1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) đề tài học thuyết hình thái kinh tế xã hội vàsự vận dụng của đảng ta ở việt nam hiện nay

29 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế - Xã Hội Và Sự Vận Dụng Của Đảng Ta Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Phạm Thành Long
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Triết Học Mác – Lênin
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất.. Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu………Tr2 Phần 1: Lý luận về học thuyết hình thái kinh tế - xã hội……… Tr4

A Khái lược về chủ nghĩa duy vật lịch sử (học thuyết hình thái kinh tế -

xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử)…… Tr4

B Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội……….Tr6

C Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất………… Tr9

D Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng……… Tr15

E Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên……….Tr18

Phần 2: Quá trình vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của đảng ta

ở Việt Nam hiện nay……….Tr20

A Những nội dung đã áp dụng trong thực tế………Tr20

B Những thành tựu đã đạt được……… Tr23

C Những hạn chế và biện pháp khắc phục……… Tr25

Lời kết……….Tr26

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội

của triết học Mác-Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong ba bộ phậnhợp thành triết học Mác-xít Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan

hệ xã hội đó cũng thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác trở thành phương pháp luận của nhiều nhà nghiên cứu trong các bộ môn như sử học, xã hội học

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy

vật lịch sử, vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển xã hội, là phương pháp luận khoa học để nhận thức, cải tạo xã hội Ngày nay, thế giới đang

có những biến đổi to lớn, sâu sắc nhưng lý luận hình thái kinh tế - xã hội vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và giá trị thời đại Đây là cơ sở thế giới quan, phương phápluận khoa học cho các chính đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa vận dụng sáng tạo trong xác định cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng chủ nghĩa

xã hội; là cơ sở khoa học của việc xác định con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trong thế giới hiện đại ngày nay, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vẫn được cácchính đảng và nhà nước sử dụng để xác định cương lĩnh chính trị của mình, trong

đó có Đảng Cộng Sản Việt Nam Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chính là cơ

sở khoa học, là kim chỉ nam cho con đường phát triển quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua tư bản chủ nghĩa của Việt Nam, đồng thời đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình vạch ra đường lối phát triển đất nước một cách bền vững của Đảng và Nhà nước

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cũng từng được áp dụng trong mục tiêu của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) của Đảng ta, đó là một trong những minh chứng cụ thể nhất cho tính cụ thể hóa của học thuyết này

Trang 4

Là một sinh viên, hiểu được tầm quan trọng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong đường lối xây dựng Đảng hiện nay, em muốn đi sâu hơn vào việc nghiên cứu học thuyết cũng như sự vận dụng của Đảng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay Tuy nhiên, do trình độ cũng như hiểu biết của bản thân em

có hạn nên có lẽ sẽ không tránh khỏi những sai sót trong quá trình biên soạn bài tiểu luận này, em rất mong nhận được sự đóng góp cũng như trợ giúp của Thầy để bài tập được hoàn thiện hơn!

Trang 5

PHẦN 1: LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT HÌNH THÁI

KINH TẾ - XÃ HỘI

A.Khái lược về chủ nghĩa duy vật lịch sử

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết học Mác-Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong ba bộ phận hợp thành triết học Mác-xít Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan

hệ xã hội đó cũng thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác trở thành phương pháp luận của nhiều nhà nghiên cứu trong các bộ môn

Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội, mà nghiên cứu toàn bộ xã hội như một thể thống nhất với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các quá trình có liên hệ nội tại và tác động lẫn nhau của xã hội Khác với những khoa học xã hội cụ thể, chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những quy luật cục bộ, riêng biệt, chi phối sự phát triển của các quá trình về kinh tế, chính trị hay tư tưởng, mà nghiên cứu những quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất để vạch ra những nét chung của sự phát triển xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ bản của sự chuyển biến từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác, mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, tư tưởng…

Chủ nghĩa duy vật lịch sử vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt của đời sống xã hội, trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của

xã hội loài người

Trang 6

Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, bao gồm hệ thống các quan điểm cơ bản sau:

- Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội

- Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

- Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

- Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên

Trang 7

Discover more from:

KTCT01

Document continues below

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin

Đại học Kinh tế Quốc dân

Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1

17

Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)

14

Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (133)

63

KTCT - Tài liệu ôn tự luận

57

Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)

16

Trang 8

B.Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội

Con người luôn phải tiến hành sản xuất để có thể tồn tại và phát triển Hoạt động sản xuất của con người luôn có sự sáng tạo không ngừng để tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu tồn tại cũng như phát triển của con người Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng của con người mà không một loài nào khác có được Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là

sự sản xuất xã hội - sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực, đã được Ph Ăngghen khẳng định là nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng Sản xuất xã hội được cấu thành từ các hoạt động cụ thể: sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất ra tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người, chính là ba phương diện không thể tách rời

