng hợp, phân tích, so sánh,…Số liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập chủ yếu qua trang web của các ngân hàng ; các báo, tạp chí chuyên ngành ngân hàng; báo cáo của các tổ chức tư vấn về mua bán sáp nhập doanh nghiệp; các bài viết trên mạng internet ,..6.Kết cấu đề tàiNgoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được trình bày trong ba chương:Chương 1: Thực trạng và nguyên nhân hạn chế của hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam.Chương 2: Các giải pháp đối với ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mua bán sáp nhập Chương 3: Các giải pháp hỗ trợ khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

CNTT Công nghệ thông tin

CTCP Công ty cổ phần

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

EPS Lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu

M&A Mua bán Sáp nhập

NH Ngân hàng

Trang 2

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

P/E Hệ số giá trên thu nhập

PVN Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam

ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn

Bảng 1.1: Các giao dịch M&A ngân hàng giai đoạn 1994-2004

Bảng 1.2: Tỷ lệ sở hữu của một số ngân hàng nước ngoài đối với ngân hàng trongnước tình đến 8/2008

Bảng 1.3: Bảng xếp hạng các ngân hàng Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Kể từ khi hệ thống ngân hàng một cấp của Việt Nam được tách thành ngânhàng trung ương đại diện bởi NHNN và các ngân hàng thương mại (NHTM) quốcdoanh vào năm 1988, khu vực ngân hàng đã có sự tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ về

số lượng, quy mô và đa dạng về cơ cấu sở hữu cũng như loại hình Đợt sóng pháttriển mạnh mẽ đầu tiên là sự thành lập tới 20 ngân hàng thương mại cổ phần(NHTMCP) từ năm 1991 đến 1994 mà đến nay vẫn còn tồn tại 11 năm sau đó, từ

1995 đến 2005, chỉ có 4 ngân hàng mới được cấp phép hoạt động Đợt sóng thànhlập ngân hàng mạnh mẽ thứ hai được bắt đầu từ năm 2006 với việc chuyển đổi 10ngân hàng nông thôn thành ngân hàng thương mại cổ phần (đô thị) và thành lập mới

4 ngân hàng Hiện nay, khu vực ngân hàng trong nước của Việt Nam có 5NHTM thuộc sở hữu Nhà nước và 37 NHTMCP

Trong bối cảnh gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngành tài chínhngân hàng tiếp cận với nhiều cơ hội nhưng bên cạnh đó cũng phải đối mặt vớikhông ít thách thức Để tăng khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng Việt Namtrong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

đã chính thức được thông qua vào cuối năm 2011, trong đó mua bán và sáp nhập(M&A) được coi là một trong những phương thức quan trọng trong quá trình tái cấutrúc với mục tiêu tăng cường năng lực tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ cũngnhư khả năng quản lý và tiết kiệm chi phí Các hoạt động M&A trong lĩnh vực ngânhàng đã bắt đầu xuất hiện sau ngày nước ta chuyển sang cơ chế mở cửa thị trườngnăm 1986, tuy nhiên số lượng các thương vụ chưa nhiều và quy mô của thương vụcòn khá khiêm tốn Cho đến thời điểm hiện tạ, M&A vẫn còn là khái niệm khá mới

mẻ với nhiều người Riêng hoạt động M&A ngân hàng thì mới thực sự được nhắcđến nhiều kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007 Xuất phát từmong muốn tìm hiểu thêm về hoạt động M&A nói chung và đặc biệt là hoạt động

M&A trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng em đã quyết định chọn đề tài “Đánh giá

thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Trang 4

M&A ngân hàng tại Việt Nam”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài đó là :

Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng M&A ngân hàng Việt Nam, qua đó chỉ ra hoạtđộng M&A trong lĩnh vực ngân hàng là một xu thế tất yếu

Thứ hai, trên cơ sở thực trạng M&A ngân hàng tại Việt Nam thời gian qua, chỉ

ra các mặt đạt được và những điểm hạn chế của hoạt động này cùng với nguyênnhân của các hạn chế đó

Cuối cùng là đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hạn chế của hoạt độngM&A ngân hàng tại Việt Nam

3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động M&A của các ngân hàngthương mại Việt Nam Phạm vi là các giao dịch M&A ngân hàng trên lãnh thổ ViệtNam Ngoài ra, đề tài còn đề cập đến một số lĩnh vực khác như pháp lý có liên quanđến hoạt động này

4.Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài đó là thực trạng hoạt động M&A ngân hàng tạiViệt Nam từ khi bắt đầu xuất hiện cho tới thời điểm hiện tại và một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam Theo đó, hoạtđộng M&A ngân hàng bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ những năm cuối 90 đầu

2000 Ban đầu mới chỉ là các vụ sáp nhập các ngân hàng nhỏ trong nước với nhau,

số lượng các thương vụ cũng chỉ rải rác qua các năm Kể từ năm 2005, khi nước tathực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì các thương

vụ có yếu tố nước ngoài bắt đầu xuất hiện Đặc biệt, sau khủng hoảng kinh tế 2007

và với đề án tái cấu trúc ngân hàng của NHNN năm 2011, hoạt động M&A ngânhàng sôi nổi hơn rất nhiều Thị trường mua bán sáp nhập đã xuất hiện các thương vụlớn đáng chú ý Tuy nhiên, do thời gian phát triển chưa lâu và những đặc điểm riêng

có của thị trường Việt Nam, hoạt động M&A ngân hàng có những nét riêng và còntồn tại rất nhiều hạn chế cần khắc phục.Từ việc chỉ ra các tồn tại đó, đề tài đã nêu ra

Trang 5

một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động M&A ngânhàng tại Việt Nam

5.Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như : tổng hợp, phân tích, sosánh,…

Số liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập chủ yếu qua trang web của các ngânhàng ; các báo, tạp chí chuyên ngành ngân hàng; báo cáo của các tổ chức tư vấn vềmua bán sáp nhập doanh nghiệp; các bài viết trên mạng internet ,

