Ở mức độ khái át nhất, có thể hiểu án lệ là các bản án, quyết định của qu tòa án trước được tòa án sau sử dụng làm khuôn mẫu, chuẩn mực để giải quyết cho các vụ việc tương tự.. Như vậy,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NHÓM 8
Môn: Lí luận nhà nước và pháp luật
Đề tài: Bàn về Án lệ số 46/2021/AL về việc xác định tình tiết
định khung hình phạt “Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách
nhiệm giáo dục” trong tội “Dâm ô đối với trẻ em”
Lớp: LUCS1107(222)_02 – Lý luận nhà nước và pháp luật 2
Hà Nội, 2023
Trang 21
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Họ và tên sinh viên Mã sinh
viên
Nhiệm vụ
Đào Ngọc Phương
Thanh
11225762 Lên dàn ý; thuyết trình phần tình huống
vụ án tổng hợp nội dung của các thành ; viên thành bài luận chuẩn bị nội dung ; phần “I Lý thuyết chung về án lệ” và phần “2.1 Nội dung vụ án”
Cao Ngô Quỳnh Chi 11220944 Thuyết trình phần 3 “Quyết định Giám
đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao” và phần 5 Nhận xét và kết luận Chuẩn bị nội dung phần
“Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm”
Nguyễn Hà An 11220030 Thuyết trình phần “2.1 Quá trình xét xử
hình sự đối với Đinh Quang D”, chuẩn
bị nội dung Kháng nghị số 13/QĐ-VKSTC-V7 ngày 23/10/2019 Chu Khánh Linh 11223346 Chuẩn bị nội dung phần III Quyết định
Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; làm slide thuyết trình; thuyết trình phần đặt vấn
đề, giới thiệu về án lệ
Phạm Thị Ngọc Chiến 11221111 Thuyết trình phần “Nhận định của tòa
án”; tổng hợp nội dung của các thành viên thành bài luận; chuẩn bị nội dung phần “2.1 Nội dung vụ án” và “Quá trình xét xử” giai đoạn 02/10/2017-29/12/2017
Trần Minh Ngọc 11224773 Chuẩn bị nội dung phần “Kháng nghị
Quyết định giám đốc thẩm”; thuyết trình về quá trình xét xử Đinh Văn D; chuẩn bị slide thuyết trình
Nguyễn Thị Như Nguyệt 11224856 Thuyết trình phần “Vụ án tương đồng”;
Chuẩn b n i dung ph n quá trình xét x ị ộ ầ ử
và v ụ án tương đồng; Chu n b trò ẩ ị chơi
Trang 32
MỤC LỤC
I Lý thuyết chung về Án lệ 4
1.1 Khái niệm và cơ sở hình thành án lệ 4
1.2 Phân loại 4
1.3 Ưu điểm và vai trò của án lệ 5
1.4 Những bất cập trong việc áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay 5
II Án lệ 46/2021/AL về việc xác định tình tiết định khung hình phạt “Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” trong tội “Dâm ô đối với trẻ em” 6
2.1 Nội dung vụ án 6
2.2 Quá trình xét xử hình sự đối với Đinh Quang D 7
III Nhận định của tòa án 10
IV Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 11
V Nội dung án lệ 12
VI Vụ án tương đồng 12
VII Kết luận 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 43
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xã hội đang vận động phát triển không ngừng nghỉ, cùng với đó nảy sinh ra những mâu thuẫn phức tạp trong xã hội Vì vậy, nhu cầu pháp lý trong
xã hội ngày càng cao Tuy nhiên, trái ngược với nhu cầu ngày càng tăng ấy, thời gian xét xử hoàn thành một vụ án thường rất lâu, thậm chí lên đến vài năm Để góp phần giảm thiếu tình trạng này, Án lệ được công bố và áp dụng để rút ngắn thời gian xét xử các vụ án
Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em đã luôn là một chủ đề được giới truyền thông và cộng đồng quan tâm đến Do vậy, những vụ án xâm hại đến quyền trẻ em thường trở thành tâm điểm chú ý của toàn dư luận, xã hội Vậy nên, nhu cầu của xã hội là nâng cao các biện pháp bảo vệ quyền trẻ em, đồng thời, trừng phạt mạnh tay những người dám xâm phạm đến những quyền thiêng liêng ấy
Trang 54
NỘI DUNG
I Lý thuyết chung về Án lệ
