Mô hình cổ điển đưa ra 3 yếu tố đất đai, lao động và vốn, còn những mô hình tăng trưởng kinh tế khác đều đưa ra 4 yếu tố đầu vào tác động đến quá trình sản xuất đất đai, lao động, vốn và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
🙣🙣🙣
BÀI TẬP NHÓM
Môn: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đề tài: Thực trạng mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo yếu tố đầu
vào giai đoạn 2016-2020
Giáo viên hướng dẫn: TS
Sinh viên thực hiện: Nhóm 04
HÀ NỘI, NĂM 2023
1 | P a g e
Trang 2MỤC LỤC
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THEO YẾU TỐ ĐẦU VÀO 2016-2020 3
1 Tổng quan về mô hình tăng trưởng kinh tế 3
2 Thực trạng 4
3 Thách thức Việt Nam gặp phải trong quá trình tăng trưởng năm 2016-2020 8
4 Giải pháp 11 Tài liệu tham khảo 16
2 | P a g e
Trang 3TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THEO YẾU TỐ ĐẦU VÀO 2016-2020
1 Tổng quan về mô hình tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là phạm trù phản ánh sự tăng hay giảm quy mô nền kinh tế của năm này so với năm trước hoặc của thời kỳ này so với thời kỳ trước Tăng trưởng
kinh tế được đo lường thông qua sự thay đổi của quy mô sản lượng quốc gia, tính bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) trong một thời gian nhất định
Mô hình tăng trưởng kinh tế là cách thức diễn đạt những con đường, hình thái, nội dung tăng trưởng kinh tế của một nền kinh tế thông qua các biến số kinh tế nhất định Mỗi mô hình tăng trưởng kinh tế có ceách lý giải khác nhau về nguồn gốc của tăng trưởng Do đó, mỗi mô hình tăng trưởng kinh tế phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nhất định của mỗi một nền kinh tế trong từng giai đoạn nhất định
Mô hình cổ điển đưa ra 3 yếu tố (đất đai, lao động và vốn), còn những mô hình tăng trưởng kinh tế khác đều đưa ra 4 yếu tố đầu vào tác động đến quá trình sản xuất (đất đai, lao động, vốn và tiến bộ khoa học kỹ thuật):
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên, đất đai thì sẽ không
có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người.Đối với hầu hết các nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ
có nguồn tài nguyên rồi rào, đa dạng nên có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán nhằm tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước
Yếu tố về nguồn lực:
Chất lượng đầu vào của lao động là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động, là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm được điều tương tự
Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực được xem là yếu
tố chất lượng của tăng trưởng
Yếu tố về vốn
3 | P a g e
Trang 4Tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ không thể đạt được nếu thiếu vốn đầu tư Chính vì vậy, vốn đầu tư phát triển là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định việc thực hiện được các mục tiêu trên Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất
Khoa học công nghệ
Tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất
Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Theo mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế theo chiều rộng dựa vào sự gia tăng vốn tương ứng với sự gia tăng lao động, trong khi phát triển kinh tế theo chiều sâu dựa vào sự gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động Dựa vào các nhân tố đầu vào có thể nhận thấy mô hình tăng trưởng kinh tế nước ta
là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào vốn, lao động Mặc dù trong 5 năm trở lại đây, tăng trưởng có xu hướng tích cực dựa trên các yếu tố về chiều sâu Tuy nhiên, xét cả giai đoạn thì vốn được coi là yếu tố động lực của tăng trưởng kinh tế
2 Thực trạng
a Thực trạng mục tiêu tăng trưởng nhanh
Tính toán tác động của các yếu tố đầu vào (K, L, TFP) theo hàm sản xuất Cobb-Douglas, kết quả tính toán đóng góp của các yếu tố đầu vào tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được trình bày trong bảng dưới đây:
