Chúng được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định trong từng giai đoạn phát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ BIỂU HIỆN CỦA NÓ TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Phương Nam Hà
Hà Nội, 04/2023
Trang 2MỤC LỤC
BÀI TẬP LỚN 1
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I QUY LUẬT GIÁ TRỊ 4
1 Khái niệm của Quy luật giá trị 4
2 Nội dung của Quy luật giá trị 4
3 Cơ chế hoạt động của Quy luật giá trị 4
4 Tác động của Quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa 4
4.1 Điều tiết sản xuất, lưu thông hàng hóa 4
4.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động 5
4.3 Phân hóa sự giàu – nghèo giữa những người sản xuất một cách tự nhiên 6 II SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 6
1 Thực trạng sự vận dụng Quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường Việt Nam 6 1.1 Khái niệm nền kinh tế thị trường 6
1.2 Thực trạng nền kinh tế thị trường Việt Nam dưới sự vận dụng của Quy luật giá trị 6
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa và dịch vụ ở Việt Nam 11 2.1 Cung cầu 11
Trang 32.2 Tình trạng kinh tế 11
2.3 Chi phí sản xuất 12
2.4 Thuế và lệ phí 12
2.5 Cạnh tranh 12
2.6 Chính sách của chính phủ 12
3 Các ví dụ về biểu hiện của Quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường Việt Nam 13
4 Những hạn chế, thách thức đối với việc áp dụng Quy luật giá trị ở Việt Nam Giải pháp 13
4.1 Hạn chế, thách thức 13
4.2 Giải pháp 14
Phương Nam Hà 3
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế chính trị là một lĩnh vực của kinh tế học Và với tư cách là một môn khoa
học, nó cũng có đối tượng nghiên cứu riêng Đó không phải là những biểu hiện kỹ thuật hay những yếu tố vật chất của sự sản xuất và trao đổi mà là hệ thống các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi Những quan hệ này không thuộc một lĩnh vực hay một khía cạnh nào của nền sản xuất xã hội mà là một chỉnh thể thống nhất Chúng được đặt trong sự liên
hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền sản xuất xã hội; được biểu hiện ở những bộ phận như: quan hệ sở hữu, quan hệ giữa sản xuất và lưu thông, giữa sản xuất và thị trường,…Từ đó xác định được các quy luật mang tính quyết định, điều chỉnh quá trình hoạt động kinh tế của con người Các quy luật này có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế bởi nó được gắn liền với phương thức sản xuất, về lịch sử phát triển của các quan hệ sản xuất và trao đổi của nhân loại nói chung, về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng Những xu hướng phát triển kinh tế - xã hội vốn vận động một cách phức tạp, đan xen nhưng thực chất lại đều được thuân thủ theo những quy luật nhất định Nhận thức được sâu sắc các mối quan hệ đó và vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan thông qua điều chỉnh hành vi cá nhân hoặc các chính sách kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển theo hướng tiến bộ, nâng cao nền văn minh của xã hội
Kinh tế Việt Nam, năm 1986, dưới sự quản lý quả Nhà nước, đã chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trên thực tế, nền kinh tế thị trường thường có xu hướng phụ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài để tăng cường nguồn lực và công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và sản xuất Từ đó, tạo ra lợi nhuận và giá trị cho cá nhân, tổ chức Mặc dù nền kinh tế Việt Nam có sự tiến triển đáng kể cả về kinh tế và xã hội nhờ sự đổi mới đường lối kinh tế, song việc phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn gặp nhiều khó khăn khi chưa thực sự khắc phục được những khuyết điểm của nền kinh tế thị trường (phân hóa xã hội sâu sắc, nguy
cơ khủng hoảng…)
Và Quy luật giá trị chính là một trong số quy luật chủ yếu điều hành nền kinh tế thị
trường Đây là quy luật kinh tế cơ bản nhất của sự sản xuất hàng hóa, quy định bản chất
của lưu thông hàng hóa Ở mọi nơi có sự xuất hiện sản xuất và trao đổi hàng hóa đều có
sự tác động của Quy luật giá trị Do đó, việc vận dụng có hiệu quả Quy luật giá trị để khắc phục những khó khăn, nhược điểm của nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện tại
Trang 5là vô cùng cần thiết Vì vậy, trong bài tiểu luận này em đã chọn đề tài “Quy luật giá trị
và biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”.