Sản xuất xã hội nói chung và sản xuất ra của cải vật chất nói riêng là những hiện

tượng xã hội khách quan Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh xã hội không thể tồn tại được nếu không có quá trình thường xuyên sản xuất và tái sản xuất xã hội Trong đó, sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng của của sự tồn tại và phát triển

xã hội loài người Sản xuất tinh thần nhằm sáng tạo ra các giá trị tinh thần thỏa mãn các nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội Bên cạnh đó, xã hội cũng sản xuất ra chính bản thân con người Dưới góc nhìn cá nhân, sản xuất ra chính bản thân con người là sự sinh đẻ, nuôi dạy con cái lớn khôn với mục đích duy trì nòi giống Còn mở rộng ra phạm vi xã hội là là sự gia tăng về dân số, phát triển con người

Sản xuất vật chất là quá trình hoạt động, lao động của người lao động Người lao

động có thể sử dụng các công cụ lao động để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào

tự nhiên theo ý muốn, trong chủ đích, nhằm tạo ra của cải, vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Từ thời nguyên thủy, thuở xã hội con ngườicòn sơ khai, con người đã thực hiện những hoạt động sản xuất vật chất vô cùng đơn giản như săn bắt, hái lượm, đốt lửa… Ngày nay, xã hội loài người đã tiến bộ

và phát triển, sáng tạo hơn rất nhiều trong hoạt động sản xuất, đem lại những sản phẩm thể hiện trình độ sản xuất cao như điện thoại thông minh, robot…

Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của loài người, và là nhân

tố quyết định sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội, có vai trò trước

Trang 9

tiên là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng hàng ngày của con người nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người nói chung và từng cá thể người nói riêng Ngoài ra, sản xuất vật chất còn sản xuất ra tư liệu sản xuất.

Sản xuất vật chất còn là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người Quá

trình sản xuất, đóng một vai trò vô cùng quan trọng, giữ vai trò là một nhân tố quyết định về sự sinh tồn và phát triển Sản xuất vật chất là hoạt động nền tảng làmphát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội của con người Trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong sản xuất vật chất là cơ bản nhất Chính quan hệ này tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện thực của những quan hệ chính trị, pháp luật, đạo đức…

Sản xuất vật chất đã tạo ra các điều kiện, phương tiện bảo đảm cho hoạt động tinh thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sản xuất tinh thần của xã hội.

C.Mác chi rõ : “Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp tạo ra một cơ sở từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước , các quan điểm pháp quyền , nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta" 1Nhờ sự sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, conngười đồng thời sáng tạo ra toản bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội, khiến nó trở nên phong phú, phức tạp và mang nhiều bản sắc

Sản xuất vật chất là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người Trong quá

trình sản xuất xã hội, con người quan hệ với nhau nhưng chính là để quan hệ với giới tự nhiên, nhằm biến đổi tự nhiên, trên cơ sở đó biến đổi đời sống xã hội và biến đổi chính bản thân mình nữa Nhờ hoạt động sản xuất vật chất mà con người

đã hình thành nên ngôn ngữ, nhận thức, tư duy, tình cảm, đạo đức… Ph Ăngghen khẳng định: “ Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” Từ đó ta có thể thấy được rằng,2 “Sản xuất vật chất” chính là yếu tố giúp cho con người tách khỏi con vật, trở thành một

sinh vật bậc cao, là cơ sở cho sự tiến bộ của của xã hội loài người Nhờ lao động sản xuất mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tự nhiên, cải tạo

tự nhiên, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, đồng thời sáng tạo ra chính bản thân con người Do đó, sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ của loài người

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.19, tr.500.

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.641.

Trang 10

Để sản xuất ra của cải vật chất, con người phải quan hệ với giới tự nhiên Quan hệ này được biểu hiện thành lực lượng sản xuất Đồng thời, con người phải quan hệ với nhau trong sản xuất Quan hệ này được biểu hiện thành quan hệ sản xuất Đây

là quan hệ “kép” khách quan, phổ biến trong lịch sử sản xuất vật chất của loài người Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất của một phương thức sản xuất

Xét đến cùng, không thể dùng tinh thần để giải thích đời sống tinh thần; để phát

triển xã hội phải bắt đầu từ phát triển đời sống kinh tế - vật chất Tóm lại, “Sản suất vật chất” chính là tiền đề, là cơ sở tồn tại và phát triển của toàn xã hội Không có sản xuất, xã hội sẽ không có sự phát triển

và sáng tạo

Trang 11

C Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1 Phương thức sản xuất

a Khái lược chung về phương thức sản xuất

Với mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, con người lại có những cách thức sản xuất riêng và sinh sống riêng phù hợp với từng thời đại, đó chính là phương thức sản xuất Những cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra trong lịch sử đều gắn với sự thay

thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác tiến bộ hơn, kéo theo sự thay đổi căn bản từ kinh tế đến chính trị, xã hội và tinh thần

Ta có thể định nghĩa về phương thức sản xuất như sau: Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sửnhất định của xã hội loài người

Phương thức sản xuất bao gồm hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau: lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất, thể hiện mối quan hệ của con người

với tự nhiên và quan hệ sản xuất là hình thức của quá trình sản xuất, thể hiện quan

hệ giữa người với người trong sản xuất

b Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất theo triết học Mác – Lênin là sự kết hợp giữa người lao động

với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của tự nhiên theo nhu cầu của con người Trước hết, ta hãy tìm hiểu xem người lao độngtư liệu sản xuất là gì?