1.1 Khái niệm và cơ sở hình thành án lệ
Như mọi khái niệm tồn tại trên xã hội, khái niệm án lệ cũng là một khái niệm có nhiều cách giải nghĩa
Ở mức độ khái át nhất, có thể hiểu án lệ là các bản án, quyết định của qu tòa án trước được tòa án sau sử dụng làm khuôn mẫu, chuẩn mực để giải quyết cho các vụ việc tương tự
Thuật ngữ án lệ trong tiếng Anh là “precedent” từ này dịch sang tiếng Việt
là “tiền lệ” có nghĩa là dựa theo cái trước để làm theo mà thành lệ Như vậy, án
lệ là một loại tiền lệ bởi án lệ là các giải pháp pháp lý trong bản án của tòa án trước tạo ra được tòa án sau áp dụng giải quyết trong các vụ việc tương tự Vì vậy, chính xác hơn thuật ngữ án lệ được diễn đạt bằng cụm từ “judicial precedent” – “tiền lệ tư pháp” Do các án lệ được hình thành bằng con đường tòa án do các thẩm phán tạo ra nên nó còn diễn đạt bằng cụm từ “judicial opinions” – “các quan điểm tư pháp”
Án lệ có thể được hiểu là mối quan hệ pháp lý giữa quá khứ (tòa án tạo ra
án lệ) và tương lại (tòa án áp dụng án lệ) Khi một tòa án sử dụng án lệ, tức sử dụng một quyết định của tòa án trước để giải quyết vụ việc tương tự là nhìn vào quá khứ Ngược lại, khi các tòa án trước đưa ra quyết định để giải quyết vụ việc
và quyết định này được tòa án sau đó công bố là án lệ để giải quyết các vụ án tương tự trong tương lai Vậy, khi công bố một án lệ, tòa án đã có sự nhìn nhận
kỹ lưỡng và lường trước được rằng những vụ việc tương tự có khả năng xảy ra trong tương lai
Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật Khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng
Pháp luật của mỗi quốc gia có các quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp lí để tạo ra n lệ Các bản án, quyết định được thừa nhận là n lệ sẽ á á được viện dẫn làm căn cứ pháp lí để giải quyết các vụ việc có tính chất tương tự
1.2 Phân loại
Trên thực tế, ở Việt Nam tồn tại hai loại án lệ,
Trang 65
Một là án lệ tạo ra quy phạm pháp luật, nguyên tắc pháp luật mới, đây là loại án lệ cơ bản, án lệ gắn với chức năng sáng tạo pháp luật của tòa án Theo đó, những bản án, quyết định giải quyết vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó
Hai là án lệ hính thành bởi các quá trình tòa án giải thích các quy định trong pháp luật thành văn Vì các nhà làm luật không thể dự liệu hết được mọi trường hợp có thể xảy ra theo thời gian, do đó, có nhiều quy định, luật lệ có tính chất chung chung, nhiều nghĩa Vậy nên, khi áp dụng những điều luật đó vào từng trường hợp cụ thể luôn tồn tại những khó khăn nhất định Khi đó, án lệ trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích pháp luật Loại án lệ này là sản phẩm của quá trình tòa án áp dụng và giải thích những quy định do cơ quan lập pháp ban hành Đó là sự giải thích những quy định mang tính nguyên tắc chung, quy định có tính nước đôi, hàm ý rộng, không rõ nghĩa, mập mờ hay có sự xung đột đối với quy định khác
Ngoài ra, án lệ Việt Nam và án lệ thuộc hệ thống pháp luật Common Law cũng có những sự khác biệt nhất định vầ nguồn, vai trò và tính bắt buộc, …
1.3. Ưu điểm và vai trò của án lệ
Trải qua một khoảng thời gian áp dụng án lệ trong thực tiễn, án lệ đã cho thấy những ưu điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, án lệ chứa đựng quy tắc pháp lý mới, giải pháp pháp lý mới, giải thích những điểm chưa rõ trong các quy phạm pháp luật giúp khắc phục những nhược điểm trong quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Thứ hai, vai trò của án lệ trong hoạt động phát triển pháp luật Án lệ là sản phẩm của hoạt động xét xử, do toà án tạo lập trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể, được Nhà nước thừa nhận như khuôn mẫu để giải quyết những vụ việc tương tự về sau Việc thừa nhận và áp dụng án lệ góp phần lấp “những lỗ hổng” của pháp luật và qua đó có sự phát triển của pháp luật