4 | P a g e
Trang 5Năm Đóng góp của K
trong tăng trưởng
kinh tế
Đóng góp của L trong tăng trưởng kinh tế
Đóng góp của TFP trong tăng trưởng kinh tế
2016-2020
( Nguồn: Tổng cục thống kê, số liệu 2019-2020 là số liệu ước tính )
Nhìn vào bảng trên ta có thể nhận xét:
Mô hình tăng trưởng mang nặng tính chất nhờ vốn: trong các yếu tố đầu
vào thì vốn vẫn là đóng góp chính Giai đoạn 2016-2020, dù tỉ trọng đóng góp của vốn giảm nhưng vẫn chiếm phần lớn (xấp xỉ 48%) Điều này thể hiện sự không hợp lí về mô hình tăng trưởng nhờ vốn vì:
Việt Nam không có lợi thế về vốn, vì thế đánh đổi việc tăng trưởng này chính là gánh nợ ngày càng tăng
Việc sử dụng vốn không có hiệu quả (trên thực tế là không hiệu quả) dẫn đến
mô hình tăng trưởng nhờ vốn sẽ kìm hãm động lực tăng trưởng và làm giảm khả nănng tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Nhiều nghiên cứu đã cho rằng, nếu tỉ suất đầu tư tăng trưởng vượt quá 5 (để có thêm 1 đồng thu nhập gia tăng, cần thêm 5 đồng vốn) thì việc vay vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế có độ rủi ro rất cao
Tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng: Mặc dù có sự thay đổi nhất định của
2 yếu tố vốn (K) và lao động (L), nhưng kết quả tăng trưởng GDP thời gian qua vẫn chủ yếu được tạo nên bởi các yếu tố vật chất (61,7%) Đóng góp của TFP trong tăng trưởng kinh tế chiếm 38,3% (<50%), do đó trong giai đoạn 2016-2020 nước ta vẫn tăng trưởng theo chiều rộng Đây là đặc trưng của các nước đang phát triển có thu nhập thấp Điều này có thể chấp nhận được trong giai đoạn 2001-2005 Tuy nhiên sau khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, sự chi phối của các yếu tố tăng trưởng theo rộng cao (2016-2020) phản ánh sự lạc hậu của cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào,
5 | P a g e
Trang 6nó ảnh hưởng lớn tới hiệu quả tăng trưởng và kìm hãm tốc độ tăng trưởng nói chung
Đóng góp của TFP có sự gia tăng nhất định nhưng vẫn còn thấp:
Thứ nhất, vai trò của yếu tố TFP trong tăng trưởng kinh tế có xu hướng tăng dần Nếu như năm 2016 tỉ lệ đóng góp của TFP khoảng 40,89% tăng lên
44,35% năm 2020 Việc cải thiện đóng góp của TFP được giải thích bởi 2 lí do:
Một là, sau năm 2012, tốc độ tăng trưởng NSLD có xu hương tăng nhanh dần sau từng năm Bên cạnh đó, do quá trình tự do đổi mới, cải tiến phương thức sản xuất nhằm nâng cao NSLD trong nội bộ các ngành và chuyển dịch
cơ cấu lao động từ khu vực có NSLD thấp sang khu vực có NSLD cao được thúc đẩy thực hiện trong những năm vừa qua
Hai là, những đổi mới mạnh mẽ trong khía cạnh thể chế của Việt Nam gần đây với các chính sách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
đã bắt đầu phát huy tác dụng Trong những năm qua, nhà nước đều cam kết dành 2% NSNN cho hoạt động nghiên cứu KH&CN, Bộ KH&CN đã tập trung các nguồn tài chính cho nghiên cứu và phát triển (R&D) Chính phú cho phép thành lập Qũy Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) - phục vụ cho việc đổi mới, hoàn thiện, chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp
Thứ hai, tỉ lệ đóng góp này vẫn còn thấp và hiện trạng nền kinh tế vẫn còn những yếu tố tác động có xu hướng kiềm chế sự gia tăng của yếu tố này, cụ thể:
Một là, sự cải thiện của yếu tố TFP không xuất phát từ chính yếu tố đó mà
do sự giảm đi về hiệu quả của yếu tố vốn và yếu tố lao động trong đóng góp vào tănng trưởng kinh tế Tốc độ tăng TFP của Việt Nam trong những năm vừa qua thường bị âm So với các nước trong khu vực, tốc độ tăng trưởng TFP của Việt Nam còn rất thấp, Trung Quốc, Thái Lan và Hàn Quốc là những quốc gia có tốc độ tăng trưởng TFP ổn định và dương trong những năm vừa qua
