Những thành tựu đó có được đều bắt nguồn từ việc Đảng đã nắm vững và tận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tham khảo kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, quan trọng h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
Đề bài: Từ nội dung thuyết trình của nhóm, lựa chọn một nội dung rút
ra bài học kinh nghiệm và liên hệ thực tiễn hiện nay
Giảng viên: Nguyễn Thị Thắm
Họ và tên: Nguyễn Thế Phong
Mã sinh viên: 11214669
Lớp: Quản trị Kinh doanh Quốc tế TT 63B
Trang 2Ụ Ụ
I MỞ ĐẦU 3
II NỘI DUNG 3
1 Các kỳ đại hội: 3
a Đại hội VI 3
b Đại hội VII: 5
2 So sánh nội dung các kỳ đại hội 8
III BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN 9
1 Kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt 9
2 Xây dựng Đảng về chính trị có tầm quan trọng đặc biệt 10
3 Coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận trong quá trình đổi mới 11
IV KẾT LUẬN 11
Trang 3I MỞ ĐẦU
Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trải qua 12 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, mỗi kỳ đại hội là một mốc son ghi dấu sự trưởng thành và phát triển của Đảng và cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Những thành tựu đó có được đều bắt nguồn từ việc Đảng đã nắm vững và tận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tham khảo kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, quan trọng hơn là xuất phát từ thực tiễn đất nước, có được nhiều tìm tòi, sáng tạo trong nhận thức lý luận, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, kịp thời vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa đất nước ra khỏi khó khăn của thời đại
Đã hơn 30 năm kể từ Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng, công cuộc xây dựng đất nước đã có chuyển biến rõ rệt, vượt qua tình trạng khó khăn, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thế và lực của đất nước được tăng cường, vị thế trên trường quốc tế được nâng cao, từng bước tiếng lên xã hội chủ nghĩa
Chính vì vậy, hãy cùng nhìn lại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và VII, 2 kỳ đại hội mang tính bước ngoặt cho sự phát triển bền vững của nước ta, qua đó thấy được quá trình trưởng thành của Đảng to trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội cũng như những khó khăn của thời thế, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào thực tiễn hiện nay
II.NỘI DUNG
1 Các kỳ đại hội:
a Đại hội VI
Trước hết về mặt khó khăn Đại hội nhận định: “Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp.” Tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: Sản xuất tăng chậm,
hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp, phân phối lưu thông có nhiều rối ren, những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố, đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn…
Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V
đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Nguyên nhân Đại hội nhấn mạnh trong những năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót Do vậy
Trang 4đã dẫn đến nhiều sai lầm “trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế”
Đại hội thẳng thắn cho rằng: “Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận.
Mục tiêu – Động lực của nước ta bao gồm xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản
lý đã được Đại hội lần thứ VI xác định là “cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội” Phương thức vận động quần chúng phải được đổi mới theo khẩu hiệu: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế
độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình
Đường lối đổi mới Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công – nông nghiệp;
cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện) Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa,
sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế Quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa, Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp, Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên
cả 3 mặt: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa
Sáu phương hướng phát triển bao gồm nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát: Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng ba chương trình kinh tế lớn là lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu, coi đó là sự cụ thể hóa nội dung công nghiệp hoá trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ Kế hoạch hóa dân số, giải quyết việc làm cho người lao động Thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực xã hội Chăm lo đáp ứng các nhu cầu xã hội, văn hóa, bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội Đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc, kiên quyết đánh thắng chiến tranh
Trang 5Về mặt đối ngoại ta đã góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ gìn hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới Tăng cường quan hệ đặc biệt với ba nước Đông Dương
Sáu nhiệm vụ chủ yếu của bộ máy Nhà nước và nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể Xây dựng chiến lược kinh tế- xã hội và cụ thể hoá chiến lược đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Quản lý hành chính – xã hội và hành chính kinh tế, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn xã hội theo kế hoạch, giữ vững pháp luật, kỷ cương nhà nước và trật tự xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của Nhà nước, phát hiện những mất cân đối và đề ra những biện pháp để khắc phục Thực hiện quy chế làm việc khoa học có hiệu suất cao Xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao, với đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, có năng lực quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Bài học mà ta đã rút ra Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa
b Đại hội VII:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô
Hà Nội từ ngày 24-27/6/1991 Thông qua Đại hội, Đảng ta đã đạt được một số thành tựu bước đầu như ổn định được tình hình chính trị của đất nước, nền kinh tế có những bước phát triển đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của
3 chương trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, huy động được nguồn lưc sản xuất của xã hội, tốc độ lạm phát được kiềm chế, đời sống của một bộ phận được cải thiện, nền dân chủ của nhân dân ngày càng được phát huy, quốc phóng được giữ vững,
an ninh quốc gia được bảo đảm Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đại hội VII đề ra Kế hoạch 5
Trang 6năm 1991-1995 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của
Kế hoạch là: Đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, Ổn định phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội, Bước đầu ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động, Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Báo cáo đã xác
định nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm 1991 – 1995: “Mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là vượt khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay”.
