Nghiên cứu nền kinh tế Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai nhằmmục đích để biết, phân tích nguyên nhân thực sự của bí quyết đổi mới kinh tế củaNhật Bản cho sự phát triển củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ KINH TẾ
Tên Đề tài: “Kinh tế Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ 2 (từ 1945 đến nay.”
Sinh viên thực hiện: Trần Nhật Khánh 12220018
Nông Thanh Quyến 11225495 Mai Thùy Dương 11221569 Nguyễn Thu Nga 11224515
Lê Nguyễn Phương Chi 11220977
Hà Nội 2022
Trang 2Giai đoạn khôi phục kinh tế 1945-1961Giai đoạn 1974-1991
Mai Thùy Dương Phân tích :Vai trò của nhà nước và cấu
trúc kinh tế 2 tầng
Làm slide
Nguyễn Thu Nga Phân tích :Phần tích lũy, sử dụng vốn và
vai trò của phát triển khoa học kỹ thuật
Lê Nguyễn Phương Chi Phân tích :Kinh tế Nhật Bản thời kì
1961-1974 và nhân tố con người
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Giai đoạn khôi phục kinh tế (1946-1951) 3
2 Giai đoạn 1952-1973: giai đoạn phát triển thần kỳ 5
3 Giai đoạn 1974-1991 18
4 Giai đoạn từ 1992 đến nay 20
KẾT LUẬN VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA BÀI VIẾT 22
Trang 4MỞ ĐẦU
Nhật Bản được biết đến là một đất nước văn hoá Á Đông thuộc khu vực Đông
á với những nét đặc sắc riêng biệt Nhật Bản có diện tích 377.972,28 km2 (xếp hạng
62 thế giới), đặc biệt Nhật bản là một quốc đảo với số lượng đảo nhiều nhất thế giớivới gần 7.000 hòn đảo, trong đó có 4 đảo lớn nhất và có nhiều người sinh sống nhất làHonshu, Hokkaido, Kyushu, và Shikoku Song song với nền văn hoá đặc sắc vớinhững hình ảnh biểu tượng như trang phục Kimono, tinh thần võ sĩ đạo, trà đạo… làhình ảnh con người Nhật Bản cần cù, thông minh, tiết kiệm, trung thành và tráchnhiệm cao Những yếu tố này đã góp phần tạo nên một đất nước xinh đẹp, phát triểnnhư hiện nay
Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường tự do phát triển Nhật Bản là nền kinh
tế lớn thứ ba thế giới theo GDP danh nghĩa và lớn thứ tư theo sức mua tương đương(PPP),ngoài ra Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trong số các nước phát triển NhậtBản là thành viên của G7 và G20 Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, GDP bình quân đầungười theo sức mua tương đương (PPP) của quốc gia này đạt 41.637 Đô la Mỹ (2020)
Để đạt được những thành tựu kinh tế kể trên, Nhật Bản đã phải trải qua nhữngthăng trầm trong quá trình phát triển kinh tế đặc biệt trong giai đoạn sau chiến tranhthế giới thứ hai Sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là nước bại trận, chiến tranh
đã tàn phá nặng nề nền kinh tế Gần 3 triệu người chế và bị thương, 34% máy móccông nghiệp, 25% công tình xây dựng, 82% tàu thuyền bị tàn phá, sản xuất các ngànhđều giảm mạnh Tổng thiệt hại lên tới 61,3 tỷ yên
Với những nỗ lực không ngừng nghỉ, Nhật Bản đã vực lên sau chiến tranh mộtcách thần kỳ Đặc biệt trong giai đoạn 1952-1973, cả thế giới đã chứng kiến sự vựclên đáng kinh ngạc của Nhật Bản
Nghiên cứu nền kinh tế Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai nhằmmục đích để biết, phân tích nguyên nhân thực sự của bí quyết đổi mới kinh tế củaNhật Bản cho sự phát triển của nó sau Thế chiến 2, điều khiến phần còn lại của thếgiới ngạc nhiên khi xây dựng một đất nước phát triển vượt bậc về kinh tế gần như chỉ
từ tro tàn Nó có thể là chìa khoá quan trọng để tìm ra các chiến lược phát triển kinh tếcủa các quốc gia đi sau Mọi thắc mắc sẽ được giải đáp khi nghiên cứu kinh tế Nhậtqua các giai đoạn sau:
1 Giai đoạn khôi phục kinh tế ( 1946-1951)
2.Giai đoạn 1952-1973: phát triển “thần kỳ”
3 Giai đoạn 1974-1991