Hai là, trình độ công nghệ hiện đang sử dụng ở Việt Nam nói chung tương đối thấp trong các khu vực Hiện nay, tỉ trọng doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu còn cao (59,6%), sử dụng công nghệ trung bình (28,6%), trên trung bình (9,8%) và chỉ có 2% doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao
b Chất lượng tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục gia tăng trong giai đoạn 2016-2019 Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội; bội chi và nợ công giảm so với giai đoạn trước, cán cân xuất, nhập khẩu
6 | P a g e
Trang 7Discover more from:
KTPT01
Document continues below
kinh tế phát triển
Đại học Kinh tế Quốc dân
999+ documents
Go to course
Đề Cương Ôn Tập Kinh Tế Vi Mô Lý Thuyết Và Bài Tập
37
LT KTPT - Tổng hợp lý thuyết KTPT
27
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của Việt Nam hiện nay đang gia tăng cùng với tăng trưởng kinh tế
30
Kinh tế vi mô Chương 3-đã chuyển đổi
12
Bài tập so sánh các mô hình môn Kinh tế phát triển
3
Kĩ năng giao tiếp xã giao - nhóm 7
18
Trang 8hàng hoá chuyển từ thâm hụt sang thặng dư Các cân đối lớn của nền kinh tế
cơ bản được bảo đảm, mức độ chống chịu của nền kinh tế được cải thiện đáng kể
Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng lên, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh, đạt mức kỷ lục và hiệu quả sử dụng dần được nâng cao
Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, năng suất lao động được nâng lên rE rê F t
Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, xuất khẩu lao động có bước đột phá, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và bảo đảm.Quy mô nguồn nhân lực tăng lên trong tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các ngành, lĩnh vực đột phá
Tăng trưởng kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu thô, lao động nhân công giá rẻ và mở rô ~ng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỉ trọng ngày càng cao, trong khi ngành khai khoáng có xu hướng giảm.Các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại được ứng dụng nhanh chóng, rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia bắt đầu hình thành
Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có nhiều chuyển biến rE rệt, phát hiện và xử lý kịp thời nhiều vụ việc, cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã từng bước khắc phục những hạn chế, phát huy được nguồn lực tài nguyên cho
phát triển kinh tế, dần chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động giải quyết
Chất lượng tăng trưởng được nâng lên, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt một số kết quả tích cực
Hệ thống pháp luật cơ bản đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, tạo hành lang pháp
lý để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Công tác tổ chức thi hành pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật ngày càng được nâng cao Huy động vốn đầu tư phát triển tăng lên và hiệu quả sử
7 | P a g e
Trang 9dụng được cải thiện Quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được tăng lên rõ rệt
c Kết luận mô hình
Cả giai đoạn 5 năm 2016 - 2020, dù tốc độ tăng trưởng bình quân ước đạt khoảng 5,8% (không đạt kế hoạch đề ra) nhưng Việt Nam vẫn thuộc thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới Nếu tách riêng 2020 thì tốc độ GDP giai đoạn 2016 - 2019 đạt khá cao, ở mức bình quân 6,8%, được coi là “hoàn thành nhiệm vụ”
Tăng trưởng tín dụng và GDP các năm lần lượt: Năm 2016 là 18,25% và 6,21%; năm 2017 là 18,24% và 6,81%; năm 2018 là 13,89% và 7,08%; năm
2019 là 13,65% và 7,02% Riêng năm 2020, với yếu tố bất thường tác động của Covid-19, dự kiến cả hai chỉ tiêu này đều ở mức thấp