Phương Nam Hà 5
Trang 6NỘI DUNG
I QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1 Khái niệm của Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa Ở đâu có sự xuất hiện của sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị
2 Nội dung của Quy luật giá trị
Quá trình sản xuất của mỗi chủ thể không phụ thuộc vào các chủ thể còn lại khác nhưng hàng hóa, khi được đưa vào thị trường, lại có tính bình đẳng với nhau dựa theo quy
luật giá trị: Việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được thực hiện dựa trên cơ sở của hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Trong sản xuất, các nhà sản xuất buộc phải tìm cách để mức hao phí lao động cá biệt của mình nhỏ hơn hoặc bằng mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy, việc sản xuất hàng hóa mới đem lại lợi thế cạnh tranh cao và nhà sản xuất có thể tổn tại
- Trong lưu thông, hàng hóa phải được trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc mua bán hàng hóa phải lấy hao phí lao động xã hội cần thiết làm cơ sở, thực hiện với giá cả bằng giá trị
3 Cơ chế hoạt động của Quy luật giá trị
Sự hoạt động của quy luật giá trị được thể hiện qua sự vận động của giá cả hàng hóa trên thị trường, dưới sự tác động của quan hệ cung – cầu
4 Tác động của Quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa
Là một trong những quy luật kinh tế quan trọng đối với nền sản xuất và trao đổi hàng hóa, quy luật giá trị cũng có các tác động cơ bản sau tới nền kinh tế hàng hóa:
4.1 Điều tiết sản xuất, lưu thông hàng hóa
Trong sản xuất
Thông qua sự biến động của giá cả xung quanh giá trị ở từng thời điểm, người sản xuất sẽ nắm bắt được tình hình quan hệ cung – cầu đối với loại hàng hóa đó, từ đó quyết định phương án sản xuất phù hợp:
Trang 7Discover more from:
KTCT01
Document continues below
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin
Đại học Kinh tế Quốc dân
999+ documents
Go to course
Phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động tích cực đối với Việt Nam
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (48)
12
Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1
17
Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)
14
Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin
Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (134)
63
KTCT - Tài liệu ôn tự luận
57
Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)
16
Trang 8- Giá cả cao hơn giá trị, tức cung < cầu hàng hóa bán chạy, lãi suất cao nhà sản xuất sẽ tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất Bên cạnh đó, những người đang sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển hoặc đầu tư thêm để sản xuất mặt hàng này tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên.
- Giá cả thấp hơn giá trị, tức cung > cầu hàng hóa bị giảm khả năng tiêu thụ, lỗ vốn buộc các nhà sản xuất phải thu hẹp sản xuất đối với mặt hàng này và có thể chuyển sang đầu tư cho loại hàng hóa khác tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác có thể tăng lên
- Giá cả bằng giá trị, tức cung = cầu nhà sản xuất có thể vẫn tiếp tục sản xuất mặt hàng này với quy mô như vậy
Như vậy, qua sự tác động của quy luật giá trị, nguồn lực sẽ được tự động phân bổ vào các ngành sản xuất khác nhau, đặc biệt là các ngành đang có giá cả cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, vì sản xuất trong điều kiện cạnh tranh, nên những tỉ lệ nguồn lực cân đối giữa các ngành thường chỉ là hiện tượng tạm thời trong một giai đoạn nhất định
Trong lưu thông
Hoạt động điều tiết của quy luật giá trị được thể hiện ở chỗ nó hút hàng hóa từ nơi
có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao Và thông qua “mệnh lệnh” của giá cả thị trường, hàng hóa ở nơi có giá cả thấp sẽ chảy đến nơi có giá cả cao hơn Từ đó, góp phần làm cung – cầu hàng hóa giữa các vùng đạt đến cân bằng nhất định, phân phối lại thu nhập, điều chỉnh sức mua của thị trường
4.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động