4 Giai đoạn 1992 đến nay
1
Trang 5Từ đó có thể thấy được bức tranh kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứhai, đặc biệt những thay đổi quan trọng của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển thần
kỳ 1952-1973 cùng những nhân tố ảnh hưởng Thấy được sự thay đổ về vị thế, về ảnhhưởng của kinh tế Nhật Bản trong nền kinh tế thế giới và khu vực Rút ra bài gọc kinhnghiệm từ nghiên cứu sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản qua các thời kỳ
2
Trang 61 Giai đoạn khôi phục kinh tế (1946-1951)
Sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế bị lâm vào tình trạng khủng hoảngnghiêm trọng: năng lượng thiếu, lạm phát nặng nề Đất nước Nhật Bản bị quân đội Mĩchiếm đóng Chủ nghĩa tư bản Nhật đã được Mĩ vực dậy nhằm biến Nhật Bản thànhđồng minh đắc lực trong chính sách bành trướng xâm lược của Mĩ ở châu Á – TháiBình Dương Năm 1951 Nhật kí với Mĩ hiệp ước an ninh Nhật – Mĩ và năm 1953Hiệp ước thương mại và đầu tư được kí kết
Ngay trong những năm đầu sau chiến tranh, dưới thời kiểm soát của quân đội
Mĩ, ba cải cách lớn được thực hiện:
- Thủ tiêu tình trạng tập trung quá sức mạnh kinh tế: Các Zaibatsu tồn tại ở Nhật Bản
là các tập đoàn, công ti tư bản lũng loạn mang nhiều tính chất dòng tộc, đã gây ảnhhưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Chính vì thế, việc thực hiện cải cách giảitán các Zaibatsu là điều cần thiết Giải thế các nhóm Zaibatsu cũng nhằm tiêu diệt sứcmạnh quân sự của Nhật Bản, xóa bỏ quyền kiểm soát của một vài công ti lớn nhưMitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Yasuda đối với nền kinh tế Nhật Các Zaibatsu bịphong tỏa vào tháng 11 năm 1945, các công ty cổ phần và gia đình Zaibatsu bị cưỡng
ép chuyển đổi cổ phần của họ vào tháng 4 năm 1946 và việc sử dụng thương hiệu vàgia huy Zaibatsu bị cấm vào năm 1950 Trên danh nghĩa và trong thực tế, Zaibatsu đã
bị giải thế Với những phương thức nêu trên, Zaibatsu, động lực chính của sự hìnhthành độc quyền ở Nhật Bản thời kỳ trước và trong chiến tranh đã biến mất trong bốicảnh này Biện pháp này tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trong tất cả các ngành côngnghiệp, và thúc đẩy cơ chế thị trường ở Nhật Theo đó Luật chống độc quyền đượcban hành vào tháng 4-1947, Luật thủ tiêu sự tập trung hoá quá mức sức mạnh kinh tếđược đã được ban hành Những yếu tố trên buộc các công ty lớn phải chia nhỏ thànhcác công ty nhỏ hơn Bất chấp việc bị phá vỡ thành nhiều mảng khác nhau, các công
ty như Mitsubishi, Mitsui, Sumitomo vẫn phát triển mạnh mẽ để tiếp tục chi phối vàdẫn dắt kinh tế Nhật Bản cho đến tận ngày nay
- Cải cách ruộng đất: Ngay sau Thế chiến II, Nhật Bản đã quyết liệt tiến hành cải cáchruộng đất Người ta coi đây là một trong những cuộc cải cách thành công nhất trên thếgiới Tướng MacArthur, người ra lệnh cải cách với tư cách là Tư lệnh tối cao củaQuân đội đồng minh, tự ca tụng thành công của mình trong một bức thư gửi Thủtướng Nhật Yoshida, là “ chương trình cải cách ruộng đất là thành công nhất tronglịch sử” MacArthur còn nhận định sắc sảo rằng cải cách ruộng đất là thành tích lớnnhất trong sự nghiệp làm chính sách của ông Quy định địa chủ chỉ được quyển giữ lạimột phần ruộng đất nhất định (tối đa 1 ha) Số còn lại được bán cho tá điền, toàn bộđất vắng mặt được bán cho tá điền Cải cách ruộng đất phân bổ tài sản công bằng hơn
3
Trang 7kinh tế 100% (18)
5
Slides Văn minh Ấn
Độ cổ trung đạiLịch sử
kinh tế 100% (5)
31
Giáo trình Lịch sử học thuyết kinh tế -…
244
