1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) đề lý luận giá trị thặng dư và vận dụng để phát triển kinh tế tư nhân ởviệt nam hiện nay

17 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Luận Giá Trị Thặng Dư Và Vận Dụng Để Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Chử Xuân Quang
Người hướng dẫn GV Hướng Dẫn: Tô Đức Hạnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị Mác- Lênin
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bí mật ở đây là nhà tư bản đã mua được một loại hàng hóa đặc biệt nào đó mà trong quá trình sử dụng loại hàng hóa này, giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra được giá trị

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Khoa Kế hoạch và phát triển

BÀI TẬP LỚN

Học phần: Kinh tế chính trị Mác- Lênin

ĐỀ: Lý luận giá trị thặng dư và vận dụng để phát triển kinh tế tư nhân ở

Việt Nam hiện nay

Họ và tên : Chử Xuân Quang

Lớp tín chỉ : LLNL1106(123)_29

GV hướng dẫn : Tô Đức Hạnh

HÀ NỘI: 10/2023

Trang 2

Mục lục

I Lý luận về giá trị thặng dư 3

1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư 3

a Công thức chung của tư bản 3

b Hàng hóa sức lao động 4

c Sự sản xuất giá trị thặng dư 5

2 Bản chất của giá trị thặng dư 6

3 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 7

II Thực trạng về phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam hiện nay 8

1 Thực trạng và những kết quả mà kinh tế tư nhân đã đạt được 8

2 Những hạn chế và nguyên nhân của khối tư nhân 11 III Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay 13

Trang 3

I Lý luận về giá trị thặng dư

1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư

a Công thức chung của tư bản

Để tìm ra công thức chung của tư bản cần xem xét vai trò của tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn và tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Tiền trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn vận động trong quan hệ H-T-H Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động trong quan hệ T-H-T Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hình thức vận động nêu trên thể hiện ở mục đích của quá trình lưu thông Mục đích trong lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng Mục đích trong lưu thông tư bản là giá trị lớn hơn vì nếu không thu được lượng giá trị lớn hơn thì sự lưu thông này không có ý nghĩa

Do vậy, tư bản vận động theo công thức: T-H-T’ (đây là công thức chung của

tư bản) Các hình thái từ bản đều vận động theo công thức này, trong đó T= T +t (t>0)

Số tiền trội ra lớn hơn được gọi là giá trị thặng dư, số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản Tiền biến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư

Vậy nguồn gốc của giá trị thặng dư từ đâu mà có? Việc mua, bán hàng hóa thấp hơn hoặc bằng giá trị sẽ không có giá trị tăng thêm, nếu người mua hàng hóa để rồi bán hàng hóa đó cao hơn giá trị thì chỉ được lợi xét về người bán, nhưng xét về người mua thì lại bị thiệt Trong nền kinh tế thị trường, mỗi người đều đóng vai trò là người bán và đồng thời cũng là người mua Cho nên, nếu được lợi khi bán thì lại bị thiệt khi mua Lưu thông (mua, bán thông thường không tạo ra giá trị tăng thêm) xét trên phạm vi xã hội Bí mật ở đây

là nhà tư bản đã mua được một loại hàng hóa đặc biệt nào đó mà trong quá trình sử dụng loại hàng hóa này, giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra được giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó Đó là hàng hóa sức lao động

Trang 4

b Hàng hóa sức lao động

C.Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống,

và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”

* Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:

 Một, người lao động được tự do về thân thể

 Hai, người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết

hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động

* Thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng

- Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định

Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định

Do vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động

sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy Diễn đạt theo cách khác, giá trị của hàng hóa sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất sức lao động

Giá trị của hàng hóa sức lao động do các bộ phận sau đây hợp thành:

 Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái

sản xuất ra sức lao động;

 Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;

 Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần)

nuôi con của người lao động

Trang 5

Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của hàng hóa sức lao động phải phản ánh lượng giá trị nêu trên

- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầu của người mua

Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng sức lao động Hàng hóa sức lao độnglà loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và lịch sử Hơn thế, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hóa thông thường nào có được, đó là trong khi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên do đâu mà có Nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động mà có

c Sự sản xuất giá trị thặng dư

Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị Để có được giá trị thặng dư, nền sản xuất xã hội phải đạt đến một trình độ nhất định Trình độ đó phản ánh, người lao động chỉ phải hao phí một phần thời gian lao động (trong thời gian lao động đã được thỏa thuận mua bán theo nguyên tắc ngang giá) là có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động, bộ phận này là thời gian lao động tất yếu Ngoài thời gian tất yếu đó, vẫn trong nguyên tắc ngang giá đã thoả thuận, người lao động phải làm việc trong sự quản lý của người mua hàng hóa sức lao động, và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, thời gian đó là thời gian lao động thặng dư Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dội ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà

tư bản Ký hiệu giá trị thặng dư là m Sở dĩ được gọi là dôi ra vì người lao động chỉ cần một phần nhất định thời gian hao phí sức lao động đã được thỏa thuận theo nguyên tắc ngang giá là đã đủ để bù đắp giá trị hàng hóa sức lao động của mình Thoả thuận này được phản ánh ở một bản hợp đồng lao động