Như vậy xét dưới góc độ các yếu tố đầu vào, mô hình tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 được xem là mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, trong đó yếu tố vốn vẫn đóng vai trò chủ yếu, yếu tố lao động - yếu tố lợi thế trong giai đoạn dân số vàng chưa được huy động tương xứng với tiềm năng vào tăng trưởng kinh tế Tỉ lệ đóng góp của TFP còn ở mức thấp phản ánh trình độ, ý thức tổ chức và quản lý trong sản xuất kinh doanh của lao động Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất kinh tế hiện đại
3 Thách thức Việt Nam gặp phải trong quá trình tăng trưởng năm 2016-2020
Thách thức đối với nguồn nhân lực
Lực lượng lao động của Việt Nam cũng còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, thể hiện
ở các điểm sau đây:
Trí lực
Mức độ cải thiện và chênh lệch về trình độ học vấn là đáng kể giữa khu vực thành thị và nông thôn Đây là dấu hiệu cho thấy sự phân cấp, mất cân đối nguồn nhân lực giữa các vùng miền và tất yếu sẽ kéo theo chênh lệch mức sống dân cư, về phát triển kinh tế - xã hội giữa các khu vực và có thể xem là lỗ hổng lớn về chất lượng lao động của Việt Nam hiện nay
Bên cạnh đó, tỷ trọng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp Theo đánh giá của WB, Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân
8 | P a g e
Trang 10kỹ thuật bậc cao Trong xu hướng phát triển hiện nay, Việt Nam vẫn có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao và lành nghề Tuy nhiên, những bất cập hiện nay không chỉ cản trở tiềm năng đóng góp của lao động vào tăng năng suất lao động mà còn đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho những cố gắng nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Thể lực
Mặc dù, công tác y tế - chăm sóc sức khỏe của người dân được cải thiện qua từng năm tháng, dân số không ngừng tăng, tuổi thọ trung bình được nâng lên… nhưng tốc độ gia tăng dân số đang có xu hướng giảm, mất cân bằng giới tính tăng, xu hướng già hóa dân số ngày càng hiện hữu qua gánh nặng bệnh tật của người cao tuổi lớn, đời sống vật chất của người cao tuổi còn thấp… Chính vì vậy, đi đôi với tuổi thọ trung bình được nâng lên thì vấn đề già hóa với tốc độ nhanh trong bối cảnh Việt Nam vẫn là một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp đang là một thách thức không nhỏ Già hóa dân số sẽ tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm: thị trường lao động, tài chính, nhu cầu về các hàng hóa, dịch
vụ, giáo dục, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Thách thức đối với khoa học công nghệ
1 Khoa học và công nghệ (KH&CN) vẫn chưa thực sự là động lực cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Thiếu một giải pháp đủ khả thi để khuyến khích các doanh nghiệp và đầu tư tư nhân vào hoạt động nghiên cứu, đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ Các chính sách và chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần phải phù hợp với các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chính sách công nghiệp và chính sách giáo dục, đào tạo đại học Tuy nhiên, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa có sự gắn kết với các chương trình liên quan, phân bổ nguồn kinh phí và nguồn nhân lực cho các mục đích và lĩnh vực cụ thể chưa được liên kết một cách có hệ thống
2 Cải cách cơ chế quản lý KH&CN - đặc biệt là về tài chính, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và sử dụng nhân tài - tiến triển chậm.Chi tiêu ngân sách phân tán và không hiệu quả các hoạt động KH&CN tách biệt giữa các Bộ, ngành khác nhau (Công nghiệp, Năng lượng, Quốc phòng, Y tế, Nông nghiệp ) và
Ủy ban nhân dân các tỉnh, điều này có thể cản trở hiệu quả quản lý nguồn lực đối với hoạt động KHCN, ĐMST Hơn nữa, thiếu hệ thống thông tin và thu thập dữ liệu phù hợp về các hoạt động nghiên cứu, phát triển, các hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khu vực nhà nước và khu vực tư nhân làm khó khăn cho công tác hoạch định chính sách và thiết lập môi trường nghiên cứu khoa học dựa trên bằng chứng, dữ liệu khách quan
9 | P a g e