Thứ ba, án lệ góp phần bảo đảm thực hiện, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Qua hoạt động lấp “những lỗ hổng” của pháp luật, việc áp dụng án lệ trên thực tế góp phần bảo đảm thực hiện, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
1.4. Những bất cập trong ệc áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nayvi
Lợi ích mà án lệ đem lại cho nền pháp luật Việt Nam là vô cùng to lớn Song, việc đưa những án lệ đó vào trong việc áp dụng thực tiễn vẫn còn gặp khó khăn
Trang 7Discover more
Document continues below
Luật kinh tế
Đại học Kinh tế…
788 documents
Go to course
Trang 86
Thứ nhất, số lượng án lệ ở Việt Nam chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của xét xử Hiện nay, chúng ta chỉ có 63 án lệ đã được công bố Số lượng án lệ quá ít là một khó khăn lớn trong việc giải quyết các vụ án dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng Không những vậy, số lượng án lệ không được phân bổ đồng đều mà đa phần đều tập trung vào lĩnh vực luật dân sự và luật kinh doanh Cụ thể trong số 63 án lệ được công bố đã có hơn 30 án lệ thuộc lĩnh , vực dân sự, tức chiếm một nửa số án lệ được công bố Đó là vì tính phổ biến của các vụ việc dân sự trong thực tế Tuy nhiên, sự bất cân bằng trong phân bổ vẫn là quá lớn
Thứ hai, hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ HĐTP vẫn còn -chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc áp dụng Khoản 2 Điều 8 hướng dẫn: “Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau” Điều khoản này không có hướng dẫn cụ thể thuật ngữ “tình huống pháp lý tương tự” được hiểu ra sao? Vì chưa có sự hướng dẫn rõ ràng nên các thẩm phán còn lúng túng khi vận dụng Việc áp dụng “tình huống pháp lý tương tự” còn mang nhiều ý chí chủ quan của thẩm phán
Đây chính là những vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắng để có thể tìm
ra được phương án khắc phục Chỉ có như vậy, háp luật Việt Nam mới có thể tối p
ưu được lợi ích của án lệ
II Án lệ 46/2021/AL về việc xác định tình tiết định khung hình phạt “Đối với
trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” trong tội “Dâm ô đối
với trẻ em”
2.1. Nội dung vụ án
Đinh Quang D là giáo viên dạy môn địa lý của Trường trung học phổ thông
L Ngày 26/3/2017, D xuống khu học sinh dân tộc nội trú nhờ học sinh nam chặt chuối giúp ở phía sau khu tập thể của D, gặp T chơi ở phòng các học sinh nữ và biết T đang học lớp 10 Từ đó D và T thường hay nhắn tin cho nhau
Do quen biết nhau từ trước, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/4/2017, Nguyễn Thị T (sinh ngày 03/8/2001) là học sinh lớp 10, Trường trung học phổ thông L sử dụng điện thoại nhắn tin cho Đinh Quang D là giáo viên của trường
và hẹn xuống phòng của D chơi
Sau khi hẹn, T đi bộ đến phòng của D ở khu tập thể giáo viên, tại phòng ở của D, do ngại có người đi ngang qua nên D đóng cửa rồi cầm tay T xem chỉ tay Lúc này, D đưa tay khoác vai, ôm eo, thấy T không phản ứng nên D nảy sinh ý định muốn gần gũi với T để thoả mãn nhu cầu cá nhân D hôn T, kéo T nằm xuống giường và nằm lên giường cùng T rồi tiếp tục hôn, dùng tay sờ bụng, sờ ngực,
Cau Hoi Trac Nghiem Giai Phau Hoc 2016 … Luật kinh
239
Sự phát triển của bộ máy nhà nước tron… Luật kinh
8
CHƯƠNG I-LÝ LUẬN Chung VỀ ÁP DỤNG… Luật kinh
16
đáp án luật lao động trắc nhiệm
Luật kinh
34
Mô hình giám sát tài chính hiện hành của… Luật kinh
5
