Về khó khăn, nền kinh tế miền Bắc là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chủ yếudựa trên sản xuất nhỏ cá thể, cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản để lại hết sức kém cỏi vànon yếu.. Chủ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -
BÀI TIỂU LUẬN Môn học: LỊCH SỬ KINH TẾ Giảng viên: TS.Vũ Thị Vân Anh ĐỀ TÀI: KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955-1975
Lớp : KẾ TOÁN 64A Nhóm thực hiện : NHÓM 9 Thành viên MSV Lê Mai Phương 11225210
Nguyễn Phương Mai 11224051
Nguyễn Thị Phương Ngân 11224578
Trịnh Thị Thanh 11225791
Vũ Đoàn Thùy Dương 11221644
Trang 2Hà Nội – 2022
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Trịnh Thị Thanh - Tìm hiểu, viết tiểu luận và làm slide:
+ phần 3.2: Kế hoạch 5 năm lần 1 - nhiệm vụ 2+ phần 4.2: Chuyển hướng khôi phục KT sau chiến tranhphá hoại (69 - 71) và (73 – 75)
- Thuyết trình: phần 4.2 và mục IV: Đánh giá cả giai đoạn
Lê Mai Phương - Tìm hiểu, viết tiểu luận và làm slide:
+ mục II: Đặc điểm tình hình KT+ mục III phần 1: Khôi phục kinh tế 55-57+ mục III phần 2.1: Cải tạo xã hội chủ nghĩa
- Thuyết trình: mục II; mục III phần 1, phần 2.2 và 2.3Nguyễn Phương Mai - Tìm hiểu, viết tiểu luận và làm slide:
phần 3.1: Kế hoạch 5 năm lần 1 - nhiệm vụ 1: Thực hiệnmột bước công nghiệp hóa XHCN
Vũ Đoàn Thuỳ Dương - Tìm hiểu, viết tiểu luận và làm slide :
mục III phần 2 giai đoạn 58-60: Cải tạo và phát triển kinh tế)
- Làm câu hỏi cho trò chơiNguyễn Thị Phương Ngân - Tìm hiểu, viết tiểu luận và làm slide:
+ phần 4.1: Chuyển hướng kinh tế chống chiến tranh pháhoại của đế quốc Mỹ (65 - 68) và 72
+ phần IV: đánh giá kinh tế miền Bắc cả giai đoạn 55-75
- Thuyết trình phần 2.1( cải tạo XHCN), phần 3 và phần 4.1
Trang 4M Ụ L C C Ụ
I M ĐẦẦU Ở ………2
II Đ C ĐI M KINH TẾẾ MIẾẦN BẮẾC TH I KỲ 1955 – 1975… Ặ Ể Ờ ………2
III QUÁ TRÌNH XẦY D NG TH C HI N NHI M V XẦY D NG NẾẦN Ự Ự Ệ Ệ Ụ Ự KINH TẾẾ XÃ H I CH NGHĨA… Ộ Ủ ……… 3
1 Khôi ph c kinh tếế (1955-1957)… ụ ……… 3
a Thực trạng kinh tế miền Bắc sau giải phóng 3
b Chủ trương của Đảng và Nhà nước 3
c Chính sách và biện pháp 4
d Kết quả 7
e Bài học kinh nghiệm 7
2 C i t o và phát tri n kinh tếế (1958-1960)… ả ạ ể ………8
2.1 Cải tạo xã hội chủ nghĩa 8
2.2 Phát triển sản xuất 11
2.3 Tăng cường thương nghiệp, tài chính, tiền tệ 11
3 Kếế ho ch 5 năm lầần th nhầết (1961-1965) ạ ứ ……… 12
3.1 Thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa 12
3.2 Củng cố và hoàn thành một bước quan hệ sản xuất xã hội 17
4 Chuy n h ể ng kinh tếế chôếng chiếến tranh phá ho i c a đ quôếc Myỹ và khôi ướ ạ ủ ể ph c kinh tếế sau chiếến tranh (1965-1975) ụ ……….………. 18
4.1 Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968) và khôi phục kinh tế (1969-1971): 18
4.2 Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai (năm 1972) và khôi phục kinh tế (năm 1973-1975): 19
IV ĐÁNH GIÁ KINH TẾẾ MIẾẦN BẮẾC GIAI ĐO N 1955 – 1975… Ạ …………20
1.Về ưu điểm 21
2.Về hạn chế 22
3.Đánh giá, nhận xét chung 22
4.Bài học kinh nghiệm 23
V H N CHẾẾ C A BÀI VIẾẾT Ạ Ủ ……… 23
VI TÀI LI U THAM KH O Ệ Ả ………24
Trang 5I MỞ ĐẦU
Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Genevơ năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bắt đầu chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.Miền Nam còn bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai thống trị nên nhân dân ta phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Miền Bắc vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, gặp muôn vàn khó khăn Hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp bị tàn phá, đồng ruộng nhiềunơi bị bỏ hoang Đường xá, cầu cống hầu như bị phá huỷ Nền tài