6.Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được trình bày trong bachương:

Chương 1: Thực trạng và nguyên nhân hạn chế của hoạt động mua bán sápnhập ngân hàng tại Việt Nam

Chương 2: Các giải pháp đối với ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng mua bán sáp nhập

Chương 3: Các giải pháp hỗ trợ khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động muabán sáp nhập ngân hàng

Trang 6

CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ CỦA HOẠT ĐỘNG MUA BÁN SÁP NHẬP NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

1.1 Thực trạng M&A ngân hàng thương mại Việt Nam

1.1.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động M&A ngân hàng

Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy ngân hàng cũng bị điềuchỉnh bởi các quy định chung của pháp luật về hoạt động mua lại và sáp nhập đốivới doanh nghiệp

Với Luật Doanh nghiệp năm 2005, các quy định về mua lại và sáp nhập đượcquy định tại Điều 150 (Chia doanh nghiệp), Điều 151 (Tách doanh nghiệp), Điều

152 (Hợp nhất doanh nghiệp), Điều 153 (Sáp nhập doanh nghiệp) đã đề cập đếnmột số vấn đề trong tổ chức, quản lý doanh nghiệp với các trường hợp về chia, tách,hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp Luật Đầu tư năm 2005 cũng đề cập đến hìnhthức đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại của các nhà đầu

tư trong và ngoài nước vào lãnh thổ Việt Nam

Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định tập trung kinh tế là hành vi của doanhnghiệp bao gồm: Sáp nhập doanh nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp; mua lại doanhnghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác theoquy định của pháp luật (Điều 16) Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhấtdoanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp được quy định tại Điều 17 Từ Điều 18 đếnĐiều 20 quy định trường hợp tập trung kinh tế bị cấm; trường hợp miễn trừ đối vớitập trung kinh tế bị cấm và thông báo việc tập trung kinh tế

Điều 29, Điều 32, Điều 69 Luật Chứng khoán năm 2006, Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010 điều chỉnh các hoạt động mualại và sáp nhập trong lĩnh vực chứng khoán và các công ty đại chúng

Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 của Chính phủ về nhà đầu tưnước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam và Thông tư số07/2007/TT-NHNN ngày 29/11/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị

Trang 7

định số 69/2007/NĐ-CP đã tập trung vào việc quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tưnước ngoài; điều kiện để ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nướcngoài; điều kiện của tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng ViệtNam; điều kiện của các nhà đầu tư nước ngoài khi mua cổ phần của các ngân hàngViệt Nam trên thị trường chứng khoán; điều kiện tham gia quản trị tại ngân hàngViệt Nam.

Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam quy định việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại tổ chức tín dụng Thông tư

số 04 đã kế thừa và loại bỏ những hạn chế của Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mualại tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam được ban hành theo Quyết định số241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 của Ngân hàng Nhà nước, theo đó phạm vicác đối tượng được/thuộc diện sáp nhập, hợp nhất được mở rộng; kế thừa tinh thầncủa Luật Doanh nghiệp năm 2005 về hợp nhất, sáp nhập, Luật Cạnh tranh năm 2004

về tập trung kinh tế, đồng thời đảm bảo tuân thủ các cam kết của Việt Nam đối với

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cụ thể:

Về hình thức mua lại và sáp nhập, Thông tư quy định việc sáp nhập, hợp nhất

và mua lại giữa các tổ chức tín dụng chỉ được tiến hành dưới một số hình thức nhấtđịnh Các hình thức sáp nhập bao gồm: Ngân hàng, công ty tài chính, tổ chức tíndụng hợp tác sáp nhập vào một ngân hàng; công ty tài chính sáp nhập vào một công

ty tài chính; công ty cho thuê tài chính sáp nhập vào một công ty cho thuê tài chính.Các hình thức hợp nhất bao gồm: Ngân hàng được hợp nhất với ngân hàng, công tytài chính, tổ chức tín dụng hợp tác để thành một ngân hàng; các công ty tài chínhhợp nhất thành một công ty tài chính; các công ty cho thuê tài chính hợp nhất thànhmột công ty cho thuê tài chính Các hình thức mua lại bao gồm: Một ngân hàngđược mua lại công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính; một công ty tài chínhđược mua lại công ty cho thuê tài chính

Về điều kiện tiến hành mua lại và sáp nhập, Thông tư cũng quy định điều kiện

để tiến hành hợp nhất, sáp nhập hay mua lại các tổ chức tín dụng, theo đó việc hợpnhất, sáp nhập hay mua lại không được thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm

Trang 8

theo quy định của Luật Cạnh tranh Các tổ chức tín dụng tham gia các hoạt độngnày phải phối hợp xây dựng một đề án thực hiện hợp nhất, sáp nhập, hoặc mua lạikhông trái với nội dung của hợp đồng đã ký Ngoài ra, tổ chức tín dụng còn lại saukhi tiến hành hợp nhất, sáp nhập, hoặc mua lại phải đảm bảo đáp ứng điều kiện vềvốn pháp định theo quy định của pháp luật.