ÔN TẬP LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐ… Luật kinh
13
Trang 97
sau đó dùng tay mở khuy quần và kéo khoá quần T xuống D đưa tay trái của mình sờ vào bộ phận sinh dục của T T không đồng ý nên kéo tay D ra và kéo khoá quần lên D tiếp tục kéo khoá quần của T xuống và tụt phần phía trước quần
D đang mặc xuống để lộ một phần dương vật ra ngoài, chạm vào hông của T, T đẩy D ra thì quần của D tự bật lên, đẩy dương vật vào trong quần D tiếp tục ngồi lên đùi T, dùng hai tay xoa vào má T thì T đẩy D ra và đứng dậy sửa lại tóc, quần
áo đòi về D đi đến phía sau ôm T rồi mở cửa cho T về Sau đó, T kể lại cho gia đình biết chuyện bị D xâm hại tình dục Ngày 03/4/2017, bà Trần Thị H là mẹ của T đã tố cáo hành vi của Đinh Quang D
Dựa trên tóm tắt nội dung vụ án, nhóm có những phân tích như sau: Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật ở đây là Đinh Quang D, sinh năm
1980, giới tính Nam Tại thời điểm xảy ra vụ án, D đang công tác tại vị trí giáo viên địa lý của trường trung học phổ thông L, nơi T học Tại thời điểm xảy ra vụ
án, Đinh Quang D đã 37 tuổi và có đủ năng lực hành vi dân sự, tức D có năng lực trách nhiệm pháp lý
Về phía khách thể, Nguyễn Thị T, là người dưới 16 tuổi tại thời điểm xảy
ra vụ án T có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được tôn trọng danh
dự, nhân phẩm và quyền được phát triển bình thường về tình dục
Về mặt khách quan, hành vi trái pháp luật mà D đã thực hiện là hành vi dâm ô với trẻ em dưới 16 tuổi Hậu quả mà hành vi này để lại chính là sự tổn hại
về mặt tinh thần và sự xâm phạm đến quyền vốn có của T
Theo nhóm nhận định, đây là lỗi cố ý trực tiếp Do D và T đã quen biết nhau từ trước và D cũng biết T là học sinh lớp 10 của trường trung học phổ thông
L Vậy nên, Đinh Quang D hoàn toàn nhận thức được tính chất nguy hiểm trong hành vi dâm ô của bản thân và thấy trước hậu quả của hành vi ấy đối với T nhưng vẫn cố tình thực hiện Dựa trên tính chất của vụ án, nhóm xác định mục đích vi phạm của D khi thực hiện hành vi dâm ô đối với là để thỏa mãn tình dục hoặc T khêu gợi nhu cầu tình dục của bản thân
2.2 Quá trình xét xử hình sự đối với Đinh Quang D
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2017/HSST ngày 02/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Chư Prông đã áp dụng khoản 1 Điều 116; điểm h, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Đinh Quang D 07 tháng tù
về tội “Dâm ô đối với trẻ em” Cụ thể các điều khoản được áp dụng được trích dẫn dưới đây:
Theo khoản 1 điều 116 bộ luật hình sự 1999,
Điều 116 Tội dâm ô đối với trẻ em
Trang 108
1 Người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
Theo điểm h,p,s khoản 1, khoản 2 Điều 46 bộ luật hình sự 1999 ,
Điều 46 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1 Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác
2 Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày 29/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Quang D; sửa bản
án hình sự sơ thẩm, xử phạt Đinh Quang D 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo Ngày 06/4/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 48/QĐ VC2 đề nghị hủy bản án hình
-sự sơ thẩm và bản án hình -sự phúc thẩm vì cho rằng hành vi phạm tội của Đinh Quang D phải được xét xử với tình tiết định khung tăng nặng “Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 116
Bộ luật Hình sự năm 1999
Điều 116 Tội dâm ô đối với trẻ em
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Đối với nhiều trẻ em;
c) Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã giữ nguyên bản án hình
sự phúc thẩm