chính còn yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Văn hoá giáo dục, y tế còn nhiều hạn chế Giai đoạn này, nước ta bị chia cắt làm hai nửa, miền Bắc là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn ở miền Nam tồn tại song song chính phủ Việt Nam Cộng hòa và chính phủ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Lãnh thổ miền Nam Việt Nam khi đó là chia làm 2 vùng: do Mỹ ViệtNam Cộng hòa kiểm soát và do Mặt trận Giải phóng kiểm soát Từ đó hai miền có chế độ chính trị kinh tế-xã hội hoàn toàn khác nhau Dưới đây là tình hình kinh tế miền Bắc nước
ta thời kỳ đất nước tạm thời bị chia cắt
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi,
tháng 7-1954 hòa bình đã được lập lại ở miền Bắc Từ đó, miền Bắc đã bước vào thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Kinh tế miền Bắc thời điểm đó có ba đặc điểm được phânchia thành thuận lợi và khó khăn như sau:
Về thuận lợi, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong khi chủ nghĩa xã hội đã trở
thành một hệ thống thế giới Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đãđược sự hỗ trợ về vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, đặc biệt từ Liên Xô
Về khó khăn, nền kinh tế miền Bắc là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chủ yếudựa trên sản xuất nhỏ cá thể, cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản để lại hết sức kém cỏi vànon yếu Công nghiệp nhỏ bé, mới phôi thai Nông nghiệp và thủ công có tính chất phântán, chiếm bộ phận lớn trong nền kinh tế quốc dân Hơn nữa, miền Bắc lại bị tàn phá nặng
nề của 15 năm chiến tranh Bên cạnh đó, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắctiến hành trong hoàn cảnh đất nước ta bị chia cắt làm hai miền Đế quốc Mỹ đã biến miềnNam thành thuộc địa và căn cứ phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và chuẩn bị gây chiến tranh xâm lược
Những đặc điểm trên đây sẽ có ảnh hướng tới tiến trình và kết quả xây dựng kinh tế của miền Bắc suốt thời kỳ 1955-1975 Xuất phát từ tình hình trên, Đảng và Nhà nước đề
chủ trương: “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã
hội" Trong quá trình đó, miền Bắc tập trung sức thực hiện hai nhiệm vụ kinh tế cơ bản
Trang 6là cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời, biến miền Bắc thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam xà thống nhất đất nước.
III QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
1 Khôi phục kinh tế (1955-1957).
a Thực trạng kinh tế miền Bắc sau giải phóng
Trải qua 15 năm chiến tranh, trong đó 9 năm kháng chiến chống Pháp, nền kinh tế
miền Bắc bị tàn phá nặng nề Trong nông nghiệp, hơn 14 vạn hạ ruộng đất bị bỏ hoang,trâu bò bị bán giết mấy vạn con, hệ thống thủy lợi bảo đạm tưới tiêu cho 32 vạn hạ bị pháhỏng, không đảm bảo có nước tưới để cày cấy Trong công nghiệp, nhiều cơ sở khi tiếpquản đang ở tình trạng ngừng hoạt động do máy móc bị tháo dỡ và nhân viên kỹ thuật dichuyển vào miền Nam Sản lượng công nghiệp chỉ còn chiêm 1,5% tổng sản lượng côngnông nghiệp năm 1954 Về giao thông vận tải hơn 1.061 km trong tổng số 1.152 kmđường sắt bị phá hoại, 10.700 km đường bộ và 30.000 m cầu bị hư hỏng, nạn đói đe dọakhắp nơi
b Chủ trương của Đảng và Nhà nước
Trước khi tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng tháng 8-1934 đã xác định nhiệm vụ chủ yếu của miền Bắc trong giai đoạn này là
hàn gắn vết thương chiến tranh, tạo cơ sở kinh tế chính trị vững chắc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong đó cải cách ruộng đất là công tác trung tâm, khôi,
phục kinh tế là công tác trọng yếu Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 3-1955),