Về mặt thủ tục, Ngân hàng Nhà nước sẽ lấy ý kiến tham gia của chi nhánhNgân hàng Nhà nước tại địa phương, Uỷ ban nhân dân địa phương nơi tổ chức tíndụng tham gia mua lại đặt trụ sở chính và nếu thấy cần thiết sẽ lấy ý kiến của các

Vụ, Cục thuộc Ngân hàng Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến mộthoặc một số nội dung trong hồ sơ đề nghị mua lại và quan điểm về việc mua lại để

ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận Nếu được chấp thuận nguyên tắc,các tổ chức tín dụng tham gia phải lấy ý kiến của cơ quan có thẩm quyền của tổchức tín dụng để thông qua lại các nội dung thay đổi tại đề án trước khi lập hồ sơchính thức gửi lại cho Ngân hàng Nhà nước để được chấp thuận chính thức Sau đó,các tổ chức chấm dứt hoạt động cần phải hoàn tất thủ tục rút giấy phép kinh doanh,

tổ chức mới phải hoàn thành thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng bố cáo hợp nhấtv.v Thông tư nghiêm cấm việc phân tán tài sản của tổ chức tín dụng dưới mọihình thức trong quá trình xin chấp thuận

Bên cạnh hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động mua lại và sápnhập ngân hàng còn phải tuân theo các thoả thuận, hiệp ước song phương và đaphương như cam kết của Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),các quy định trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, các hiệp định đã kýkết trong ASEAN

1.1.2 Hoạt động M&A ngân hàng thương mại tại Việt Nam

1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 2005

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, hoạt độngM&A trên thực tiễn ở Việt Nam bắt đầu diễn ra từ năm 2000 và có xu hướng pháttriển khá nhanh Điểm lại lịch sử các cuộc sáp nhập đầu tiên của hệ thống ngânhàng Việt Nam bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997

Trang 9

Cuộc khủng hoảng này buộc nhiều ngân hàng đứng trước nguy cơ phá sản do nhữngkhoản cho vay trả góp, cho vay kinh doanh bất động sản, đánh bắt cá xa bờ khôngthu hồi được vốn, cộng với các vụ án chiếm đoạt vốn ngân hàng như vụ Epco- MinhPhụng, Tamexco, Trần Xuân Hoa, nước hoa Thanh Hương… làm cho hệ thốngngân hàng càng thêm suy yếu, đặc biệt ngân hàng TMCP nông thôn có nguy cơ mấtvốn do hoạt động kinh doanh chủ yếu là cho vay, mà cho vay sản xuất nông nghiệplại chiếm 70-80%, nhiều trường hợp cho vay vùng sâu, vùng xa kém hiệu quả domất mùa, lũ lụt… Trước tình hình đó ngày 14/08/2000, Thống đốc NHNN ra quyếtđịnh số 20/2000/QĐ-NHNN5 phê duyệt phương án chấn chỉnh, sắp xếp lại các tổchức tín dụng cổ phần và chủ trương của nhà nước là các NHTM nào rơi vào tìnhtrạng kiểm soát đặc biệt thì có thể lựa chọn phương án sáp nhập hay bị mua lại bởimột tổ chức tín dụng khác Một số vụ sáp nhập diễn ra theo chiều hướng này có thể

kể ra như bảng sau :

Bảng 1.1: Các giao dịch M&A ngân hàng trong giai đoạn 1994-2004 Thời gian Ngân hàng thu mua Ngân hàng mục tiêu

Hà Nội

Nguồn: Từ các website của Ngân hàng

Theo kết quả thống kê ở trên, ta nhận thấy hầu hết các giao dịch M&A tronglĩnh vực ngân hàng đều là việc sáp nhập từ một ngân hàng thương mại cổ phần đôthị với một ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Hoạt động M&A ngân hàng

Trang 10

giai đoạn 1997 đến 2004 diễn ra rất ít và mang tính bắt buộc nhiều hơn tự nguyện.

1.1.2.2 Giai đoạn sau năm 2005

Từ năm 2005 đến nay, việc sáp nhập ngân hàng trong nước đã ít đi, thay vào

đó là hoạt động đầu tư góp vốn, mua lại cổ phần của các nhà đầu tư trong và ngoàinước đối với các NHTM nội địa, thông qua đó trở thành đối tác chiến lược của cácngân hàng đó Nói cách khác, việc bán cổ phần cho các đối tác chiến lược, nhất làcác đối tác nước ngoài ngày càng phổ biến trong hoạt động của các NHTM ViệtNam kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với nhiềucam kết về mở rộng thị trường tài chính, ngân hàng Một số thương vụ điển hình:

Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank): Tháng 06 năm

2007 Eximbank đã ký kết thoả thuận bán 500 tỷ đồng vốn điều lệ cho 16 đối tácchiến lược trong nước là các tập đoàn kinh doanh có uy tín, với giá bán gấp 8 lầnmệnh giá, tương đương với 4.000 tỷ đồng Tháng 08 năm 2007, Eximbank bán 25%

cổ phần cho 4 nhà đầu tư nước ngoài là nhà đầu tư chiến lược Sumitomo MitsuiBanking Corporation (đây là một trong số ít tập đoàn TCNH lớn nhất của Nhật Bản

và thế giới) 15% vốn điều lệ của Eximbank; nhà đầu tư VOF Investment British Virgin Islands mua 5%; Mirae Asset Exim Investment Limited thuộc tậpđoàn Mirae Asset Hàn Quốc là 4,5% và Mirae Asset Maps Opportunity VietnamEquity Balanced Fund 1 là 0,5% Việc chọn cổ đông chiến lược là một tập đoànngân hàng hàng đầu của Nhật Bản được các ngân hàng thương mại khác của ViệtNam đánh giá cao, bởi nó không chỉ cho phép Eximbank tăng thêm tiềm lực về tàichính, quản trị điều hành và công nghệ, mà còn cho phép đáp ứng tốt hơn nhu cầudịch vụ, đặc biệt là thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, chuyển tiền, kiều hối, đầutư, cho các doanh nghiệp Việt Nam là khách hàng của Eximbank xuất nhập khẩu,

Limited-du lịch, xuất khẩu lao động và làm ăn với các đối tác Nhật Bản

Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà Hà Nội (Habubank): Tháng 06 năm 2007

Habubank bán 10% cổ phần cho Deutsche Bank AG (Đức) Việc ký thoả thuận nàynằm trong chiến lược phát triển giai đoạn 2006 -2010 của Habubank Thông quaviệc hợp tác chiến lược này Deutsche Bank cũng cam kết thực hiện việc hỗ trợ kỹ

