Đồng tiền thời nhà Đinh Thái Bình Hưng Bảo là một loại tiền được cho đúc vàlưu hành xuyên suốt dưới triều đại nhà Đinh từ đời vuaĐinh Tiên Hoàng cho đến hết đời vua Đinh Phế ĐếĐinhToàn..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP NHÓM
Lý thuyết tài chính tiền tệ
ĐỀ BÀI: Lịch sử hình thành đồng tiền Việt Nam
HÀ NỘI – 2022
Nguyễn Văn Hoàng Phú : 11216899
Lớp học phần : Lý thuyết tài chính tiền tệ 08
Trang 3Tiền là gì?
Theo kinh tế học thì Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán,
là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của mộtquốc gia hay nền kinh tế Theo định nghĩa này tiền tệ còn có thể gọi là tiền lưu thông Dựatheo nghiên cứu về lịch sử và bản chất tiền tệ của K.Marx, Triết học Marx-Lenin địnhnghĩa: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật nganggiá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiểnquan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa" Theo các nhà kinh tế hiện đại: "Tiền đượcđịnh nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá,dịch vụ hoặc trong việc trả nợ"
Sở dĩ có sự khác biệt trong cách định nghĩa về tiền tệ là bởi vì những nhà kinh tế họctrước K.Marx giải thích tiền tệ dựa vào hình thái phát triển cao nhất của giá trị hàng hoá
và cho rằng tiền tệ là sản phẩm của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá;trong khi K.Marx nghiên cứu tiền tệ từ lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hànghoá, từ sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hoá để tìm ra nguồn gốc và bản chất củatiền tệ
Phần I: Tiền các triều đại phong kiến ở Việt Nam (970-1945)
1 Đồng tiền thời nhà Đinh
Thái Bình Hưng Bảo là một loại tiền được cho đúc vàlưu hành xuyên suốt dưới triều đại nhà Đinh từ đời vuaĐinh Tiên Hoàng cho đến hết đời vua Đinh Phế Đế(ĐinhToàn) Đây là đồng tiền riêng đầu tiên của nước ta, đánhdấu nền độc lập sau hàng ngàn năm Bắc Thuộc Tiềnđồng Thái Bình Hưng Bảo-太平興寶 được đúc dưới thờiĐinh có dạng hình tròn lỗ vuông thể hiện quan niệm
“trời tròn đất vuông” của con người khi xưa Có hai loại tiền “Thái Bình hưng bảo”:
- “Thái Bình hưng bảo” lưng trơn, chữ “Thái Bình hưng bảo” đọc chéo, thư pháp giữa haithể chữ “Khải” và “Lệ”
- “Thái Bình hưng bảo” mặt lưng có chữ “Đinh” Có 4 loại chữ “Đinh” khác nhau về vị trícũng như tự dạng
Điểm xuất phát của lịch sử tiền tệ Việt Nam được bắt đầu với sự xuất hiện của đồngtiền Thái Bình Hưng Bảo do vua Đinh Tiên Hoàng (968-979) cho đúc và lưu hành, đánhdấu sự lên ngôi trị vì của một nhà nước, quốc gia độc lập, tự chủ Có thể xem đây là mốcson của việc hình thành lịch sử văn hóa tiền tệ Việt Nam vì đó là những đồng tiền dochính nhà nước phong kiến Việt Nam đúc và lưu hành
Xét về tổng quan đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo Tiền được đúc bằng đồng,chữ nghĩatrên đồng tiền tuy không được sắc sảo,uyển chuyển,nhiều khi thô cứng và có phần khôngcân đối nhưng lại mang một nét rắn rỏi,mạnh mẽ ẩn chứa niềm vui sướng khôn tả của conngười khi đất nước được hoàn toàn thống nhất,độc lập,người dân được cầm đồng tiền đầu