lần thứ 8 (tháng 8-1955) những mục tiêu chính của khôi phục kinh tế đã được cụ thể hơn: Thứ nhất, khôi phục mức sản xuất ngang mức trước chiến tranh năm (1939), đặc biệtchú ý khôi phục nông nghiệp, vì sau một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, nông nghiệp
là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với đời sống nhân dân, đối với chính sự phục hồi các lĩnhvực kinh tế khác
Thứ hai, khôi phục hệ thống giao thông vận tải là huyết mạnh của nền kinh tế; Khôi
phục sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trong đó đặc biệt chú ý khôi phục tiểucông nghiệp, thủ công nghiệp Với công nghiệp, chủ yếu khôi phục những xí nghiệp củaPháp còn để lại, xây dựng mới trong chừng mực cho phép
Trang 7244
Trang 8Thứ ba, thương nghiệp phải phục hồi đề đảm bảo lưu thông hàng hóa; Ổn định tiền
tệ và tài chính, thăng bằng thu chi, bình ổn vật giá
Thứ tư, duy trì và tôn trọng những hình thức kinh tế nhiều thành phần, chú trọng
kinh tế quốc doanh nhưng không loại trừ các thành phần kinh tế khác
Hội nghị Trung ương 8 cũng đã chủ trương: "Điều tra, nghiên cứu tình hình
kinh tế nước nhà, nắm vững số liệu, chuẩn bị để sang năm 1957 phát triển kinh tế có
kế hoạch” Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều thành phần, kinh tế cá thể và
tư nhân còn chiếm phần lớn thì kế hoạch trong giai đoạn này chỉ có tính chất hướng dẫn
và nhằm động viên nhân dân thực hiện những mục tiêu chủ yếu mả Đảng và Nhà nước đã
đề ra
Quá trình khôi phục kinh tế cần thực hiện về cả 3 mặt: khôi phục các cơ sở sản
xuất, khôi phục mức sản xuất ngàng trước chiến tranh (năm 1939) và làm biến đổi tínhchất của nền kinh tế cho phù hợp với chế độ dân chủ nhân dân
c Chính sách và biện pháp
* Cải cách ruộng đất và chính sách phát triển nông nghiệp
Sau khi mới giải phóng, tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết tiếp tục tiếnhành cải cách ruộng đất ở những nơi chưa làm, chủ yếu là vùng mới giải phóng Cảicách được tiến hành trong 3 đợt: đợt 3 (tháng 2 đến 6-1955); đợt 4 (tháng 6 đến 12-1955)
và đợt 5 (tháng 12-1955 đến tháng 7-1956) Qua 5 đợt (gồm 2 đợt tiến hành trong khángchiến) cho tới tháng 7-1956 đã cải cách ruộng đất ở 3.653 xã, 22 tỉnh, phần lớn ở đồngbằng và trung du Kết quả là đã chia 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 15 vạn nhà cửa,
2 triệu nông cụ cho 2,1 triệu hộ nông dân với 9,5 triệu người (dân số miền Bắc năm 1955
là hơn 13,5 triệu người) làm thay đổi hẳn quan hệ ruộng đất trong nông thôn
Thắng lợi của cải cách ruộng đất mang ý nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà nước
ta Mơ ước của người nông dân là “người cày có ruộng” đã được thực hiện triệt để, giai cấp địa chủ phong kiến đã bị đánh đổ và xóa bỏ hoàn toàn Sứcsản xuất được giải phóng, người nông dân được tự do, có ruộng đất thêm tin tưởng và Đảng và nhà nướcnên năng suất, sản lượng lương thực trong giai đoạn này đã tăng lên rõ rệt
Tuy nhiên, trong cải cách đã có một số sai lầm nghiêm trọng như đã nêu trong Hộinghị Trung ương 10 (tháng 9 -1956): “Tư tưởng tả khuynh trong cải cách ruộng đất đãchớm nở lúc đầu, nó đã đưa đến chỗ học tập kinh nghiệm nước bạn một cách máy móc vàkhông chịu điều tra nghiên cứu đầy đủ tình hình xã hội ta Trong lúc thi hành một mựcchống hữu khuynh trong khi hiện tượng tả khuynh đã trở nên trầm trọng Hệ thống cảicách ruộng đất trở nên một hệ thống ở trên cả Đảng và chính quyền" Cũng trong Hội
Lịch sửkinh tế 100% (3)
TỰ LUẬN GIỮA KÌIIIIIIIIIIIIIIIIIIIIII
Lịch sửkinh tế 100% (3)
3
Trang 9nghị này, Đảng đã đề ra chủ trương sửa sai nên sau mấy tháng tình hình xã hội đã ổn định.thắng lợi của cải cách ruộng đất đã được phát huy.