Trang 11

thuật cho Habubank trong các hoạt động nguồn vốn, thị trường tiền tệ, quản lý rủi

ro và cùng nhau tìm hiểu các cơ hội hợp tác kinh doanh chiến lược trong các lĩnhvực thẻ tín dụng và các sản phẩm dịch vụ đầu tư Việc hợp tác giữa hai bên sẽ giatăng giá trị cho các cổ đông của ngân hàng là bước đi chủ động của Habubank trongtiến trình hội nhập thông qua việc tiếp cận với các thông lệ quản trị ngân hàng quốc

tế tốt nhất với mong muốn góp phần tích cực làm vững mạnh thị trường tài chínhViệt Nam Deutsche Bank là một trong những ngân hàng đầu tư nổi tiếng trên thếgiới, đặc biệt là thị trường Đức và châu Âu với tổng tài sản trị giá 1,097 tỷ EURO

Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank): Tháng 12 năm

2005, Ngân hàng HSBC tiến hành ký kết hợp đồng mua 10% cổ phần củaTechcombank với giá trị 27 triệu USD Đầu tư vào Techcombank cho phép HSBCtham gia sâu hơn nữa vào thị trường tài chính đang phát triển rất nhanh của ViệtNam Còn Techcombank sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật tiên tiến từ phía HSBC.Tháng 8 năm 2008, Techcombank tiếp tục bán thêm 5% cổ phần cho HSBC nâng

tỷ lệ sở hữu của ngân hàng này lên 20%

Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VCB): Ngày 22/1002007, tại Hà Nội,

VCB và Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược.Thỏa thuận này được ký trên nguyên tắc bình đẳng, trong điều kiện có thể hai bên

sẽ dành cho nhau các ưu đãi trong mọi hoạt động kinh doanh Theo đó, VCB và MBxác định sẽ là đối tác chiến lược quan trọng, lâu dài của nhau trong hoạt động đầu

tư và liên doanh, liên kết, gồm các hoạt động cùng nhau góp vốn thành lập công ty,thành lập các liên minh tạm thời, cùng đầu tư vào các công ty, dự án đã được thànhlập và các hoạt động đầu tư liên quan khác VCB sẽ nâng tỷ lệ sở hữu cổ phần trong

MB lên tối thiểu 10% và trở thành cổ đông chiến lược của MB trong tương lai.Các vụ mua bán sáp nhập khác: tháng 05/2008, tập đoàn OCBC (tập đoàn tàichính lớn thứ 3 Singapore) nâng tỷ lệ sở hữu cổ phần của OCBC tại VPBank lênmức 15%; tháng 03/2008 Ngân hàng Maybank (Malaysia) mua 15% cổ phần củaNgân hàng TMCP An Bình, tháng 02/2008 ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB)bán 10% cổ phần cho Ngân hàng thương mại Paribus (Pháp)

Trang 12

Bảng 1.2: Tỷ lệ sở hữu của một số ngân hàng nước ngoài đối với một số

ngân hàng trong nước tính đến 8/2008

Nguồn: Tổ nghiên cứu BIDV

Những vụ M&A dưới các hình thức mua bán cổ phần để trở thành đối tácchiến lược như trên thực sự không đơn giản chỉ là hợp tác vì các tập đoàn tài chínhngân hàng nước ngoài trước mắt là hợp tác chiến lược mua cổ phần của các ngânhàng nội địa (do bị hạn chế về tỷ lệ sở hữu) nhưng về lâu dài có thể “nuốt chửng”ngân hàng Việt nam khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn lĩnh vực tài chính trong cáccam kết khi gia nhập WTO, lúc đó các ngân hàng nội và ngoại đều cạnh tranh bìnhđẳng, không khống chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài Do đó các ngânhàng Việt Nam phải nhanh chóng thông qua sáp nhập, mua lại để tăng cường tiềmlực thành lập tập đoàn tài chính ngân hàng tránh tình trạng bị các tập đoàn tài chínhngân hàng nước ngoài thôn tính khi Việt Nam thực hiện các cam kết mở cửa tronglĩnh vực tài chính ngân hàng

Giai đoạn 2007-2008 có thể coi là giai đoạn bùng nổ của hoạt động M&Angân hàng tại Việt Nam với hơn 10 thương vụ M&A ghi nhận được Nhưng sau đó,khuynh hướng này lại thoái trào trong năm 2009-2010, thể hiện ở số lượng thương

Trang 13

vụ giảm đi rõ rệt dù cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lan ra từ Mỹ tạo khánhiều cơ hội cho các ngân hàng lớn thâu tóm ngân hàng nhỏ cũng như cho các nhàđầu tư tiến hành mua bán doanh nghiệp Năm 2009, chỉ có hai thương vụ đang lưu ý

mà ngân hàng nước ngoài trở thành đối tác chiến lược của ngân hàng trong nước.Các thương vụ này cũng chỉ là để tăng tỷ lệ sở hữu lên 15 – 20% Đó là BNPParibas (BNP) nâng tỷ lệ cổ phần tại OCB lên 15%, và MayBank tăng tỷ lệ sở hữu

cổ phần tại Ngân hàng An Bình lên 20% Thương vụ đáng chú ý nhất trong nước đó

là Oceanbank đã chọn Petrovietnam (PVN) làm cổ đông chiến lược từ đầu năm

2009, với tỷ lệ cổ phần PVN nắm giữ tại Oceanbank là 20% Vốn điều lệ của ngânhàng này đạt 2.000 tỷ đồng sau khi có sự tham gia góp vốn của PVN Trong cácthương vụ nhỏ khác, Maritime Bank và các thành viên là cổ đông lớn của ngânhàng đã mua lại 45% cổ phần của MXBank Trong đó, riêng Maritime Bank nắm4,99% cổ phần của MXBank Trước đó, vào đầu quý III năm 2009, thương vụ mua

- bán lớn giữa DaiA Bank và Tập đoàn Tín Nghĩa tại tỉnh Đồng Nai cũng gây chú ýkhi Tập đoàn Tín Nghĩa trở thành cổ đông lớn nhất, nắm giữ 49% vốn của DaiABank, thay vì tỷ lệ 11% trước đó Một thương vụ khác đáng chú ý liên quan đến đầu

tư ra nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng Đó là vào tháng 7/2009, BIDV cho biết