Trang 8tới mọi người ở nông thôn, vì thế phân bổ thu nhập trong xã hội nông thôn cũng đồngđều hơn nhiều Theo nhận định của phần lớn các nhà hoạch định chính sách và học giả
ở Nhật Bản, thì cải cách đã tiếp thêm động lực mới cho nông dân, góp phần vào tăngtrưởng nhanh ngành nông nghiệp Nhật Bản từ giữa thập niên 1950 Cũng vì cải cáchruộng đất, địa chủ mất đi uy thế chính trị và kinh tế, và xã hội nông thôn được cơ cấulại Những thay đổi chính trị và xã hội này đã góp phần vào quá trình dân chủ hóa xãhội nông thôn Trong bối cảnh này, cải cách ruộng đất ở Nhật Bản đã rất thành công,
có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định xã hội và chính trị của Nhật Bản thời hậu chiến
- Dân chủ hoá lao động: Nhật Bản thông qua 3 đạo luật gồm Luật công đoàn “là tạođiều kiện điều chỉnh công bằng các quan hệ lao động, ngăn ngừa hoặc giải quyết tranhchấp lao động, duy trì hòa bình công nghiệp, và do đó góp phần vào sự thịnh vượngkinh tế”; luật tiêu chuẩn lao động “Luật quy định rằng nguyên tắc điều kiện làm việcđảm bảo "một cuộc sống xứng đáng là con người", và các điều kiện làm việc phảiđược quyết định trên bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động làmviệc cho phụ nữ và trẻ vị thành niên, bồi thường tai nạn cho người lao động và cáctiêu chuẩn tối thiểu khác về điều kiện làm việc”; Luật điều chỉnh các quan hệ lao độngtrong thơì gian 1945 đến 1947 Bên cạnh những chính sách kể trên, Nhật Bản phải đốimặt với ba vấn đề cấp bách đó là “tình trạng thất nghiệp” khoảng 13,1 triệu ngườikhông việc làm; “ thiếu năng lượng và lương thực”, sản lượng khai thác than sụt giảmnhanh do các mỏ gần như bị tê tiệt Lương thực thiếu hụt do vụ lúa 1945 mất mùa, sảnlượng thu hoạch chỉ bằng 2/3 trước đó, một phần do mất đi nguồn cung từ các thuộcđịa Thứ ba là “lạm phát tăng nhanh”, Chỉ số giá tiêu dùng nếu so với năm 1945 thìnăm 1946 là 515%, năm 1947 là 1.65%, năm 1948 là 4.857% và năm 1949 là 7.889%
Để giải quyết những vấn đề cấp bách, Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều biệnpháp cụ thể nhưng tác động còn nhiều hạ chế, việc khôi phục còn chậm và khó khăn.Tuy nhiên dưới sức ép của các nội dung cải cách của quân chiếm đóng đã có nhữngtác động tích cực đến quá trình khôi phục kinh tế Nhật Bản Những biện pháp này đãtạo tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh ở giai đoạn sau Năm 1948, kế hoạch 5năm khôi phục kinh tế (1948-1952) được thảo ra nhằm mục tiêu là khôi phục sản xuấtbằng mức chiến tranh Nhìn chung đến năm 1951, với sự giúp đỡ của Mĩ, nền kinh tếNhật đã được khôi phục
Các cuộc cải cách dân chủ Nhật Bản giai đoạn 1945-1951 đã tạo ra những biến đổi
to lớn trong nền kinh tế, chính trị, đời sống xã hội của Nhật bản Tạo cơ sở quan trọngcho Nhật Bản phục hồi nhanh chóng nền kinh tế sau chiến tranh Đến năm 1951, NhậtBản đã thực sự kết thúc giai đoạn phục hồi kinh tế, mức sản xuất đã ngang mức trướcchiến tranh Đây là cơ sở cho sự cất cánh kỳ diệu của Nhật Bản, là một trong những
4
Lịch sửkinh tế 100% (3)
TỰ LUẬN GIỮA KÌIIIIIIIIIIIIIIIIIIIIIILịch sửkinh tế 100% (3)
3
Trang 9giai đoạn quan trọng tạo những biến đổi cơ bản về mọi mặt của đời sống kinh tế, xãhội, có những tác động to lớn thúc đẩy phát triển lịch sử Nhật Bản giai đoạn sauđó.Cuộc cải cách dân chủ trong những năm 1945-1951 đã xóa bỏ chủ nghĩa quânphiệt và những tàn dư phong kiến, xây dựng nền tảng mới về chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội tạo đà cho Nhật Bản phát triển Các cuộc cải cách kinh tế đã tạo cơ chếcạnh tranh trong sản xuất, đưa sản xuất vào tay những người có trình độ quản lý vàtrực tiếp sản xuất, có tư tưởng hòa bình và phát triển.