Đối với nông nghiệp, công tác thủy lợi đã được đặc biệt chú trọng để phục hồi vàphát triển sản xuất Nhà nước cũng rất chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực Trongkháng chiến một số cán bộ đã được cử đi học ở Liên Xô, Trung Quốc và một số nướcĐông Âu xã hội chủ nghĩa Năm 1956, trường Đại học Nông Lâm nghiệp được thành lập,cùng với các trường trung cấp nông nghiệp đã đào tạo cho nông nghiệp một đội ngũ cán
bộ kỹ thuật chính quy Kỹ thuật sản xuất nông nghiệp giai đoạn này bước đầu thay đổi,nhất là trong lĩnh vực giống lúa Nhiều giống mới đã được đưa vào trồng thử nghiệm,chọn lọc và cải tạo nên năng suất, sản lượng lương thực và số lượng gia súc đều tăng.Sản xuất nông nghiệp miền Bắc giai đoạn này tăng khá nhanh Đặc biệt năm 1956
là năm được mùa nên giá lương thực trên thị trường đã có lúc giảm xuống thấp hơn giáquy định của Nhà nước Khi đó, Nhà nước đã mua lương thực của nông dân theo giá chỉđạo để khuyến khích họ sản xuất và tăng nguồn lương thực dự trữ và xuất khẩu Sản xuấtlương thực không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có xuất khẩu Chănnuôi gia đình cùng phát triển, đàn trâu, bò, lợn đều tăng rõ rệt
* Chính sách bước đầu cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh
Trong công thương nghiệp, Nhà nước chủ trương sử dụng, hạn chế và bước đầucải tạo đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh Các hình thức thấp của chủ nghĩa tưbản Nhà nước đã được sử dụng như gia công đặt hàng kinh tiêu, đại lý
Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng các chính sách thuế, giá cả đề hướng việc kinhdoanh cua họ phục vụ cho quốc kế dân sinh Như vậy, thành phần kinh tế tư bản nhà nước
đã được áp dụng trong giai đoạn khôi phục kinh tế Kinh tế tư bản nhà nước mới bắt đầu ởhình thức thấp Đây là một chủ trương đúng và hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội và đã huy động nguồn lực đa dạng trong dân cư đề khôi phục nhanh chóng nềnkinh tế
* Tăng đầu tư ngân sách cho khôi phục, sửa chữa, xây dựng mới các cơ sở
sản xuất, hạ tầng cơ sở.
Đối với công nghiệp, chủ trương của Đảng là khôi phục và phát triển công nghiệpnhẹ trước, công nghiệp nặng sau; công nghiệp nhẹ là chính, đồng thời cũng khôi phục mộtphần công nghiệp nặng làm cho các xí nghiệp công và tư hiện có tiếp tục kinh doanh,công thương nghiệp tư nhân nhất luật được bảo hộ phàm là công thương nghiệp có lợicho quốc kế dân sinh đều được khuyến khích, phục hồi, phát triển
Trong khu vực quốc doanh, Nhà nước đã tăng cường đầu tư vốn khôi phục, mở rộngcác xí nghiệp quốc doanh hiện có và xây dựng thêm các xí nghiệp mới Tiếp quản, khôi