Theo yêu cầu của quy luật giá trị, trên thị trường, hàng hóa phải được mua bán trao đổi căn cứ theo hao phí lao động xã hội cần thiết của mặt hàng đó, tức giá trị xã hội của hàng hóa đó Người sản xuất có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội, khi bán sẽ thu được lợi nhuận cao hơn; trái lại, người sản xuất có giá trị cả biệt cao hơn giá trị xã hội, khi trao đổi sẽ gặp thua lỗ Và để cạnh tranh không bị thua lỗ dẫn đến phá sản, các nhà sản xuất phải luôn tìm cách để hạ thấp giá trị cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bàng giá trị xã hội, và nhỏ nhất có thể để thu được lợi nhuận hấp dẫn Do đó, phải cải tiến kỹ thuật sản xuất, áp dụng cộng nghệ mới,…vào sản xuất, từ đó nâng cao lực lượng sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, chi phí sản xuất hàng hóa giảm xuống
Trang 9Đồng thời, trong lưu thông, để làm tăng số lượng hàng hóa được tiêu thụ và quá trình lưu thông được hiệu quả hơn, nhà sản xuất, cung cấp phải đổi mới phương thức bán hàng, tăng chất lượng dịch vụ,…
Sức cạnh tranh trên thị trường thương mại là vô cùng lớn sẽ càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn
4.3 Phân hóa sự giàu – nghèo giữa những người sản xuất một cách tự nhiên
Trong quá trình cạnh tranh về sản xuất và trao đổi hàng hóa, những người sản xuất
có tầm nhìn thị trường nhạy bén, trình độ năng lực giỏi, nguồn lực tài chính đủ để đầu tư vào quá trình sản xuất, làm cho giá trị cá biệt thấp hơn nhiều so giá trị xã hội, sẽ sớm trở nên giàu có, từ đó đầu tư thêm và mở rộng quy mô sản xuất
Trong khi đó, những người sản xuất không có đủ trình độ năng lực hoặc có những hạn chế khách quan về mặt tài chính, công nghệ lạc hậu…khi tham gia vào quá trình sản xuất sẽ dễ bị thua lỗ và có thể bị phá sản
Trong nền kinh tế thị trường, việc đầu cơ, gian lận, chạy theo lợi ích cá nhân, luôn tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng kinh tế, hàng hóa, Những yếu tố này có thể càng làm tăng thêm sự phân hóa sâu sắc cùng những hiện tượng kinh tế - xã hội tiêu cực khác
II SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1 Thực trạng sự vận dụng Quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường Việt Nam
1.1 Khái niệm nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và được vận hành theo cơ chế thị trường Đây là nền kinh tế mà ở đó, hàng hóa đều được sản xuất và trao đổi thông qua thị trường, chịu sự tác động của quy luật thị trường
1.2 Thực trạng nền kinh tế thị trường Việt Nam dưới sự vận dụng của Quy luật giá trị
Trước khi cải cách nền kinh tế, Việt Nam trải qua những cuộc chiến tranh liên miên
và là một quốc gia có nền kinh tế đóng cửa Trong giai đoạn này, quy luật giá trị đã chỉ được áp dụng hầu hết trong thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước Các công
ty trong các ngành công nghiệp chủ yếu ở thời kỳ bấy giờ như luyện kim, dệt may, thực phẩm đã tính toán giá thành sản phẩm và xác định giá bán trên cơ sở của quy luật giá trị Tuy nhiên, các giá trị này thường chịu sự tác động chủ yếu, quy định bởi chính phủ thay
Phương Nam Hà 8
Trang 10vì do cung cầu quyết định Do đó, dẫn đến thiếu sự cạnh tranh và quy luật giá trị không được áp dụng rộng rãi trong kinh doanh
Sau khi cải cách, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phát triển tích cực và nhanh chóng, thị trường được mở rộng, sự cạnh tranh trong kinh tế được tăng cường, trong đó, quy luật giá trị là một yếu tố quan trọng và áp dụng rộng rãi trong các hoạt động kinh doanh Cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập toàn cầu qua các hiệp định thương mại tự do và gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới: ASEAN, WTO, APEC,…
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây
Sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, tốc
độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức độ khá cao:
- Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP đạt bình quân 5,9%/năm
- Giai đoạn 2016-2019, tăng trưởng đạt 6,8%/năm