Trang 4tiên của đất nước Thư pháp trên đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo vô cùng đa dạng vàphong phú,có thể phân ra hàng chục tự dạng khác nhau của cùng một loại tiền Đồng tiềnđược đúc chưa quy chuẩn vì nhiều đồng có độ dày mỏng,chữ nghĩa khi cân đối khi lệchlạc khác nhau Biên viền của đồng tiền không được tròn,nông sâu không đồng nhất Điều
đó đã cho ta hiểu khi đó đất nước vừa được thông nhất sau thời kỳ loạn lạc,hơn nữa ngườiViệt chưa có kinh nghiệm đúc tiền trước bao giờ vì Thái Bình Hưng Bảo là loại tiền đầutiên nên trình độ chưa còn thấp
2 Đồng tiền triều đại nhà Tiền Lê
Tiền cổ Thiên Phúc Trấn Bảo là loại tiền được chođúc và lưu hành dưới đời vua Lê Đại Hành triều đạinhà Tiền Lê Đây được coi là loại tiền thứ hai củangười Việt sau loại tiền Thái Bình Hưng Bảo do nhàĐinh cho đúc trước đó
Sơ lược về vua Lê Đại Hành.Vua Lê Đại Hành cótên húy là Lê Hoàn (941 – 18 tháng 4 năm 1005) là vịHoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê nước Đại Cồ Việt, trị vìnước Đại Cồ Việt trong 24 năm.Khi lên ngôi vua,Lê Đại Hành đã sử dụng ba niên hiệukhác nhau trong suốt thời gian trị vì của mình đó là: Thiên Phúc (天福 980 – 988), HưngThống (興統 989 – 993), Ứng Thiên (應天 994 – 1005).Trong thời gian sử dụng niên hiệuThiên Phúc nhà vua đã cho đúc tiền Thiên Phúc Trấn Bảo phát hiện được ngày nay Về cơbản, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo có nhiều đặc điểm giống tiền Thái Bình Hưng Bảo Tuyvậy, ta cũng thấy rằng Nhà Lê noi theo Nhà Ðinh, không theo quy tắc đúc tiền của TrungHoa để đúc tiền Thiên Phúc Viết quốc tính lên mặt sau đồng tiền để khẳng định chủquyền và phân biệt rõ ràng với tiền Trung Hoa vốn đã được dùng ở nước Việt từ trước Tiền Thiên Phúc Trấn Bảo được đúc bằng chất liệu đồng, tiền tuy chưa dày dặn nhưng
bố cục đồng tiền cân đối Biên của đồng tiền vừa vặn, không quá to không quá nhỏ.Nhưng viền lỗ vuông mặt trước của đồng tiền lại rất mảnh Chữ nghĩa trên tiền được viếtmềm mại,uyển chuyển Nhiều đồng được đúc với nét chữ nổi cao,hom tiền sâu rất sắcsảo.Tiền Thiên Phúc Trấn Bảo có rất nhiều dạng thư pháp khác nhau,theo thống kê cácmẫu khác nhau có thể lên đến hàng chục dạng với chữ to nhỏ,mảnh,dày phong phú.Nhữngđiều đó đã cho chúng ta thấy được đến thời Tiền Lê trình độ đúc tiền của con người đã đạttới mức cao.Kinh tế,văn hóa,xã hội đến việc giao thương buôn bán của thời kỳ này pháttriển rất mạnh mẽ,đời sống nhân dân được no đủ,sung túc,đất nước giàu có,thịnh vượng
3 Các đồng tiền thời nhà Lý
Thuận Thiên Đại Bảo (1010 – 1028)
Trang 5Đây là tiền kim loại được giới nghiên cứu tiền cổ ởViệt Nam cho là của Lý Thái Tổ vì ông vua này cómột niên hiệu là Thuận Thiên Bên Trung Quốc