Trang 10phục và mở rộng một số nhà máy của Pháp để lại như tăng năng lực sản xuất lên gấp 2 lầncho Nhà máy dệt Nam Định, mở rộng Nhà máy xi măng Hải Phòng, Mỏ than Hòn Gai, Khu vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tư nhân (bao gồm cả tư bản tư nhân,tiểu chủ và cá thể) chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong tống sản lượng công nghiệp miền Bắcnăm 1955, riêng công nghiệp tư bản tư doanh chiếm 17,5%, còn lại bộ phận chủ yếu vàđông đảo nhất là tầng lớp tiểu chủ và thợ thủ công cá thể Trong giai đoạn này, Nhà nước
có nhiều biện pháp khuyến khích họ đầu tư mở rộng kinh doanh, đồng thời còn cho vayvốn, hỗ trợ vốn hoặc gia công đặt hàng, bao tiêu sản phẩm
Tính chung, tổng giá trị sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 1957bằng 269% so với năm 1955 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 2 năm 1956-1957 là64%/năm Sản lượng một số ngành như điện, xi măng, vải,… tăng rất nhanh
Giao thông vận tải cũng được khôi phục và phát triển khá nhanh, góp phần đắc
lực vào việc khôi phục các ngành sản xuất, lưu thông hàng hóa và cải thiện đời sống nhândân trong thời kỳ khôi phục kinh tế
Đường sắt ở miền Bắc sau kháng chiến chỉ còn 118 km hoạt động được Cáctuyến đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan; Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Nam Định rồi đếnNinh Bình được khôi phục Vận tải đường sắt năm 1957 chiếm tỷ trọng 37% tổng trọnglượng vận tải toàn ngành giao thông
Đường ô tô đã được sửa chữa và khôi phục, làm mới và nâng cấp Tính chung,đường bộ năm 1957 đã vượt năm 1939 là 38% và hình thành một hệ thống thông suốt Vềphương tiện vận tải khu vực quốc doanh tăng lên rất nhanh Vận tải đường bộ chiếm 12%tổng trọng lượng vận tải toàn ngành giao thông
Đường thủy có tiềm năng khá lớn Các bến cảng sẵn có đã được tiếp quản, đượctiến hành nạo vét hàng triệum3 đất phù sa, khơi thông các kênh lạch, …Về phương tiệnvận tải, ngoài tiếp thu các phương tiện kỹ thuật do Pháp để lại, chúng ta đã nhanh chóngsửa chữa các thiết bị cũ, lắp ráp các thiết bị mới Năm 1957, vận tải đường thủy đứng đầutoàn ngành giao thông vận tải
* Thống nhất về thị trường, giá cả, tiền tệ, chính sách thuế…
Về thương nghiệp, nhiệm vụ quan trọng là thống nhất thị trường, bình ổn vật giá,Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương và mở rộng việc buôn bán với nước ngoài Trongviệc thống nhất thị trường, Nhà nước đã dựa trên cơ sở giá ở vùng tự do cũ tương đốihợp lý để điều chỉnh giá cả ở vùng mới giải phóng, nhằm giúp đỡ sản xuất phát triển Nhànước đã có nhiều biện pháp thực hiện ổn định giá cả những mặt hàng thiết yếu cho đờisống nhân dân như: khơi thông, nắm nguồn hàng, tổ chức một hệ thống các cửa hàng bánlương thực và hàng công nghiệp dân dụng cho nhân dân ở các thành phố mới giải phóng.Nhưng chỉ sau mấy tháng trên thị trường đã xuất hiện nạn đầu cơ Vì vậy, từ giữa tháng 1-
Trang 111955 các cửa hàng mậu dịch đã quyết định bán lương thực theo phiếu mua hàng cấp chocác hộ gia đình Biện pháp này đã phát huy tác dụng rõ rệt chống nạn đầu cơ và trongthực tế giá gạo ở Hà Nội và các tỉnh đã giảm xuống dần.