Người lao động là con người có trình độ, tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động

và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Người lao động

là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất Theo xu hướng hiện đại ngày nay, tỉ trọng người lao động sử dụng cơ bắp đang có xu thế giảm, trong khi đó lao động trí tuệ ngày càng tăng lên để đáp ứng các nhu cầu về sản xuất của xã hội hiện đại

Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm hai

yếu tố chính là tư liệu lao độngđối tượng lao động Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con

Trang 12

người Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động và phương tiện lao động Công

cụ lao động là phương tiện con người dùng trực tiếp tác động lên đối tượng lao động, là yếu tố vật chất “trung gian”, “truyền dẫn giữa người lao động và đối tượnglao động Có thể lấy ví dụ từ thuở sơ khai, con người sử dụng những công cụ thô

sơ như rìu đá, xe kéo bằng sức người để xây dựng nên những công trình nhà cửa Ngày nay, những công cụ lao động đó đã được thay thế bằng cưa máy, xe chuyên dụng,… vẫn để tác động vào những đối tượng lao động như “cây lấy gỗ” hay “đá

tự nhiên” nhưng với năng suất lao động được cải thiện hơn Phương tiện lao động

là những yếu tố vật chất của sản xuất cùng với công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động như đường sá, cầu cống, bến bãi, kho…

Lực lượng sản xuất chính là sự kết hợp giữa “lao động sống” với “lao động vật

hóa” tạo ra sức sản xuất Như vậy, lực lượng sản xuất là một hệ thống gồm các yếu

tố “người lao động” và “tư liệu sản xuất” cùng mối quan hệ (phương thức kết hợp),tạo ra thuộc tính đặc biệt (sức sản xuất) để cải biến giới tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất theo mục đích của con người Đây là sự thể hiện năng lực thực tiễn cơ bản nhất - năng lực hoạt động sản xuất vật chất của con người

Đặc trưng chủ yếu của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định Bởi lẽ người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công

cụ lao động Xét cho cùng, chỉ có con người mới có khả năng tạo ra tư liệu sản xuất, tư liệu sản xuất không thể tạo ra người lao động được Từ trình độ, năng suất

và giá trị của tư liệu sản xuất đều do con người quyết định bởi người lao động tạo

tư liệu lao động nào.” Như vậy, khoa học – kĩ thuật chính là nguyên nhân của mọi 3

3 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.23, tr.269.

Trang 13

sự biến đổi trong lực lượng sản xuất Khoa học giúp rút ngắn khoảng cách từ phát

minh, sáng chế đến ứng dụng vào sản xuất, làm cho năng suất lao động, của cải xã

hội tăng nhanh, giúp giải quyết những yêu cầu sản xuất, đồng thời kích thích sự

phát triển làm chủ năng lực sản xuất của con người Trong lịch sử loài người, bốn

cuộc cách mạng công nghiệp đã trở thành những mắt xích vô cùng quan trọng

trong sản xuất, từ đó mới xuất hiện nhiều phát minh vĩ đại, làm cải thiện đáng kể

trình độ sản xuất của con người

*Sơ đồ khái quát về lực lượng sản xuất trong triết học Mác – Lênin

c Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người

trong quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất tồn tại ba khía cạnh: Quan hệ sở hữu đối

Lực lượng sản xuất

Đối tượng lao động

Có sẵn trong tự nhiên

Qua chế biến (Nguyên liệu)

Tư liệu lao động

Công cụ lao động

Hệ thống bình chứa

Hệ thống kết câu hạ tầng

Trang 14

với tư liệu sản xuất, quan hệ giữa người với người trong tổ chức, quản lý sản xuất, quan hệ giữa người với người trong phân phối sản phẩm Trong đó, quan hệ sở hữugiữ vai trò quyết định

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc

chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây là quan hệ quy định địa vị kinh tế- xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản

lý và phân phối Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác Bởi

vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ

quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm

Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người việc tổ

chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội Ngày nay, khoa học tổ chức quản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất

Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong

việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người, là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc

độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hoá toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất

Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng nó được hình thành một cách khách

quan, quyết định mọi quan hệ xã hội Các khía cạnh trong quan hệ sản xuất có sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau, song quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất vẫn

là yếu tố quyết định bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất

2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Như đã biết, lực lượng sản xuấtquan hệ sản xuất là hai khía cạnh của một phương thức sản xuất, và giữa chúng có mối quan hệ tác động biện chứng lẫn

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w