2 Giai đoạn 1952-1973: giai đoạn phát triển thần kỳ
Nhờ có một số cải cách lớn kinh tế Nhật Bản đã khôi phục và phát triển vượt bậc:
Từ năm 1952 đến năm 1958, GDP của Nhật tuy tăng không ổn định nhưng chạm mốcbình tăng bình quân 6,9% hàng năm
Từ năm 1959 đến những năm trong thập niên 1960, tuy 2 năm 1962 và 1965 có GDP
bị sụt giảm mạnh nhưng Nhật đã nhanh chóng khôi phục lại tốc độ tăng trưởng hơn10% mỗi năm
Giai đoạn 1952 đến 1972, GDP đạt đỉnh 14,4% vào năm 1961 trong khi đó mức thấpnhất 2,3% năm 1954
Vào những năm cuối thời kỳ, GDP Nhật có xu hướng đạt trên 11% mỗi năm
1952 1953 1954 1955 1956 1957 1958 1959 1960 1961 1962 1963 1964 1965 1966 1967 1968 1969 1970 1971 197202
11.7 13.3 14.4
5.7
12.8 10.8
5.4
11.8 13.4 13.6 12.4
9.3
5.7 12
Biều đồ tăng trưởng GDP Nhật Bản từ 1952-1972
5
Trang 10Công Nghiệp:
Tốc độ tăng trưởng cao trong sản xuất công nghiệp, đặc biệt trong ngành côngnghiệp chế tạo:
Công nghiệp chế biến tăng 260%
Công nghiệp điện tử và hóa dầu tăng 3,4 lần
Chế tạo máy tăng 3,8 lần
Ngành công nghiệp dệt tăng tương đối nhỏ từ 42,2 năm 1955 đến 154 năm 1970
Sự phát triển của cơ khí rất đáng chú ý vì khi tính theo năm 1965 với chỉ số 100% thìvào năm 1955 là 14,6% tăng lên đến 261,6% năm 1970, hơn 20 lần trong 15 năm.Vốn đầu tư cho máy móc, thiết bị tăng khá nhanh, bình quân hàng năm đạt22% Vốn dành cho ngành khai khoáng, xây dựng và chế tạo chiếm 35% năm 1955đến 50% năm 1970 Trong đó, công nghiệp nặng và hóa chất tăng từ 14% năm 1955đến 28% năm 1970
Sự thay đổi trong cơ cấu ngành xuất khẩu khẩu công nghiệp đã dẫn tới sự tăngtrưởng kinh tế và công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất
1950: một nửa số lượng hàng xuất khẩu là hàng dệt
1975: dệt tụt còn 5 % còn thép tăng lên 34% năm 1960 sau đó tụt xuống 10%.Nhóm ngành công nghiệp thuộc hệ nguyên vật liệu( hóa chất, sản phẩm dầu
mỏ, sản phẩm kimm loại và gang thép) trong tổng giá trị ngành công nghiệp chế tạodao động mức 26-27% từ năm 1951-1970
Trong khi các ngành chế biến thực phẩm, sản phẩm tơ sợi, sản phẩm than đá và giảmmạnh thì các ngành chế tạo máy, điện tử tăng mạnh
Các ngành như đồ gỗ, giấy - in ấn - xuất bản, sản phẩm dầu mỏ và sản phẩmkim loại có tỉ trọng tăng nhẹ từ khoảng 1% đến 3% trong những năm 1951-1970