Trang 6

giữa người mua và người bán hàng hóa sức lao động Tất nhiên, trên thực tế trong nền kinh tế thị trường, thỏa thuận này rất khó đạt được mức ngang giá, nghĩa là tiền công của người bán sức lao động rất khó phản ánh lượng giá trị đầy đủ như ba yếu tố cấu thành như đã nêu

Như vậy, đến đây có thể khái quát: tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng

dư Quá trình sản xuất giá trị thặng dư, xét từ phía nhà tư bản, là quá trình ứng

ra và sử dụng tư bản với tư cách là giá trị mang lại giá trị thặng dư Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng tự bản ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động

2 Bản chất của giá trị thặng dư

Nghiên cứu về nguồn gốc của giá trị thặng dư trên đây cho chúng ta thấy, giá trị thặng dư, như vậy, là kết quả của sự hao phí sức lao động trong sựthống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị Quá trình đó được diễn

ra trong quan hệ xã hội giữa người mua hàng hóa sức lao động với người bán hàng hóa sức lao động Do đó, nếu giả định xã hội chỉ có hai giai cấp, là giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, thì giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bảnchủ nghĩa mang bản chất kinh tế - xã hội là quan hệ giai cấp Trong đó, giai cấp các nhà tư bản làm giàu dựa trên cơ sở thuê mướn lao động của giai cấp công nhân Ở đó, mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, người lao động làm thuếphải bán sức lao động cho nhà tư bản ấy

Để hiểu sâu hơn bản chất của giá trị thặng dư, C.Mác làm rõ hai phạm trù

tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh

tế thị trường tư bản chủ nghĩa không những chỉ dừng lại ở mức có được giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu được nhiều giá trị thặng dư, do đó cần có thước đo để đo lường giá trị thặng dư về lượng

Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến để sản xuất ra giá trị thặng dư đó Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư là:

m’ = m/v x 100%

Trang 7

Discover more from:

KTCT01

Document continues below

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin

Đại học Kinh tế Quốc dân

999+ documents

Go to course

Phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động tích cực đối với Việt Nam

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (48)

12

Vo ghi triet hoc Mac - Lenin 1

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 99% (69)

17

Tiểu luận Kinh tế Chính trị Mác-Lênin

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (100)

14

Tài liệu tổng hợp Kinh tế chính trị Mác LêNin

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (133)

63

KTCT - Tài liệu ôn tự luận

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 98% (64)

57

Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Kinh tế Chính trị Mác-Lê Nin 100% (21)

16

Trang 8

Trong đó, m’ là tỷ suất giá trị thặng dư; m là giá trị thặng dư; v là tư bản khả biến

Tỷ suất giá trị thặng dư cũng có thể tính theo tỷ lệ phần trăm giữa thời gian lao động thặng dư (t’) và thời gian lao động tất yếu (t):

m’= t’/t x 100%

Khối lượng giá trị thặng dư là lượng giá trị thặng dư bằng tiền mà nhà tư bản thu được Công thức tính khối lượng giá trị thặng dư là:

M =m'.V

Trong đó, M là hối lượng giá trị thặng dư, V là tổng tư bản khả biến

Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ khai thác sức lao động làm thuê; khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô giá trị thặng dư mà chủ sở hữu

tư liệu sản xuất thu được

3 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Để thu được nhiều giá trị thặng dư cần có phương pháp nhất định C.Mác

đã chỉ ra nhà tư bản sử dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối

- Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt qua thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hóa sức lao động phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động Tuy nhiên, ngày lao động chịu giới hạn về mặt sinh lý (công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí) nên không thể kéo dài bằng ngày tự nhiên, còn cường

độ lao động cũng không thể tăng vô hạn quá sức chịu đựng của con người

- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu; do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn

Trang 9

Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt

và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất sức lao động, do đó phải tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất

ra tư liệu sản xuất để chế tạo ra tư liệu sinh hoạt đó Trong thực tế, việc cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động diễn ra trước hết ở một hoặc vài xí nghiệp riêng biệt, làm cho hàng hoá do các xí nghiệp ấy sản xuất ra có giá trị

cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, và do đó, sẽ thu được một số giá trị thặng dư trội hơn so với các xí nghiệp khác Phần giá trị thặng dư trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch Xét từng trường hợp đơn vị sản xuất cá biệt, giá trị thặng

dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, xuất hiện rồi mất đi, nhưng xét toàn

bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng tồn tại thường xuyên

Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản

ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động Hoạt động riêng lẻ đó của từng nhà tư bản đã dẫn đến kết quả làm tăng năng suất lao động xã hội, hình thành giá trị thặng dư tương đối, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối

II Thực trạng về phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam hiện nay