Cả thời kỳ Chiến lược 2011-2020, tăng trưởng GDP dự kiến đạt 5,9%/năm, là một trong số các nước có tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới Quy mô GDP tăng gấp 2,4 lần, từ 116 tỉ USD năm 2010 lên 268,4 tỉ USD vào năm 2020 GDP bình quân đầu người tăng từ 1.331 USD năm 2010 lên khoảng 2.750 USD năm 2020
Chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động được cải thiện rõ rệt Kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, từng bước đưa vào ứng dụng sự đổi mới trong khoa học và công nghệ cao
Kinh tế vĩ mô được ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát hiệu quả ở mức thấp, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện đáng kể Chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân giảm từ 18,6% năm 2011 xuống ổn định ở mức khoảng 4%/năm giai đoạn
2016 – 2020 Lạm phát cơ bản giảm từ 13,6% năm 2011 xuống khoảng 2,3% năm 2020 Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng lớn từ đại dịch Covid – 19, nhưng tăng trưởng kinh tế 9 tháng trong năm 2020 đạt ở mức 2,12%
Trong nửa đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam phục hồi mạnh mẽ Sau đợt giãn cách xã hội do dịch COVID hồi quý III/2021, nền kinh tế bật tăng trở lại, tăng trưởng 5,2% trong quý IV/2021 và 6,4% trong nửa đầu năm 2022 Sự phục hồi này đạt được chủ yếu nhờ tăng trưởng vững chắc của xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chế biến, cùng với
đó là sự trở lại mạnh mẽ của ngành dịch vụ Theo báo cáo tình hình kinh tế Việt Nam vào tháng 3/2023, tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt mức 8%/năm
Trang 11Tuy nhiên, phản ánh những trở ngại trong nước và bên ngoài, tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến sẽ chậm lại ở mức 6,3% vào năm 2023 Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch
vụ sẽ ở mức vừa phải khi các tác động cơ bản thấp từ hậu COVID-19 giảm dần Động lực tăng trưởng chính sẽ là nhu cầu trong nước, có thể bị ảnh hưởng bởi lạm phát ước tính cao hơn (trung bình 4,5%) vào năm 2023
1.2.2 Sự đa dạng hóa trong các ngành kinh tế
Sự đa dạng hóa trong các ngành kinh tế là một yếu tố quan trọng giúp cho nền kinh
tế thị trường phát điển bền vững, đa dạng hóa nguồn thu, từ đó giảm thiểu sự phụ thuộc vào một ngành, một sản phẩm hay một thị trường nhất định; tăng cường sự linh hoạt của nền kinh tế
Việt Nam là một ví dụ điển hình nhất cho sự đa dạng này Kể từ năm 1986, khi mới bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta chủ yếu xuất khẩu cá, nông sản, dầu khí…; đến nay đã
mở rộng cả về số lượng và mức độ phức tạp của các sản phẩm:
- Sản xuất: Bên cạnh việc đầu tư áp dụng các sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào phát triển các ngành công nghiệp sản xuất truyền thống như dệt may, giày da, đồ gốm sứ,…Việt Nam đã đầu tư sản xuất các sản phẩm chất lượng cao và phức tạp như đồng hồ, thiết bị y tế, hàng không vũ trụ,…
- Công nghiệp: Việt Nam đã và đang hướng tới phát triển các ngành công nghiệp có tính phức tạp cao hơn, từ sản xuất ô tô, xe máy đến cho ra đời các thiết bị điện tử, công nghệ thông minh thu hút đầu tư.
- Du lịch: Với lợi thế du lịch có sẵn với các địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Sapa, Hội An, Đà Nẵng,…Nước ta đang đẩy mạnh các dịch vụ du lịch cao cấp như khách sạn 5 sao, du thuyền sang trọng,…
1.2.3 Thuế và lệ phí, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cải cách thuế và lệ phí là một trong số những biện pháp hiệu của nhằm tăng sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bằng việc giảm các chi phí đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện khó khăn, từ đó làm giảm chi phí sản xuất và khuyến khích đầu tư, mở rộng kinh doanh, từ đó tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, phát triển kinh tế - xã hội
Ví dụ: Ngày 18/8/2021, UBND tỉnh Thái Nguyên đã phê duyệt đề án “Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021 - 2025.” Nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh sản xuất trong thời kỳ dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp, tạo thêm việc làm mới cho lao động:
Phương Nam Hà 10