Tỉ trọng của nhóm công nghiệp cơ khí ( máy thông dụng, máy điện, máy vận tải, máychính xác) tăng đáng kể từ 11% 1951 đã thay đổi 24% năm 1960 và lên đến 32% năm
1970
Sự thay đổi lớn trong cơ cấu sản xuất, xuất khẩu hàng công nghiệp Nhật Bản
đã dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóachất
6
Trang 11Nhật Bản đã vươn lên đứng đầu trong các nước tư bản về sản lượng một số ngành nhưđóng tàu, sản xuất xe máy, máy khâu, máy ảnh, tivi thép, xi măng, sản phẩm hóachất Đặc biệt là ngành ô tô và máy tính điện tử trong sản xuất và xuất khẩu
Nông Nghiệp:
Trong sự phát triển nền kinh tế đã có sự phát triển không đồng đều giữa côngnghiệp và nông nghiệp Ngành nông nghiệp mất đi một bộ phận lao động bởi sự pháttriển của quá trình công nghiệp hóa
Sau chiến tranh nông nghiệp của Nhật Bản không chỉ đầu tư vào phân bón màcòn cả vật tư - công cụ Sự cơ giới hóa nông nghiệp có ý nghĩa thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp đi từ máy tuốt hạt rồi đến máy kéo hạng trung, máy làm đất Khoảng năm
1970, Nhật Bản đã hoàn thiện kỹ thuật cơ giới hóa toàn bộ việc trồng và thu hoạchlúa
Từ 1952 đến 1972, sản lượng và năng suất lao động tăng nhanh Mức tăng củanăng suất lao động nông nghiệp là 4,22 lần Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp trong thời
kỳ này xem từ mức độ sản lượng thì chăn nuôi tăng mạnh, hoa quả và rau xanh tăngđáng kể, gạo tăng ổn định, nuôi tằm giảm sút, các loại ngũ cốc và các loại khoai giảmmạnh Dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu các ngành kinh tế
22.6
31.3 46.1
Cơ cấu ngành sản xuất(%) năm 1952
Nông, lâm, ng nghi p ư ệ Công nghi p, xây d ng ệ ự
Th ươ ng m i, d ch v ạ ị ụ
9.9
38.6 51.5
Cơ cấu ngành sản xuất(%) năm 1968
Nông, lâm, ng nghi p ư ệ Công nghi p, xây d ng ệ ự
Th ươ ng m i, d ch v ạ ị ụ
Sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy các ngành trong nềnkinh tế Nhật Bản, nhất là ngành công nghiệp chế tạo và đã làm thay đổi nhanh cơ cấucác ngành
Ở đầu giai đoạn, nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn với 22,6% thì cuối giaiđoạn chỉ còn chiếm 9,9%
7
Trang 12Trong khi đó, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng cũng như thương mại dịch vụ tăngđáng kể khoảng 5% đến 7%.