Đến tháng 7-1955, Nhà nước đã hoàn thành việc điều chỉnh giá Khi có đột biến vềgiá cả một số mặt hàng thiết yếu, Nhà nước đã sử dụng các biện pháp hành chính, giáodục nhưng chủ yếu là các biện pháp kinh tế để bình ổn vật giá Hệ thống mậu dịch quốcdoanh đã được mở rộng, nâng dần thị phần của khu vực này, đồng thời Nhà nước đã tiềnhành lập lại các hợp tác xã mua bán (15-3-1953)
Về tiền tệ, Chính phủ đã tiến hành thu hồi các loại tiền: Đông Dương, tín phiếu, tiền ngân hàng nhân dân Nam Bộ; lưu hành giấy bạc ngân hàng Trung ương Nhà nước còn tăng cường quản lý tiền mặt và mở rộng quan hệ tín dụng
Về tài chính, Chính phủ đã sớm ban hành chính sách thuế công thương nghiệp mới và coi thuế là công cụ để quản lý hoạt động kinh tế phức tạp của xã hội, điều tiết nền kinh tế Thuế nông nghiệp đã được điều chỉnh, tỷ lệ động viên nguồn thu từ thuế này đã giảm nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất Đặc biệt từ tháng 1-1955, Nhà nước đã ban hành thuế tồn kho Biện pháp này đã buộc các nhà kinh doanh phải bán hàng
ra thị trường để thu hồi vốn và có tiền nộp thuế Việc thu thuế này đã hạn chế tình trạng đầu cơ tích trữ, điều tiết lợi nhuận của tư sản, tăng tích lũy cho Nhà nước, bảo vệ sản xuấttrong nước
* Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Về ngoại thương, ngay từ năm 1955 Nhà nước đã chủ trương quản lý và hạn chế
hoạt động của tư nhân hoạt động trong lĩnh vực này Năm 1955, Nhà nước nắm 77%; năm
1957, nắm được 95% kim ngạch ngoại thương Việc buôn bán với nước ngoài được mởrộng hơn Chính phủ ta đã ký các hiệp định buôn bán với các nước Liên Xô (18-7-1955)
và lần lượt với các chính phủ Anbani, Ba Lan, Hungary, CHDC Đức, Bungari, Mông Cổ,Trung Quốc Ngoài ra, Chính phủ cũng ký hiệp định thương mại với các nước ngoàiXHCN như Pháp, Ấn Độ, Inđônêxia Mở rộng quan hệ buôn bán với các nướcSingapore, các nước Tây Âu, Thụy Sỹ, Thụy Điển Việc mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại đã giúp chúng ta có được những kỹ thuật, vốn và hàng hóa cần thiết để khôi phụckinh tế và xây dựng kinh tế sau này
d Kết quả
Thực tiễn giai đoạn khôi phục kinh tế cho thấy, những chủ trương của Nhà nước đã cóảnh hướng tích cực tới đời sống kinh tế chính trị của miền Bắc Kinh tế nhanh chóng đượcphục hồi Tổng sản phẩm trong nước năm 1956 tăng 13,3%, năm 1957 tăng 14,6%, đờisống của nhân dân (dân số miền Bắc năm 1955 là hơn 13,5 triệu người, năm 1957 là hơn14.5 triệu người) nhanh chóng được ổn định và có mặt được cải thiện rất lớn Khu vực
Trang 12kinh tế tư nhân vẫn được Nhà nước khuyến khích, đặc biệt là thị trường tự do còn chiếmmột tỷ lệ đáng kể Đó là môi trường thuận lợi cho khu vực này phát triển
e Bài học kinh nghiệm
Sau 3 năm nền kinh tế miền Bắc đã nhanh chóng được phục hồi, sản lượng nền kinh
tế đã vượt mức năm 1939 (năm cao nhất thời thuộc Pháp) Điều đó đã để lại bài học kinhnghiệm đó là chú trọng giải phóng sức sản xuất xã hội nhằm động viên mọi nguồn lựctrong dân cư cho phát triển kinh tế, đặc biệt là sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn.Đồng thời, khi nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Đảng và Chính phủ đã lựa chọnnông nghiệp là lĩnh vực trọng tâm trong khôi phục kinh tế và từ đó tạo cơ sở để giải quyếtnhững khó khăn khác về kinh tế
2 Cải tạo và phát triển kinh tế (1958-1960).
Hội nghị quốc tế của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế lần I tại Mátxcơva tháng 11/1957 ( sau đó là hội nghị lần thứ II , cuối năm 1960 ) đã khẳng định những nguyên lý chung về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội , khẳng định ý nghĩa to lớn của mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên Xô đồng thời lên án những Đảng và những nước muốn xa rời nguyên tắc cơ bản của mô hình đó Ở trong nước, tình hình kinh tế- xã hội có một số diễn biến phức tạp Hiện tượng đầu cơ nâng giá đối với một số mặt hàng công nghiệp đã làm cho tư tưởng kỳ thị đối với nền kinh tế tư nhân tăng lên, và xu hướng muốn cải tạo nhanh gọn khu vực này lại được củng cố
Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa II) tháng 11-1958
đã đề ra kế hoạch ba năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc (1958-1960).Miền Bắc thực hiện 3 nhiệm vụ lớn:
Một là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệplàm khâu chính
Hai là ra sức cải tạo nông nghiệp , thủ công nghiệp và thương nghiệp tư bản tưdoanh theo chủ nghĩa xã hội
Ba là nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động
Ba nhiệm vụ trên liên quan chặt chẽ và tác động lẫn nhau, song trọng tâm của kế hoạch này là cải tạo xã hội chủ nghĩa, đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế
2.1 Cải tạo xã hội chủ nghĩa.
2.1.1 Chủ trương , đường lối của Đảng
Cải tạo XHCN là công việc rất lớn và quan trọng, được coi là một cuộccách mang về quan hệ sản xuất, là nhiệm vụ cơ bản trong cuộc cách mạng XHCN, mởđường cho sức sản xuất phát triển, cải tạo XHCN nhằm mục đích xây dựng quan hệ sản
Trang 13xuất mới XHCN Trong đó mấu chốt là cải tạo quan hệ sở hữu tư nhân về TLSX, biến nóthành sở hữu XHCN dưới các hình thức đó là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Ở miền bắc nước ta , công cuộc cải tạo XHCN bao gồm cải tạo công thương nghiệp tưbản tư doanh, cải tạo nông nghiệp, cải tạo thủ công nghiệp và cải tạo tiểu thương Trướchết, Đảng đề ra chủ trương làm cải tạo nông nghiệp trước, coi nông nghiệp là khâu quan trọng và là đột phá Nông dân lao động là bộ phận sản xuất rất to lớn
2.1.2 Nội dung
Đối với nông nghiệp, để biến người nông dân cá thể thành người nông dân tậpthể , chúng ta thông qua con đường hợp tác hoá nông nghiệp , kết hợp cải tạo quan hệsản xuất với cải tiến kỹ thuật và giáo dục tư tưởng Hợp tác hoá nông nghiệp được coi
là biện pháp thích hợp để đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn , nhằm phát triển sản xuẩtnông nghiệp và cải thiện đời sống nhân dân
Vận dụng kế hoach hợp tác hoá của V.I Lênin , Đảng đã đề ra ba nguyên tắc xâydựng hợp tác xã là tự nguyện , cùng có lợi và quản lý dân chủ Cách làm đó là đề chonông dân lao động quen dần với việc làm ăn tập thể đồng thời phù hợp với trình độ củacán bộ quản lý hợp tác xã
Đảng ta chủ trương thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp trước cơ giới hoá , songsong với thuỷ lợi và cải tiến kỹ thuật hợp tác hóa được tiến hành dần từng bước từ thấpđến cao Nguyên tắc hợp tác hoá là tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ Biện phápchủ yếu là tuyên truyền, vận động nông dân tham gia vào
Phong trào hợp tác hóa diễn ra với tốc độ rất nhanh Kết quả, nông nghiệp thời kìnày phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn trước chiến tranh, so với năm 1957, năm 1960,tổng sản lượng nông nghiệp bằng 113,7%, thắng lợi nhất là sản lượng lương thực đạt 5,15triệu tấn.Toàn miền Bắc có 41000 hợp tác xã nông nghiệp, quy mô bình quân một hợp tác
xã là 33ha ruộng đất và 68 hộ, gồm 73% diện tích đất canh tác và 85,8% số hộ nông dântham gia hợp tác xã Tại các vùng ven biển, đến cuối năm 1960 có 78% ngư dân và 75%tàu thuyền tham gia vào hợp tác xã nghề cá, 100% số hộ làm muối đã vào hợp tác xã
Về công thương nghiệp tư bản tư doanh, số lượng tư sản không nhiều, thế lựckinh tế yếu kém, bản chất chính trị non nớt Do đó Đảng chủ trương cải tạo hòa bình vớiđối tượng này Cải tạo hòa bình tức là Nhà nước không dùng biện pháp tước đoạt mà làchuộc lại và trả dần đối với tư liệu sản xuất của các nhà tư sản thông qua việc thiết lập cácloại hình kinh tế tư bản nhà nước (kinh tiêu, đại lý, gia công, đặt hàng, công tư hợpdoanh) để biến họ thành người lao động Hình thức xí nghiệp hợp tác được áp dụng đốivới các cơ sở kinh doanh nhỏ , ở đó quyền quản lý kinh doanh thuộc về tập thể , nhà tưsản được hưởng lãi theo cổ phần Hình thức xí nghiệp công tư hợp doanh được áp dụngđối với các cơ sở kinh doanh tư nhân lớn Ở đó toàn bộ tài sản của xí nghiệp tư nhânđược kiểm kê , định giá , trên cơ sở đó định lãi hàng tháng, lãi này được coi là số tiềnchuộc lại mà xã hội trả dần cho các nhà tư sản Nhà nước đã kết hợp các biện pháp kinh tếvới các biện pháp vận động, giáo dục tư tưởng cho các nhà tư bản, tổ chức cho họ các lớp
Trang 14học giải thích về chủ trương Nhà nước và phát động tinh thần của công nhân phê phán,đấu tranh, giúp đỡ các nhà tư sản trong cải tạo họ thành người lao động.