đã hoàn tất việc thành lập CTCP Đầu tư và phát triển IDCC 100% vốn Việt Namvới vốn điều lệ 100 triệu USD, do BIDV và Công ty Phương Nam góp vốn IDCC

đã ký hợp đồng chuyển nhượng, chính thức mua lại Ngân hàng Đầu tư Thịnh vượngPIB (một ngân hàng tư nhân của Campuchia), cơ cấu và đổi tên thành Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Campuchia (BIDC) Theo kế hoạch, đến năm 2012, BIDC sẽ

có tổng tài sản 303 triệu USD, tổng nguồn vốn huy động 216 triệu USD, cho vayđạt 210 triệu USD Ngoài ra, CTCP Bảo hiểm Campuchia Việt Nam (CVI), trong

đó IDCC nắm giữ 90% vốn cũng đã được phía Campuchia cấp phép thành lập.Giai đoạn các năm 2011- 2012 tuy hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng ởViệt Nam không có sự gia tăng đáng kể về mặt lượng nhưng về chất thì đã tiến mộtbước dài với giá trị mỗi thương vụ đều lớn hơn hẳn Đến tháng 6/2011, ngành ngânhàng ghi nhận có 5 thương vụ M&A như việc Ngân hàng Công thương Việt Nam

Trang 14

(Viettinbank) bán 10% cổ phần cho công ty tài chính quốc tế (IFC), Ngân hàng AnBình (ABBank) bán 600 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi cho IFC và Maybank, Ngânhàng Phát triển Mê Kong (MDB) bán 15% cổ phần cho đơn vị đầu tư thuộcTemasek và Ngân hàng Quốc tế (VIB) bán 5% cổ phần cho Commonwealth Bankcủa Australia.Với các giao dịch trong nước, một trong những thương vụ mua bán,sáp nhập được đánh giá cao phải nói đến Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam(VNPOST) góp vốn vào Ngân hàng TMCP Liên Việt (LienVietBank) với việc sápnhập Công ty Dịch vụ tiết kiệm Bưu điện (VPSC) và LienVietBank vào tháng2/2011 Sở dĩ thương vụ này được chú ý nhiều nhất vì lần đầu tiên một tổng công tynhà nước góp vốn vào một doanh nghiệp cổ phần bằng tiền và giá trị của cả mộtcông ty Sau sáp nhập, ngân hàng có tên gọi mới là Ngân hàng TMCP Bưu điệnLiên Việt (LienVietPostBank) Cuộc kết hợp này đã cho ra đời mô hình ngân hàngbưu điện đầu tiên tại Việt Nam, kết hợp giữa ngân hàng thương mại truyền thốngvới dịch vụ tiết kiệm bưu điện Nhờ đó, vốn điều lệ của LienVietPostBank tăng từ5.650 tỷ đồng lên 6.010 tỷ đồng, địa bàn hoạt động của LienVietPostBank tăng lênhơn 10.000 điểm giao dịch trên toàn quốc Một trong những thương vụ sáp nhậpkhá lớn diễn ra giữa 3 ngân hàng TMCP: Sài Gòn (SCB), Việt Nam Tín Nghĩa(TinNghiaBank) và Đệ Nhất (Ficombank) tháng 12-2011 Thương vụ này đượcnhìn nhận là mang màu sắc "cơ cấu", bởi cả 3 đều không đủ "sức khỏe" để duy trìhoạt động Thương vụ khác được nhắc đến nhiều là Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội(Habubank) sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) vào tháng8/2012 cũng có màu sắc "cơ cấu" khi Habubank rơi vào tình trạng yếu về thanhkhoản tại thời điểm đó Những thương vụ khá lớn khác là Ngân hàng TNHHMizuho (MHCB) - thành viên của Tập đoàn Tài chính Mizuho (Nhật Bản) mua15% vốn tính trên số cổ phần đã phát hành của Ngân hàng TMCP Ngoại thương(Vietcombank), tương đương 567,3 triệu USD và Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ(Nhật Bản) mua 20% cổ phần của Ngân hàng TMCP Công thương (Vietinbank) vớigiá 743 triệu USD

1.1.3.Đánh giá hoạt động M&A ngân hàng thương mại

Trang 15

Từ khi bắt đầu đề án cơ cấu lại năm 2001 cho đến hết 2012, số lượng cácNgân hàng thương mại cổ phần giảm từ 50 ngân hàng xuống còn 34 ngân hàng1.Các ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động quá kém hiệu quả đã tránh được nguy

cơ phá sản và nguy cơ đổ vỡ hệ thống Có thể thấy được điều này rất rõ ràng quaviệc sáp nhập các ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn với các thương mại cổphần đô thị trong giai đoạn đầu những năm 2000 Việc này đã giúp cho các ngânhàng thương mại nông thôn tránh được nguy cơ đổ vỡ do nợ xấu Hay một ví dụđiển hình mà giai đoạn gần đây hay được nhắc đến đó là thương vụ sáp nhập bangân hàng SCB, TinNghiaxBank, FicomBank thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn(SCB) vào cuối năm 2011 Ba ngân hàng này trước khi sáp nhập đang rơi vào tìnhtrạng hoạt động kém hiệu quả biểu hiện suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)của ba ngân hàng vào cuối 2010 lần lượt là 5,9% (SCB), 9,89% (TNB) và 5,04%(FCB) thấp hơn hẳn so với mức bình quân của ngành là 10,53% So với nhóm G12(nhóm 12 ngân hàng Việt Nam lớn nhất hiện nay) thì sự cách biệt này càng lớn vì

tỷ số ROE trung bình của G12 là 15,98% và nhóm ba ngân hàng hiệu quả nhất cóROE trên 20% Tuy nhiên, xét về suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) thì FCB

có ROA bằng 1,39% đứng ở vị trí thứ 6 toàn hệ thống, cao hơn trung bình toànngành là 1,09% Hai ngân hàng còn lại đứng ở vị trí thứ 30/42 (TNB với ROAbằng 0,83%) và thứ 40/42 (SCB với ROA bằng 0,46%) Đối với vấn đề nợ xấu,theo báo cáo tài chính quý III, nợ xấu của Tin Nghia Bank đang ở mức 1,7% tổngtín dụng tại thời điểm 30-9 Trong đó, khoảng 374 tỉ đồng là khoản nợ không có khảnăng thu hồi (nợ nhóm 5), chiếm khoảng 89,15% Trong khi đó, nợ xấu của