1 Thực trạng và những kết quả mà kinh tế tư nhân đã đạt được

Kinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ Tính trung bình trong giai đoạn 2010 - 2021, bình quân mỗi năm có trên 100 nghìn DN được thành lập Đặc biệt, giai đoạn 2018 - 2022, mỗi năm có hơn 130 nghìn DN được thành lập mới Tương ứng với đó, số vốn đăng ký hằng năm đạt trên 500 nghìn tỷ đồng Giai đoạn 2018 - 2022, mỗi năm số vốn đăng ký mới đạt trên 150 nghìn

tỷ đồng

Theo Diễn đàn kinh tế tư nhân lần thứ II (tổ chức ngày 02/4/2023 tại Hà Nội), hiện cả nước có hơn 786 nghìn doanh nghiệp tư nhân, chiếm 98% trong tổng số hơn 800 nghìn doanh nghiệp

Trang 10

Doanh nghiệp tư nhân đã chiếm lĩnh trong hầu hết các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, như công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng, sản xuất và lắp ráp ô tô, vận tải, hàng không, tài chính - ngân hàng, bất động sản, công nghệ thông tin, nông nghiệp… Khu vực kinh tế tư nhân đã có những thương hiệu mạnh, những doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn cả về vốn và công nghệ cao, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như các tập đoàn Vingroup, Sun Group, Trường Hải Thaco, Hòa Phát, Masan, FPT, Vinamilk, BRG, T&T Group, Vietjet, TH… Trong đó, có những thương hiệu không những được ghi nhận ở thị trường trong nước mà ở cả thị trường khu vực và quốc tế

Doanh nghiệp tư nhân gần như phủ kín các lĩnh vực của nền kinh tế, từ quy mô lớn, đòi hỏi trình độ quản lý cao đến những doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, đáp ứng mọi nhu cầu của đời sống xã hội; từ lĩnh vực đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao đến sản xuất thủ công hay dịch vụ đơn giản nhất; từ dàn máy bay bay trên trời đến đàn bò sữa đủng đỉnh gặm cỏ trong cánh đồng tươi tốt; từ hạt lúa, củ khoai nuôi sống con người trong bữa

ăn hằng ngày

Trong bảng xếp hạng Top 500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam do Vietnam Report công bố tháng 3/2023 thì doanh nghiệp tư nhân chiếm đại đa số, tới 82,4% Điều đáng chú ý là trong 3 năm trở lại đây, tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân trong nhóm này khá ổn định (năm 2021: 82,8%, năm 2022: 84%)

Trên thực tế, kinh tế tư nhân có nhiều đóng góp vào phát triển kinh tế:

Một là, giai đoạn 2010 - 2021, đóng góp của khu vực kinh tế ngoài nhà

nước (bao gồm kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể) luôn chiếm tỷ trọng trên 50% GDP cả nước (50,55% năm 2019; 50,56% năm 2020; 50,04% năm 2021, trong đó bao gồm cả khu vực kinh tế hợp tác), đến năm 2022 đóng góp của riêng kinh tế tư nhân đã đạt gần 45% và đây là khu vực có tỷ trọng cao nhất trong 3 khu vực (nhà nước, tư nhân và FDI)

Trang 11

Hai là, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (thuộc khu vực công, thương

nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh, không kể phần thuế thu nhập cá nhân) có

tỷ trọng đóng góp cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng trong giai đoạn

2010 - 2021, từ 11,7% năm 2011 lên 18,48% năm 2021, đến năm 2022, con

số này đạt gần 20% Đặc biệt, kể từ năm 2017 đến nay, tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước của khu vực kinh tế tư nhân đã vượt khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và khu vực DN FDI

Ba là, kinh tế tư nhân từng bước tham gia liên kết, mạng sản xuất, chuỗi

giá trị khu vực, toàn cầu thông qua liên kết dọc với khu vực FDI Đến năm

2022, kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng rất lớn trong sản xuất một số sản phẩm: chiếm 91,27% sản lượng muối biển; 88,45% sản lượng đường kính; 48,69% phân NPK; 44,64% xi-măng; 39,21% sắt, thép dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác; 49,91% thép cán hình

Bốn là, đầu tư của kinh tế tư nhân không ngừng tăng, tỷ trọng của kinh tế

tư nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội luôn vượt kinh tế nhà nước và kinh

tế FDI Trong giai đoạn 2010 - 2022, tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân đã tăng từ 44,6% năm 2010 lên mức 57,4% năm 2022 Nhờ đó, tuy đầu tư công được điều chỉnh giảm, nhưng tổng đầu tư kết cấu hạ tầng vẫn tăng Đặc biệt, trong giai đoạn 2010 - 2022, một loạt công trình hạ tầng lớn do khu vực kinh

tế tư nhân đảm nhận, đã được khởi công, hoàn thành và đưa vào vận hành

Năm là, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế nguồn

vốn đầu tư công trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư công được tiết giảm Trong giai đoạn 2010 - 2022, tỷ lệ đầu tư công trong tổng đầu tư năm cao nhất là 36,1% (năm 2012), năm thấp nhất là 24,1% (năm 2019) Tuy nhiên, sự tăng cao của đầu tư tư nhân và tăng cường đầu tư nước ngoài đã góp phần ổn định kinh tế

Sáu là, khu vực tư nhân góp phần rất quan trọng không chỉ về kinh tế, mà

cả về xã hội - đó là giải quyết lao động, việc làm Giai đoạn 2010 - 2021, tuy

tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên của khu vực tư nhân đã giảm dần từ 86,3%

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w