có Sử Tư Minh khi làm vua cũng có niênhiệu Thuận Thiên, nhưng ông này cho đúctiền Thuận Thiên nguyên bảo đương bách Saunày, Lê Thái Tổ cũng lấy niên hiệu Thuận Thiên,nhưng tiền đúc ra gọi là Thuận Thiên thông bảo hoặc Thuận Thiên nguyên bảo
Khi lên ngôi vua Lý Thái Tổ đã cho thực hiện một trong những chính sách về kinh tế
đó chính là đúc tiền phục vụ cho đời sống buôn bán,giao thương trong nước cũng như đểthể hiện sự tồn tại của vương triều cho ngàn đời hậu thế
Thuận Thiên đại bảo có đường kính từ 24 đến 25,5mm Trên lưng đồng tiền này có chữ
“Nguyệt” Bề mặt tiền có in 4 chữ Hán “Thuận Thiên đại bảo” in kiểu chữ chân đọc đối,nghiêng lệch Tiền có gờ viền và lỗ rộng Đây là loại tiền tương đối hiếm, do vậy, đượctrưng bày thường chỉ với 1 đồng duy nhất Tiền được đúc bằng đồng,dày dặn,những hiệnvật được phát lộ cho tới ngày nay đã cho chúng ta thấy mặc dù đã hơn cả nghìn năm tuổi
mà chất đồng vẫn còn tốt,không bị mục rữa nhiều nói lên trình độ tay nghề đúc đồng củacon người đã đạt đến mức cao Chữ nghĩa trên tiền cân đối,lối viết mạnh mẽ,rắn rỏi Chữtrên các đồng Thuận Thiên Đại Bảo không hoàn toàn giống nhau được phân ra nhiều dạngchữ to,nhỏ,dài ngắn khác nhau Qua đó ta thấy được tiền được đúc ra làm nhiều đợt vớinhiều khuôn mẫu khác nhau trong suốt thời gian vua Lý Thái Tổ ở ngôi Những đặc điểmtrên đồng tiền con nói cho ta biết thời kỳ này kinh tế - xã hội phát triển mạnh,đời sốngnhân dân đủ đầy,sung túc không có chiến tranh loạn lạc.Vì vậy đồng tiền mới được làmcẩn thận,thư pháp quy phạm,chất tiền tốt,dày dặn
Minh Đạo Nguyên Bảo (1042 – 1043)
Vua Lý Thái Tông trong thời gian trị vì đã lấy 6 niên
hiệu gồm: -Thiên Thành -Thông Thụy -Càn Phù Hữu Đạo
-Minh Đạo -Thiên Cảm Thánh Vũ -Sùng Hưng Đại Bảo
Trong đó trong thời gian sử dụng niên hiệu Minh Đạo ngài
đã cho đúc và lưu hành đồng tiền Minh Đạo Nguyên Bảo
để khẳng định vị thế của mình Đồng tiền Minh Đạo
Nguyên Bảo mặt trước có 4 chữ Hán đọc chéo,đồng tiền
được đúc với chất liệu vô cùng tốt,đồng tiền có chữ nghĩa
rất mực quy phạm,khỏe khoắn,ngay ngắn nằm bên các
cạnh của lỗ vuông ở mặt trước của đồng tiền Mặt sau của
tiền ngay ngắn,biên viền vuông vắn không hề bị lệch lạc
Đặc điểm của đồng tiền đã cho hậu thế thấy được đây là
một thời kỳ hưng thịnh của lịch sử,kinh tế,văn hóa,xã hội
phát triển mạnh mẽ Đồng tiền Minh Đạo Nguyên Bảo thời Lý Thái Tông trùng niên hiệuvới đồng tiền Minh Đạo Nguyên Bảo của Bắc n-Trung Hoa
Trang 6 Thiên Phù Nguyên Bảo (1120 – 1127)
Tiền có đường kính 2,4 cm, thư pháp chữchân, đọc tròn, chữ Thiên ở trên lỗ vuông,chữ thông ở dưới lỗ vuông, chữ Phù ở bên tráimặt tiền và chữ bảo ở bên phải mặt tiền Tiềnnày có đặc điểm giống các loại tiền triều Lý
và đầu triều Trần Đến nay, khảo cổ học mớichỉ phát hiện được đồng tiền "Thiên Phùnguyên bảo" được cho là của triều vua LýNhân Tông, nhưng vẫn còn nghi ngờ vì đặc điểm tiền này chưa gắn với các loại tiền triềuLý
4 Các đồng tiền thời nhà Trần