1 Danh sách các ngân hàng thương mại cổ phần (Đến 31/12/2012), http://www.sbv.gov.vn

Trang 16

Ficombank chiếm khoảng 2,2% vào cuối năm 2010 Có mức nợ xấu cao nhất làSCB, với mức khoảng 12,46% tính tại thời điểm cuối 20102 Có thể thấy rằng cảban ngân hàng FCB, TNB, SCB đều hoạt động vào loại yếu kém và có nguy cơ sụp

đổ cao Tuy nhiên sau vụ sáp nhập thành công ba ngân hàng này, đã giúp các ngânhàng khai thác những mặt mạnh của mình và bước đầu đã đi vào hoạt động ổn định

o Gia tăng quy mô vốn cũng như tổng tài sản cho ngân hàng

Sau M&A, các ngân hàng đều có cơ hội gia tăng quy mô vốn và tổng tài sản.Việc sáp nhập của Habubank vào SHB hay như việc sát nhập của 3 ngân hàng SCB,TinNghiaBank và FicomBank thành SCB đã làm tăng giá trị tài sản, vốn điều lệcũng như các chỉ số tài chính khác Sau sáp nhập, tổng tài sản của SHB tăng 28% từ80.985 tỷ lên 103.785 tỷ đồng và vốn điều lệ của SHB tăng gần gấp đôi lên 8.865 tỷđồng, rút ngắn chênh lệch với các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Vốnđiều lệ của SCB tăng 2.5 lần từ 4 ngàn tỷ lên hơn 10 ngàn tỷ đồng3, giúp SCB

“mới” vươn lên vị trí thứ 5 xét về quy mô vốn điều lệ, chỉ đứng sau EximBank,VietinBank, VietcomBank, BIDV và Agribank Tương tự, việc bán cổ phần cho cácnhà đầu tư nước ngoài cũng khiến tổng vốn điều lệ của các ngân hàng Việt Nam giatăng đáng kể Sau 2 thương vụ bán cổ phần cho đối tác chiến lược, vốn điều lệVietinbank giờ tăng lên 32.661 tỷ VND, tăng vốn tự có lên khoảng 45.000 tỷ VND4,đưa VietinBank trở thành ngân hàng thương mại có vốn điều lệ lớn nhất và cơ cấu

cổ đông mạnh nhất ở Việt Nam

o Nâng cao vị thế ngân hàng nhờ vị thế của đối tác

Việc M&A với các công ty hay ngân hàng lớn sẽ góp phần nâng cao vị thế củangân hàng, không chỉ trong nước mà cả trên trường quốc tế Điều này đã được thểhiện rõ nét qua các thương vụ M&A ngân hàng tại Việt Nam, đặc biệt ở các thương

vụ mua bán cổ phần có yếu tố nước ngoài Có thể nói rằng hầu hết các thương vụ

2 http://www.baomoi.com/Tu-chuyen-sap-nhap-ba-ngan-hang-toi-chuyen-tai-cau-truc-he-

thong/126/7515707.epi

3 Đề án hợp nhất và tái cơ cấu FicomBank, TinNghiaBank và SCB

4 Theo Vietinbank.vn

Trang 17

trên đều góp phần làm tăng vị thế ngân hàng Đơn cử như với việc IFC nắm giữ10% hay Mitsubishi Tokyo UFJ nắm giữ 20% cổ phần, vị thế của VietinBank đãtăng lên đáng kể trong con mắt nhà đầu tư Ngày 28/12/2012, Công ty xếp hạngdanh tiếng Standard & Poor’s (S&P) đã tăng mức xếp hạng tín nhiệm5 nhà pháthành dài hạn của VietinBank từ B+ lên BB- với triển vọng “ổn định” S&P cũngtăng mức xếp hạng dài hạn theo khu vực ASEAN của VietinBank từ “axBB” lên

“axBB+” Mức xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành ngắn hạn của VietinBank vẫn giữnguyên ở mức B Đồng thời, trái phiếu không đảm bảo có độ ưu tiên cao củaVietinBank cũng được nâng từ B+ lên BB-6 Tương tự vậy, ngày 16/11/2012, S&Pcũng nâng xếp hạng tín nhiệm EximBank ở mức B+ 7 với triển vọng ổn định vớiquan điểm EximBank sẽ được hưởng lợi từ sự hợp tác với cổ đông chiến lược nướcngoài nắm giữ 15% vốn là Tập đoàn Sumitomo Mitsui Banking Corp

o Mở rộng mạng lưới chi nhánh và tiết kiệm chi phí hành chính

Với M&A, thay vì việc gây dựng chi nhánh và phòng giao dịch từ đầu với rấtnhiều chi phí thành lập, xây dựng, mở rộng hệ thống, triển khai mạng lưới phânphối, ngân hàng có thể tận dụng ngay hệ thống mạng lưới, con người sẵn có của cácđối tác Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp giảm đến mức tối đa thờigian thâm nhập thị trường Đối với thương vụ ngân hàng Liên Việt sáp nhập vớicông ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (VPSC), bởi bản thân đối tác đã có hệ thốngmạng lưới lớn nhất trong cả nước với hơn 10.000 điểm giao dịch tại các bưu cục, vìthế, sau khi sáp nhập họ đã trở thành một trong các ngân hàng có mạng lưới lớnnhất cả nước, lớn hơn rất nhiều so với con số 60 điểm giao dịch trên toàn quốctrước khi sáp nhập8 Tương tự, với việc sáp nhập với Habubank, số lượng chi nhánh

5 Xếp hạng tín nhiệm là đánh giá tổng quan về các yếu tố bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp như: môi trường của doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường, quản trị, tình hình tài chính Ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín trên thế giới là Moody’s, Standard & Poor's (S&P) và Fitch Bảng xếp hạng của S&P theo thứ

tự từ cao đến thấp là từ AAA đến D.