So với các kỳ Đại hội trước đó thì Đại hội VII đã lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh xác định quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc cần nắm vững 7 phương hướng cơ bản sau:
Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đủ quyền dân chủ của nhân dân
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại
gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cait thiện đời sống nhân dân
Ba là, phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước
Bốn là, trong lĩnh vực tư tưởng và văn hoá lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh là nền tảng trong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại
Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận
dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước
Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược
của cách mạng Việt Nam
Trang 7Discover more
from:
lsđ01
Document continues below
Lịch sử Đảng
CSVN
Đại học Kinh tế…
999+ documents
Go to course
Trắc nghiệm lịch sử Đảng chương 1 phầ… Lịch sử
Đảng… 100% (39)
15
Trắc nghiệm lịch sử Đảng chương 1 phầ… Lịch sử
Đảng… 100% (16)
20
Bài tập lớn LS Đảng -vai trò lãnh đạo của… Lịch sử
Đảng… 100% (14)
12
Đại hội VI,đại hội VII -Đại hội VI và -Đại hội… Lịch sử
Đảng… 100% (14)
14
Trang 8Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức
ngang tầm nhiệm vụ Cương lĩnh xác định: quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường
Bên cạnh đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghãi xã hội đã tổng kết cách mạng Việt Nam từ năm 1930-1991 và nêu lên những bài học kinh nghiệm về đổi mới đất nước:
Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đó là bài học xuyên
suốt quá trình cách mạng nước ta
Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chính
nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân
Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết
toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế
Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với
sức mạnh quốc tế
Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm sự thắng lợi
của cách mạng Việt Nam
Thành công của Đại hội đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng, cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt nam Các thành tựu của đại hội VII có thể kể đến như nền kinh tế phát triển ở nhịp độ cao, những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch hoàn thành vượt mức (tổng sản phẩm quốc nội tăng 8,2%/năm, công nghiệp tăng 13,3%/năm, sản lượng lương thực tăng 26%, dịch vụ tăng 80%, vận tải tăng 62%, lạm phát giảm mạnh
từ 67,1% năm 1991 xuống còn 12,7% vào năm 1995; kinh tế đối ngoại phát triển, xuất khẩu đạt 17 tỉ USD, nhập khẩu đạt 21 tỉ USD; thiết lập quan hệ buôn bán với hơn 100 nước, mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài đạt trên 19 tỉ USD Bên cạnh đó, khoa học công nghệ, văn hóa xã hội được phát triển, thu nhập quốc dân tăng, giải quyết triệt để nạn đói Chính trị xã hội, an ninh quốc phóng được củng
cố Nước ta cũng mở rộng quan hệ đối ngoại, bình thường hóa quan hệ với mỹ và gia nhập ASEAN năm 1995
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm hạn chế cần khắc phục Việt Nam vẫn là nước nghèo Kinh tế Việt Nam còn mất cân đối, lạc hậu, trình độ kém, thu nhập quốc dân, năng suất còn thấp, đời sống nhân dân khó khăn Xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực tham nhũng, lãng phí, buôn lậu và nhiều tiêu cực còn tồn tại trong Nhà nước Giữa các vùng và các tầng lớp dân cứ bắt đầu phân hóa giàu nghèo rõ rệt
[123doc] - bai-thu-hoach-lop-cam-… Lịch sử
Đảng… 100% (12)
27
Lịch sử Đảng - Tại sao nói, sau cách… Lịch sử
Đảng… 100% (12)
16
Trang 92 So sánh nội dung các kỳ đại hội
So với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đại hội lần thứ VII đã rút ra năm bài học kinh nghiệm bước đầu về Đổi mới:
Một là, Phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới, kết
hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt trong sách lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới Phải giữ vững tư duy độc lập và sáng tạo trong việc
đề ra đường lối đổi mới phù hợp với đặc điểm tình hình của nước ta, đáp ứng đúng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình
Hai là, Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức
và cách làm phù hợp Đổi mới là một cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời trong mỗi bước đi lại phải xác định đúng khâu then chốt
để tập trung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới các khâu khác và lĩnh vực khác Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị Chính trị đụng chạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội, nên việc đổi mới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới hệ thống chính trị, nhất là
về tổ chức bộ máy và cán bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện dân chủ
Ba là, Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đôi với tăng cường vai trò
quản lý của Nhà nước về kinh tế, xã hội
Bốn là, Tiếp tục phát huy ngày càng sâu rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhưng
để phát huy dân chủ đúng hướng và đạt kết quả thì quá trình đó phải được lãnh đạo tốt,
có bước đi vững chắc phù hợp với tình hình chính trị, xã hội nói chung Có như vậy mới thực sự bảo đảm được quyền làm chủ của nhân dân, động viên toàn dân hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội
Năm là, Trong quá trình đổi mới phải quan tâm dự báo tình hình, kết hợp phát
hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh trên tinh thần kiên định thực hiện đường lối đổi mới, tăng cường tổng kết thực tiễn và không ngừng hoàn chỉnh lý
Trang 10luận về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì càng xuất hiện nhiều vấn đề mới liên quan đến nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động
và sáng tạo, bớt được sai lầm và bước đi quanh co, phức tạp
1 Kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) quyết định đường lối đổi mới toàn diện đất nước cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại Năm 1986, đất nước khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lạm phát 774,7%, tổng thu nhập quốc dân khoảng 14 tỷ USD với hơn 50 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người khoảng 280 USD Trong hoàn cảnh đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, với trách nhiệm của Đảng cầm quyền, Đảng nhận thức rõ đổi mới là mệnh lệnh của cuộc sống, là trách nhiệm của Đảng đối với đất nước và nhân dân Làm sao đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân? Ngay từ đầu, Đảng chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phải tập trung phát triển kinh tế và từ thành tựu kinh tế
mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách làm việc, phương thức lãnh đạo của Đảng
Nhìn lại tiến trình 35 năm đổi mới và nhiệm kỳ vừa qua, Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn; trong đó, bài học hàng đầu là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và
hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu
đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên
Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”