Trần Thái Tông (1226 - 1258) lên ngôi kế thừa di sản cuối mùa của vương triều Lý vớinền kinh tế suy đốn, kho tàng trống rỗng vì loạn lạc Để phục hưng kinh tế sau khi ổnđịnh xã hội, Trần Thái Tông cho điều chỉnh giá trị đồng tiền và đúc tiền lưu hành.Sử cũghi lại năm 1226: "Xuống chiếu cho dân gian dùng tiền "tỉnh bách" mỗi tiền là 69 đồng.Tiền nộp cho Nhà nước (tiền thượng cung) thì mỗi tiền là 70 đồng" (trích Đại Việt sử kýtoàn thư tập II, tr 9) Hơn 30 năm cầm quyền với 3 niên hiệu, Trần Thái Tông đã nhiều lầncho đúc tiền mang 3 niên hiệu của thời đại Hiện nay khảo cổ học còn tìm thấy 3 niên hiệutiền thời Trần Thái Tông
Niên hiệu Kiến Trung (1226 - 1232) đúc
tiền Kiến Trung thông bảo Tiền đúc hình tròn,
đường kính 2,1 - 2,14cm Vành biên hơi rộng,phẳng Giữa lỗ vuông có gờ nổi Mặt trước chữviết đối xứng qua tâm Cách đọc tròn theo chiềukim đồng hồ Mặt sau phẳng
Niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình
(1232 - 1251) đúc tiền Chính Bình thông bảo
Tiền đúc hình tròn Vành biên rộng phẳng,
giữa có lỗ vuông Mặt trước chữ viết đối xứng
qua tâm Cách đọc vòng tròn theo chiều kim
đồng hồ Mặt sau trơn phẳng
Niên hiệu Nguyên Phong (1251 - 1258) đúc tiền
Nguyên Phong thông bảo Tiền đúc hình tròn.
Vành biên rộng, giữa có lỗ vuông Mặt trước chữviết đối xứng qua tâm Chữ có hai loại chữ chân vàchữ thảo, điều này cho thấy đồng tiền này có hai
Trang 7Li thuyet
tai chinh… 100% (16)
85
B d thi ht mon Ly thuyt Tai chinh Ti
Trang 8lần đúc hoặc khi đúc sử dụng hai khuôn khác nhau Cách đọc vòng tròn theo chiều kimđồng hồ Mặt sau trơn phẳng.
Trần Thánh Tông (1258 - 1278) ở ngôi 20
năm có hai niên hiệu là Thiệu Long và Bảo Phù
Hiện nay mới tìm được tiền Thiệu Long thông bảo
Tiền đúc hình tròn, vành biên rộng phẳng, giữa có
lỗ vuông Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm,
cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ Mặt
sau phẳng nhẵn Đây là đồng tiền duy nhất được
đúc dưới thời Trần Thánh Tông
Đến thời vua Trần Minh Tông, nhà Trần lại tiến hành đúc tiền cho lưu thông ngoài
xã hội
Trong những niên hiệu được sử dụng, niênhiệu Khai Thái (1324 - 1329) nhà Trần cho đúctiền Khai Thái nguyên bảo Tiền đúc hình tròn,đường kính 2,37cm, vành biên rộng phẳng,giữa có hình vuông có gờ, lỗ hơi tròn Mặttrước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trêntrước, dưới sau và phải trước, trái sau.Mặt sautiền Khai Thái nguyên bảo có hai loại, một loạimặt sau trơn phẳng và một loại mặt sau trơnnhưng có chữ Trần
Trần Dụ Tông là đời vua Trần đúc nhiều tiền nhất, nhiều lần đúc với số lượng lớn Niên
hiệu Thiệu Phong (1341 - 1357) có hai lần đúc tiền: Thiệu Phong nguyên bảo và Thiệu Phong thông bảo
Tiền Thiệu Phong nguyên bảo có đến 4 loại khác nhau Điều này cho thấy có khảnăng Nhà nước có 4 xưởng đúc tiền khác nhau, hoặc 4 lần đúc loại tiền này với thời giankhác nhau
Tiền Thiệu Phong thông bảo có đến 20 loại khác nhau đã cho thấy nhu cầu sử dụngtiền và đúc tiền rất rầm rộ, trước nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế
Li thuyettai chinh… 100% (13)
Ly thuyet tai chinh tien te P1
Li thuyet
139
Trang 9 Niên hiệu Đại Trị (1358 - 1369) Trần Dụ
Tông lại cho đúc liên tiếp các đồng tiền Đại
Trị nguyên bảo; Đại Trị thông bảo Tiền Đại trị
nguyên bảo có đến 5 loại tiền với các lối
chữ viết khác nhau
Tiền Đại Trị thông bảo còn phong phúhơn với nhiều loại Những đồng tiền này cơbản có kích thước giống nhau, đường kính2,35 - 2,38cm Mặt trước viết chữ, cách đọctrên dưới, phải trái
Sau Trần Dụ Tông, Dương Nhật Lễ lên
ngôi lấy niên hiệu Đại Định (1369 - 1370),
ông đã cho đúc tiền Đại Định thông bảo Tiền
Đại Định thông bảo được đúc hình dáng và
kích thước như các đồng tiền thời Trần khác
Tiền hình tròn, giữa có lỗ vuông Mặt trước
chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trên trước
dưới sau, phải trước trái sau, nét chữ sắc sảo
Mặt sau để trơn nhẵn
Trần Nghệ Tông lên ngôi (1370 - 1372),niên hiệu Thiệu Khánh ông cho đúc tiền ThiệuKhánh thông bảo Đồng tiền này được sử liệughi chép, nhưng cho đến nay còn lại rất hiếmhoi
Trang 105 Các đồng tiền thời nhà Hồ
Thông Bảo Hội Sao là loại tiền giấy đầu tiên do
nhà Hồ phát hành vào năm 1396 Đó là một thời điểm
rất sớm so với lịch sử tiền giấy nhưng lúc đó, chính
sách ban hành tiền giấy không hề được đánh giá là tiến
bộ Hình thức của tờ tiền mới được quy định: tờ 10
đồng vẽ hình rồng, 30 đồng vẽ sóng, 1 tiền vẽ mây, 2
tiền vẽ rùa, 3 tiền vẽ lân, 5 tiền vẽ phượng, và tờ 1
quan vẽ rồng Khi in xong, nhà Hồ hạ lệnh cho người
đem tiền đến đổi, cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy 1quan 2 tiền Cấm hẳn tiền đồng không được chứa và
tiêu riêng Ai làm giả phải tội chết, tịch thu điền sản
vào nhà nước
Thánh Nguyên Thông Bảo là tiền
kim loại có hình tròn, lỗ vuông, kích thướcnhỏ (đường kính từ 19 đến 20 mm), mỏng.Mặt trước có bốn chữ Thánh Nguyên thôngbảo đọc chéo từ trên xuống và từ phải quatrái, gờ viền mép và lỗ rõ ràng Nhưng mặtsau lại để trơn và không có gờ và viền méphay lỗ Một trong các mục đích phát hànhtiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo là đểquảng bá niên hiệu Thánh Nguyên của vua mới
6 Các đồng tiền triều Lê sơ – Hậu Lê
Thuận Thiên Nguyên Bảo
Năm 1418, Lê Lợi chiêu tập nghĩa
quân, khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi,
thống nhất bờ cõi vào năm 1428, định đô
ở Thăng Long, đặt quốc hiệu ” Đại Việt”
Niên hiệu: Thuận Thiên (1428- 1433)
Tiền Thuận Thiên nguyên bảo được đúc
nhiều lần với nhiều nét to nhỏ, gầy béo
khác nhau, trong đó chữ “Bảo” là có
nhiều điểm khác nhau nhất Mặt trước
đúc nổi bốn chữ Hán là Thuận Thiên nguyên bảo với nét viết chân phương Mặt saukhông có chữ hay hình gì, viền mép và gờ viền lỗ rõ ràng và đều đặn
Trang 11 Thiệu Bình Thông Bảo
Đây là tiền kim loại do Lê Thái Tông cho đúckhi lên ngôi năm 1434 và đặt niên hiệu làThiệu Bình (1434-1439) Về kiểu dáng, ThiệuBình thông bảo căn bản giống Thuận Thiênnguyên bảo Ban đầu, 1 tiền bằng 50 đồng nhưtheo quy định của đời vua trước, nhưng từ năm