6 Theo Vietinbank.vn

7 http://vneconomy.vn/20121116041547644P0C6/sp-kham-suc-khoe-eximbank.htm

8 http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/nuoc-co-cua-lienvietbank-20110810014127508ca34.chn

Trang 18

và phòng giao dịch của SHB tăng gấp rưỡi từ 141 chi nhánh và phòng giao dịch lên

211 chi nhánh và phòng giao dịch9

Song song với việc tăng điểm giao dịch, việc sáp nhập cũng giúp giảm chi phíthuê văn phòng, chi phí tiền lương nhân viên, chi phí hoạt động của chi nhánh,phòng giao dịch Chi phí giảm xuống đồng nghĩa với doanh thu tăng lên là yếu tố sẽlàm cho hoạt động của ngân hàng sau sáp nhập-mua lại hoạt động hiệu quả cao hơn.Nhận định về khía cạnh này, ông Đỗ Quang Hiển – Chủ tịch HĐQT SHB cho biếtthương vụ sáp nhập SHB và Habubank được cho là đã rút ngắn được thời gian 5năm10 và tiết kiệm nhiều chi phí trong chiến lược phát triển của SHB

o Tăng cơ sở khách hàng

Bên cạnh việc gia tăng số lượng điểm giao dịch, việc mua bán và sáp nhập cònlàm tăng cơ sở khách hàng nhờ tận dụng hệ thống khách hàng của nhau Vì mỗingân hàng có một đặc thù kinh doanh riêng phù hợp với tiềm năng vốn có của nó,

do vậy khi kết hợp lại sẽ có những lợi thế riêng để khai thác, bổ sung cho nhau.Thực tế cho thấy, lũy kế từ thời điểm sáp nhập với Habubank ngày 28/8 đến ngày28/9/2012, số lượng khách hàng cá nhân tại SHB tăng thêm là 9.611 khách hàng; sốlượng khách hàng tổ chức tăng thêm là 182 khách hàng; số lượng tài khoản cá nhântăng thêm là 115.592 tài khoản và tăng thêm 2.713 tài khoản của các tổ chức kinh

tế11 Còn đối với các thương vụ mua bán cổ phần, số lượng khách hàng tăng lênkhông chỉ là kết quả của phép cộng đơn thuần từ khách hàng của các đối tác màchính là nhờ tận dụng lợi thế cộng hưởng và sự gia tăng vị thế của ngân hàng trênthị trường

Ngoài những lợi thế trên, hoạt động M&A còn đem lại cho ngân hàng lợi thế

về đa dạng hóa hệ thống dịch vụ, chọn lọc nhân tài cũng như được hưởng những lợiích về thuế Chẳng hạn, sau khi Standard Chartered Bank trở thành cổ đông chiếnlược của ACB, các khách hàng VIP của ACB sẽ được phục vụ trọn gói các yêu cầu

9 Đề án sáp nhật SHB

10 http://ebank.vnexpress.net/gl/ebank/tin-tuc/2012/08/shb-chinh-thuc-tiep-quan-habubank/

11 http://vneconomy.vn/20121014114712944P0C6/mot-thang-sau-cuoc-hon-nhan-shb-voi-habubank.htm

Trang 19

giao dịch tài chính và tư vấn riêng theo phương thức đầu tư tài chính sinh lợi nhấttại Standard Chartered Bank cũng như có cơ hội nhận ưu đãi tại các địa điểm giaodịch của Standard Chartered Bank tại Singapore và Malaysia… Đối với vấn đề nhân

sự, việc sáp nhập sẽ tạo cho ngân hàng có cơ hội lựa chọn được đội ngũ nhân sựthực sự có tài, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung, từng bước xây dựngđược nguồn nhân lực vừa có tâm, vừa có tầm và lại vừa có tài

Rõ ràng, đối với các ngân hàng M&A sẽ mở ra một chu kỳ phát triển mới, làmthay đổi cơ cấu sở hữu, khả năng kiểm soát, điều hành, năng lực tài chính và quy

mô kinh doanh, từ đó góp phần mở ra những cơ hội kinh doanh mới, tăng cường vịthế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

1.1.3.2 Một số hạn chế và khó khăn trong hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam

Bên cạnh những lợi ích mang lại, hoạt động M&A ngân hàng vẫn còn nhiềuhạn chế cũng như ngân hàng sẽ phải đối mặt với những khó khăn không nhỏ, cảtrong và sau quá trình M&A

 Hầu hết các giao dịch M&A đều do sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước chứ không phải là do tự nguyện

Hoạt động mua bán sáp nhập của các Ngân hàng thương mại trong nước ítdiễn ra theo xu hướng các ngân hàng lành mạnh, đang trên đà phát triển hợp nhấthoặc sáp nhập với tổ chức tín dụng có nguy cơ phá sản mà chủ yếu do Nhà nước chỉđạo Vì vậy, bản chất của các hoạt động M&A chỉ là giải pháp để cứu vãn cácngân hàng đang nguy kịch, tránh sự đổ vỡ hệ thống ngân hàng theo mục tiêu củng

cố, lành mạnh hóa các ngân hàng thương mại Vào sáng ngày 6 tháng 12 năm 2011,Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong buổi giao ban báo chí trung ương

do Bộ Thông tin –Truyền Thông tổ chức, đã chính thức công bố tiến trình thựchiện hợp nhất ba ngân hàng thương mại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn(Saigon Commercial Bank, SCB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam TínNghĩa (TinNghiaBank, TNB) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đệ Nhất(Ficombank, FCB) Tuy nhiên, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình trong buổi