Thương mại, dịch vụ vẫn duy trì mức tỷ trọng cao nhất trong thời kỳ này
Ngoại Thương:
Ngoại thương của Nhật Bản cũng tăng nhanh trong thời kỳ này
Từ năm 1950-1971, kim ngạch ngoại thương tăng vượt bậc từ 1,7 tỷ USD lên43,6 USD
Nhật Bản có rất ít tài nguyên do vậy để phát triển kinh tế không còn cách nàokhác là phải dựa vào nhập khẩu nguyên liệu, từ đó một nhiệm vụ quan trọng trong quátrình tăng trưởng kinh tế là phải xuất khẩu thu ngoại tệ để duy trì nhập khẩu ( nhậpkhẩu tăng 21 lần)
Bên cạnh đó, Nhật còn nâng cao trình độ kỹ thuật và sử dụng các nguyên liệugiá rẻ nhập nội để sản xuất các hàng hóa xuất khẩu có giá trị nằm cân bằng cán cânxuất nhập khẩu ( xuất khẩu tăng 30 lần)
Trong thời kỳ này, các mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển biến khác nhau:
Các kim loại (ngoài thép) và tàu thủy có sự tăng nhẹ khoảng 0,2% - 0,4%
Các sản phẩm hóa chất, thép, máy thu thanh, tivi, máy ghi âm và máy móckhác có sự tăng trưởng mạnh Bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của một số mặt hàngxuất khẩu mới như ô tô, thiết bị quang học và văn phòng
Tuy nhiên, ngoài sự tăng trưởng mạnh của các mặt hàng thì sản phẩm dệt vàmột số sản phẩm khác cũng giảm mạnh qua thời kì này
Khối lượng xuất khẩu của Nhật Bản trở lại mức trước chiến tranh và tiếp tục tăng liêntục trong các năm sau đó ( khoảng 7 lần kể từ năm 1960 )
Nhờ tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, thu nhập quốc dân tính theo đầu ngườicủa Nhật Bản đã tăng đáng kể Sự tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản giaiđoạn này là do các nhân tố sau:
Nhờ tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, thu nhập quốc dân tính theo đầu ngườicủa Nhật Bản đã tăng đáng kể Sự tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản giaiđoạn này là do các nhân tố sau:
Thứ nhất về nhân tố con người
Nền giáo dục của Nhật Bản thực hiện phổ cập giáo dục 9 năm, coi trọng yếu tốvăn hóa truyền thống, sớm phân luồng đào tạo nghề và đào tạo trình độ cao Không
8
Trang 13chỉ vậy, họ còn chú trọng nâng cao dân trí, trang bị năng lực làm việc, có tính kỷ luật
và có tính tự giác, cũng như có tinh thần trách nhiệm cao với công việc
Người Nhật luôn có đức tính trung thành Họ luôn tận tụy và gắn bó suốt đời với côngviệc, dồn hết tâm huyết cho công ty mình đang làm
Công ty cũng luôn tăng cường nuôi dưỡng tình cảm trung thành của công nhân,tăng cường đào tạo để họ đã trở thành người lao động lành nghề Từ đó, mối quan hệgiữa hai bên trở nên hài hòa và năng suất lao động sẽ tăng cao
Người Nhật Bản rất chăm chỉ làm việc, họ tình nguyện làm việc cho công tydưới nhiều hình thức khác nhau ngoài giờ quy định Chế độ lao động suốt đời là mộttrong những đặc trưng tiêu biểu cho mô hình quản lý doanh nghiệp ở Nhật Bản
Họ nhận thức được đất nước nơi họ sinh ra tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, thiênnhiên đe dọa nên chỉ có con đường học tập mới có thể tồn tại được
Một đức tính nữa là họ rất tiết kiệm Họ rất có ý thức đối với của công cũngnhư của riêng mình Sự chăm chỉ cùng với tính tiết kiệm đã làm cho sự nghiệp pháttriển đất nước ngày càng thành công
Một lý do quan trọng tạo ra bước nhảy thần kỳ của Nhật Bản liên quan tới nhân
tố con người đó là họ có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật khá đông đảo, đượcđào tạo bài bản, ứng dụng được khoa học kỹ thuật du nhập từ nước ngoài về, vừa cókhả năng nghiên cứu, sáng tạo những thành tựu mới
Những người quản lý có tầm nhìn xa, năng động và táo bạo Họ không nghĩđến lợi ích trước mắt nhưng luôn có cái nhìn lâu dài vì sự phát triển và tồn tại củacông ty
Con người Nhật Bản cần cù, thông minh, sáng tạo, năng động, trung thành, phổcập cao nên đã nhanh chóng thu được những tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới.Một trong những yếu tố dẫn đến sự thành công trong giai đoạn phát triển thần kỳ củaNhật Bản đó là được chuyển giao các công nghệ của phương tây và tính cách tốt củacon người nơi đây
Thứ hai về tích lũy và sử dụng vốn
Nhân tố quan trọng làm nên thành công của Nhật Bản đó là tích lũy, huy độngđược nguồn vốn dồi dào và việc sử dụng một cách hiệu quả Vốn tích lũy là nguồnvốn lợi không chia mà được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh
Là tiền đề cho các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chủ đầu tư
Trong giai đoạn phát triển thần kì Nhật bản đã tích lũy được một số vốn rất lớn,cao nhất trong số các nước tư bản phát triển Từ năm 1952 -1955, tỷ lệ tích lũy so với
9