1439 thì định lại 1 tiền bằng 60 đồng Đồngtiền này nặng 2,86 gram
Thái Hòa Thông Bảo
Đây là tiền kim loại do Lê Nhân Tông cho đúc
và đặt tên theo niên hiệu Thái Hòa (1443-1453)
của mình Kiểu dáng và kích thước tiền này
giống tiền của các vua Lê đời trước Tuy nhiên,
Lacroix đã công bố một mẫu tiền Thái Hòa thông
bảo có kích thước nhỏ và lưng tiền không có gờ
viền Ngoài ra, ông này còn công bố một mẫu
tiền ghi là Đại Hòa thông bảo Đỗ Văn Ninh cho rằng có thể viết là Đại song vẫn đọc làThái Đồng tiền này nặng 3,18 gram
Diên Ninh Thông Bảo
Tiền kim loại bằng đồng do Lê Nhân Tông chođúc khi đổi niên hiệu thành Diên Ninh Tiền nàyđược khảo cổ học phát hiện nhiều Kiểu dáng vàkích thước to đẹp giống như tiền của các đời vua
Lê trước Đồng tiền này nặng trung bình 2,96 gram
Thiên Hưng thông bảo
Vì Lê Nghi Dân lên vua bất chính nên sử
sách không xếp vào hàng vua nối ngôi, nếu
theo thứ tự là vị vua số 4 của triều Lê sơ.Tiền
kim loại do Lê Nghi Dân cho đúc và đặt tên
theo niên hiệu Thiên Hưng của mình Đồng
tiền này nặng 2,53 gram
Quang Thuận Thông Bảo
Trang 12Là tiền do Lê Thánh Tông cho đúc Di chỉ tiềnnày được phát hiện khá nhiều Quang Thuậnthông bảo được khen là đẹp vào loại nhấttrong các tiền kim loại Việt Nam Không rõtiền được bắt đầu phát hành từ năm nào, songniên hiệu Quang Thuận của Lê Thánh Tôngbắt đầu từ năm 1460, kết thúc vào năm 1469.Đồng tiền này nặng 3,57-3,84 gram.
Hồng Đức Thông BảoCũng là tiền do Lê Thánh Tông phát
hành từ năm 1470 đến năm 1497 theo niên
hiệu thứ hai của mình Đồng tiền này nặng
Đoan Khánh Thông Bảo
Đoan Khánh thông bảo là tiền kim loại
do Lê Uy Mục cho đúc Niên hiệu Đoan
Khánh của ông vua này kéo dài từ năm 1505
đến năm 1509 Đồng tiền này nặng 6,2 gram
Hồng Thuận Thông Bảo
Trang 13Đây là tiền kim loại do Lê Tương Dực (ở ngôi từ năm 1509 đến năm 1516 có một niên
hiệu duy nhất là Hồng Thuận) Kích thước
và kiểu dáng như các tiền trước đây của nhàLê
Quang Thiệu Thông Bảo
Đây là tiền do Lê Chiêu Tông cho đúc
Ông vua này chỉ có một niên hiệu là Quang
Thiệu từ năm 1516 đến năm 1522 Hình
thức cơ bản giống các tiền nhà Lê trước đó
nhưng xấu hơn, kích thước bé hơn, nhẹ hơn
Thống Nguyên Thông Bảo
Thống Nguyên thông bảo do Lê Cung Hoàng (lấy niên hiệu Thống Nguyên 1522 1527) phát hành Tiền này đẹp hơn Quang Thiệu thông bảo nhưng vẫn chưa bằng đượccác tiền nhà Lê trước đó
- Phật Pháp Tăng Bảo
Đây cũng là sự kiện hy hữu trong lịch sử tiền tệ màviệc phát hành tiền lại được làm dưới danh nghĩanhà Phật Đồng tiền này được cho là tiền do TrầnCảo phát hành và được dùng thông thường
7 Các đồng tiền thời nhà Mạc
Minh Đức Thông Bảo
Đây là các tiền kim loại do Mạc Thái Tổ phát hành Minh Đức Thông Bảo có hai loạt.Loạt thứ nhất bằng đồng được bắt đầu đúc từ năm 1529 Mặt trước có bốn chữ Minh ĐứcThông Bảo đúc nổi đọc chéo Mặt sau có hai chữ Vạn Tuệ đúc nổi Loạt này có kíchthước lớn, đường kính từ 23 đến 24,5 mm,