Trang 20

giao ban báo chí đã phát biểu: “ba ngân hàng nói trên trong thời gian qua đã có sựlạm dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn nên đã gặp khó khăn về thanh khoản.Cho đến khi nguồn vốn ngắn hạn khôngcòn dồi dào, ba ngân hàng này đã mất khảnăng thanh toán tạm thời.”12 Vụ 3 ngân hàng hợp nhất thành SCB là thương vụM&A mang màu sắc “tái cấu trúc bắt buộc”

 Hoạt động M&A ngân hàng còn sơ khai

M&A ngân hàng ở Việt Nam chủ yếu là thâu tóm hay được gọi phổ biến trêncác phương tiện thông tin đại chúng là mua bán doanh nghiệp (toàn bộ hoặc mộtphần), hầu như chưa có trường hợp sáp nhập Một mặt, trình độ quản lý Việt Namchưa thể đáp ứng được mức độ hợp tác cao mà các vụ sáp nhập đòi hỏi, mà thựcchất chỉ nghiêng về đầu tư tài chính Ngoài ra, trong lĩnh vực ngân hàng, doanhnghiệp nước ngoài bị quy định hạn chế mua cổ phần không quá 30% trong cácthương vụ mua bán cổ phần với ngân hàng Việt Nam

 Tỷ lệ thất bại của các thương vụ M&A còn cao

M&A đang được xem là lựa chọn tối ưu để nhiều ngân hàng Việt Nam tái cơcấu, thoát khỏi tình trạng khó khăn về thanh khoản, mở rộng kinh doanh Tuy nhiên,nhiều ý kiến cũng cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam thường đưa ra quyết địnhM&A khá vội vã mà chưa tính đến các rủi ro sau sáp nhập Ông Hubert Knapp,Giám đốc phụ trách Dịch vụ tư vấn Tài chính ngân hàng, Công ty Ernst & YoungViệt Nam nhận xét, 6 tháng sau khi sáp nhập, nếu các ngân hàng không tìm đượctiếng nói chung trong vận hành thì nguy cơ thất bại là rất lớn.13

Theo ông Andy Hồ, Giám đốc đầu tư quỹ Vina Capital, hiện có khoảng 50%thương vụ sáp nhập là không thành công do không tìm được tiếng nói chung trongđịnh giá doanh nghiệp, trong việc nắm quyền điều hành, sắp xếp lại nhân sự…M&A được xem là hoạt động tích cực để doanh nghiệp phát triển kinh doanh,nhưng hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đang quyết định các vụ M&Amột cách cảm tính, theo ông Nguyễn Công Ái, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH

12 http://vneconomy.vn/20111206101234647P0C6/ba-ngan-hang-hop-nhat-la-tu-nguyen.htm

13 http://www.shs.com.vn/News/2012321/402071/thach-thuc-hau-m-a-ngan-hang.aspx

Ngày đăng: 21/06/2014, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đề án: “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015", http://www.sbv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015
2. Nguyễn Thị Loan, Giải pháp đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam góp phần thúc đẩy hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng, Đại học Ngân hàng TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Loan, "Giải pháp đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam góp phầnthúc đẩy hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng
3. Lương Minh Hà, Hoạt động mua bán sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại Việt Nam, Học Viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lương Minh Hà, "Hoạt động mua bán sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàngtại Việt Nam
4. Đinh Thị Thanh Vân, Một số vấn đề về hoạt động M&A ngân hàng ở Việt Nam, Bộ môn Ngân hàng – Khoa TCNH, Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN tạihttp://dinhthithanhvan.blogspot.com/2010/02/m-in-vietnam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Thị Thanh Vân, "Một số vấn đề về hoạt động M&A ngân hàng ở Việt Nam
5. Mua bán, sáp nhập ngân hàng: Giải pháp “vàng” tại: http://hanoimoi.com.vn/Tin- tuc/Kinh-te/580836/mua-ban-sap-nhap-ngan-hang-giai-phap-vang Sách, tạp chí
Tiêu đề: vàng”
6. PriceWaterhouseCoopers (2010, 2009), Báo cáo Nhìn lại hoạt động M&A tại Việt Nam năm 2009, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PriceWaterhouseCoopers (2010, 2009)
7. Trịnh Quốc Trung (2008), Tham luận Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động M&A tại Việt Nam, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Quốc Trung (2008), "Tham luận Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt độngM&A tại Việt Nam
Tác giả: Trịnh Quốc Trung
Năm: 2008
10. Nguyễn Xuân Thành, Trần Thị Quế Giang, Đỗ Thiên Anh Tuấn, Nguyễn Đức Mậu, Hợp nhất ba ngân hàng thương mại, tại: www.fetp.edu.vn/attachment.aspx?ID=2556 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Thành, Trần Thị Quế Giang, Đỗ Thiên Anh Tuấn, Nguyễn ĐứcMậu, "Hợp nhất ba ngân hàng thương mại
12. Nguyễn Hồng Sơn, Trần Thị Thanh Tú, Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hồng Sơn, Trần Thị Thanh Tú
11. Tỷ lệ thất bại của các thương vụ M&A còn cao, tại:http://www.baomoi.com/Ty-le-that-bai-cua-cac-thuong-vu-MA-con-cao/126/4315302.epi Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các giao dịch M&A ngân hàng trong giai đoạn 1994-2004 - Mua bán sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam
Bảng 1.1 Các giao dịch M&A ngân hàng trong giai đoạn 1994-2004 (Trang 9)
Bảng 1.2: Tỷ lệ sở hữu của một số ngân hàng nước ngoài đối với một số - Mua bán sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam
Bảng 1.2 Tỷ lệ sở hữu của một số ngân hàng nước ngoài đối với một số (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w