Kết quả, cuối năm 1960 , đã có 729 hộ tư sản công nghiệp ( tý lệ là 100%) đã thamgia cải tạo trong đó hình thức công tư hợp doanh là 661 xí nghiệp , xí nghiệp hợp tác là 68
xí nghiệp , 1489 hộ tư sản thương nghiệp ( chiếm 99,4% tổng số hộ ) đã được cải tạo
Về thủ công nghiệp: số lượng thợ thủ công khá lớn (khoảng 47 vạn người), sảnxuất kinh doanh đa dạng, phân tán Nhà nước có chủ trương hợp tác hoá thủ công nghiệp,đưa thợ thủ công cá thể vào hình thức hợp tác từ thấp đến cao
Kết quả, công nghiệp phát triển mạnh mẽ, gần 100% bộ tư sản thuộc diện cải tạo
đã được cải tạo, 87,9% số thợ thủ công đi vào con đường làm ăn tập thể, giá trị sản lượngcông nghiệp tăng mạnh và liên tục, thành tựu nổi bật là xây dựng được 70 xí nghiệp mớinhư: nhà máy điện Vinh, Lào Cai, cơ khí Hà Nội, cao su, xà phòng, 72 công trình trênhạn ngạch đang được tiến hành xây dựng như : khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy hóachất Việt Trì, Năm 1960, giá trị sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp bằng 184,4%năm 1957 Công nghiệp từ chủ yếu khai thác nguyên liệu đã có cơ sở chế tạo sản phẩm,cung cấp được một phần quan trọng tư liệu sản xuất và tiêu dùng cho nhân dân Cho rađời một số sản phẩm mới như: máy công cụ đạt trình độ chính xác cấp 2, gạch chịu lửa,axit sunphurit, thuốc trừ sâu,
Đối với thương nghiệp nhỏ : Số lượng khá đông ( khoảng 20 vạn ) , kinh doanh hếtsức đa dạng , phân tán Nhà nước chủ trương chuyển một bộ phận tiểu thương sang sảnxuất đồng thời đưa tiểu thương vào hệ thống thương nghiệp xã hội chủ nghĩa ( hợp tác xãmua bán và mậu dịch quốc doanh )
Kết quả, 45,6% số tiểu thương vào hợp tác xã, chuyển được 11000 tiểu thươngsang sản xuất, số ít người được chuyển vào làm nhân viên mậu dịch quốc doanh và hợptác xã mua bán Tổng công ty chuyên doanh từ 10 năm 1957 lên 14 năm 1960, mở rộngkinh doanh cả ăn uống, phục vụ, sửa chữa, mạng lưới mậu dịch quốc doanh phát triển cả
về nông thôn, miền núi và miền biển Nhà nước chiếm 100% về ngoại thương, có quan hệthương mại với 22 nước trong đó có 11 nước xã hội chủ nghĩa Kim ngạch xuất nhập khẩutăng lên đáng kể, nhập khẩu giúp khắc phục những thiếu thốn về hàng thiết yếu, ổn địnhgiá cả, đảm bảo nhu cầu cơ bản của đời sống nhân dân
Thành tựu: Cuối năm 1960 công cuộc cải tạo XHCN ở miền Bắc căn bản hoàn
thành Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã được xác lập một cách phổ biến , thànhphần kinh tế xã hội chủ nghĩa (bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác) đã chiếm
tý trọng áp đảo trong nền kinh tế miền Bắc
Cải tạo XHCN ở miền Bắc những năm 1958-1960 chứa đựng những thành công lịch
sử Thành công lớn nhất là thiết lập về căn bản cơ sở kinh tế XHCN, nếu không có nó thìkhông nói gì đến XHCN Bản thân chế độ người bóc lột người căn bản xoá bỏ, mọi thànhviên tự do học tập, lao động, sáng tạo trên nền tảng xã hội mới tốt hơn trước