dày dặn Loạt thứ hai đúc bằng kẽm Kích
thước vẫn như loạt trước Mặt sau không còn
chữ vạn tuế mà thay vào đó là một vành
khuyết nổi ở bên phải và một chấm tròn ở bên
trái
Minh Đức Nguyên Bảo
Minh Đức Nguyên Bảo làm bằng sắt Đại Việt sử ký toàn thư cho biết Mạc Đăng Dung có cho pha kẽm vào
khi đúc tiền rồi sau lại cho đúc tiền bằng sắt Khảo cổ
Trang 14học Việt Nam không phát hiện ra di vật, song Lacroix
có công bố một mẫu vật tiền này, mặt trước có bốn chữMinh Đức nguyên bảo đọc vòng tròn, mặt sau không cóchữ hay hình gì
Đại Chính Thông Bảo
Các sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc Mạc Thái Tông phát hành tiền Tuynhiên khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền kim loại bằng đồng mang niên hiệu Đại Chínhcủa ông Mặt trước tiền nổi bốn chữ Đại Chính thông bảo đọc chéo Mặt sau để trơn,đường kính khoảng 22 mm
Quảng Hòa Thông Bảo
Mạc Hiến Tông làm vua từ năm 1541 đến
năm 1546 và chỉ có một niên hiệu là Quảng
Hòa Sử liệu không ghi vị vua nhà Mạc này
có cho đúc tiền hay không, song khảo cổ học
phát hiện ra di vật tiền Quảng Hòa thông bảo
Tiền này có hơn một loạt nhưng đều đúc bằng
đồng và bốn chữ Quảng Hòa thông bảo đọc chéo ở mặt trước, mặt sau để trơn Có loạt thì
các chữ này được viết chân phương Có loạtthì những chữ này lại được viết theo lối chữtriện
Vĩnh Định Thông BảoVĩnh Định là niên hiệu đầu tiên trong ba niệnhiệu của Mạc Tuyên Tông, bắt đầu từnăm 1547 Khảo cổ học đã tìm thấy tiền Vĩnh Định thông bảo đúc bằng đồng có đườngkính chừng 21,5 mm Mặt trước có bốn chữ Vĩnh Định thông bảo viết chéo Mặt sau đểtrơn, nhưng gờ mép và gờ lỗ có viền nổi Ngoài ra còn có tiền Vĩnh Định chí bảo có kiểudáng như Vĩnh Định thông bảo, khác ở chỗ chữ chí viết theo lối chữ thảo và mặt saukhông có viền gờ mép và lỗ
Càn Thống Nguyên Bảo
Đây là tiền kim loại do Mạc Kính Cung phát hành Mạc Kính Cung tuy làm vua nhưngđóng ở vùng miền núi Đông Bắc Khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền này
An Pháp Nguyên Bảo
Trang 15An Pháp nguyên bảo là tiền kim loại kích thước nhỏ mà khảo
cổ học tìm thấy nhiều trong hố khai quật di
chỉ gốm Hợp Lễ (Hải Dương) Lê Quý
Đôn qua Phủ biên tạp lục cho biết đây là
tiền do nhà Mạc phát hành, nhưng không
nói cụ thể bởi vị vua nào của nhà Mạc Tiền
An pháp nguyên bảo được thuyền chở vào
lưu hành vào tới tận Thuận Hóa
8 Đồng tiền nhà Lê trung hưng
Nguyên Hòa Thông Bảo
Đây là tiền bằng đồng mang niên hiệu Nguyên Hòa (1533-1548) của Lê Trang Tông, vị
vua đầu tiên của thời Lê trung hưng Tiền này cókích thước nhỏ, được đúc cẩn thận Mặt trước cóchữ Nguyên Hòa thông bảo đọc chéo Mặt sau
có viền gờ mép và lỗ, song không có chữ hayhình gì Nguyên Hòa thông bảo có nhiều loại,trong đó có loại chỉ có hai chữ Nguyên Hòa viếttheo lối chữ triện và có loại thì lại có ba chữNguyên Hòa và bảo viết theo lối chữ triện
Vĩnh Thọ Thông Bảo
Vĩnh Thọ là niên hiệu của Lê Thần Tông
Tiền Vĩnh Thọ thông bảo đúc bằng đồng,
Chính Hòa Thông Bảo