1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) bài tập nhóm lý thuyết tài chính tiền tệ đề bài lịch sử hình thành đồng tiền việt nam

31 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Hình Thành Đồng Tiền Việt Nam
Tác giả Trần Thị Ngọc Anh, Ngô Ngọc Ánh, Bùi Mai Chi, Bùi Thị Thanh Huệ, Nguyễn Ánh Ngọc, Nguyễn Văn Hoàng Phú, Nguyễn Thu Uyên
Người hướng dẫn Dương Thúy Hà
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 15,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng tiền thời nhà Đinh Thái Bình Hưng Bảo là một loại tiền được cho đúc vàlưu hành xuyên suốt dưới triều đại nhà Đinh từ đời vuaĐinh Tiên Hoàng cho đến hết đời vua Đinh Phế ĐếĐinhToàn..

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -BÀI TẬP NHÓM

Lý thuyết tài chính tiền tệ

ĐỀ BÀI: Lịch sử hình thành đồng tiền Việt Nam

HÀ NỘI – 2022

Nguyễn Văn Hoàng Phú : 11216899

Lớp học phần : Lý thuyết tài chính tiền tệ 08

Trang 3

Tiền là gì?

Theo kinh tế học thì Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán,

là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của mộtquốc gia hay nền kinh tế Theo định nghĩa này tiền tệ còn có thể gọi là tiền lưu thông Dựatheo nghiên cứu về lịch sử và bản chất tiền tệ của K.Marx, Triết học Marx-Lenin địnhnghĩa: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật nganggiá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiểnquan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa" Theo các nhà kinh tế hiện đại: "Tiền đượcđịnh nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá,dịch vụ hoặc trong việc trả nợ"

Sở dĩ có sự khác biệt trong cách định nghĩa về tiền tệ là bởi vì những nhà kinh tế họctrước K.Marx giải thích tiền tệ dựa vào hình thái phát triển cao nhất của giá trị hàng hoá

và cho rằng tiền tệ là sản phẩm của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá;trong khi K.Marx nghiên cứu tiền tệ từ lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hànghoá, từ sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hoá để tìm ra nguồn gốc và bản chất củatiền tệ

Phần I: Tiền các triều đại phong kiến ở Việt Nam (970-1945)

1 Đồng tiền thời nhà Đinh

Thái Bình Hưng Bảo là một loại tiền được cho đúc vàlưu hành xuyên suốt dưới triều đại nhà Đinh từ đời vuaĐinh Tiên Hoàng cho đến hết đời vua Đinh Phế Đế(ĐinhToàn) Đây là đồng tiền riêng đầu tiên của nước ta, đánhdấu nền độc lập sau hàng ngàn năm Bắc Thuộc Tiềnđồng Thái Bình Hưng Bảo-太平興寶 được đúc dưới thờiĐinh có dạng hình tròn lỗ vuông thể hiện quan niệm

“trời tròn đất vuông” của con người khi xưa Có hai loại tiền “Thái Bình hưng bảo”:

- “Thái Bình hưng bảo” lưng trơn, chữ “Thái Bình hưng bảo” đọc chéo, thư pháp giữa haithể chữ “Khải” và “Lệ”

- “Thái Bình hưng bảo” mặt lưng có chữ “Đinh” Có 4 loại chữ “Đinh” khác nhau về vị trícũng như tự dạng

Điểm xuất phát của lịch sử tiền tệ Việt Nam được bắt đầu với sự xuất hiện của đồngtiền Thái Bình Hưng Bảo do vua Đinh Tiên Hoàng (968-979) cho đúc và lưu hành, đánhdấu sự lên ngôi trị vì của một nhà nước, quốc gia độc lập, tự chủ Có thể xem đây là mốcson của việc hình thành lịch sử văn hóa tiền tệ Việt Nam vì đó là những đồng tiền dochính nhà nước phong kiến Việt Nam đúc và lưu hành

Xét về tổng quan đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo Tiền được đúc bằng đồng,chữ nghĩatrên đồng tiền tuy không được sắc sảo,uyển chuyển,nhiều khi thô cứng và có phần khôngcân đối nhưng lại mang một nét rắn rỏi,mạnh mẽ ẩn chứa niềm vui sướng khôn tả của conngười khi đất nước được hoàn toàn thống nhất,độc lập,người dân được cầm đồng tiền đầu

Trang 4

tiên của đất nước Thư pháp trên đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo vô cùng đa dạng vàphong phú,có thể phân ra hàng chục tự dạng khác nhau của cùng một loại tiền Đồng tiềnđược đúc chưa quy chuẩn vì nhiều đồng có độ dày mỏng,chữ nghĩa khi cân đối khi lệchlạc khác nhau Biên viền của đồng tiền không được tròn,nông sâu không đồng nhất Điều

đó đã cho ta hiểu khi đó đất nước vừa được thông nhất sau thời kỳ loạn lạc,hơn nữa ngườiViệt chưa có kinh nghiệm đúc tiền trước bao giờ vì Thái Bình Hưng Bảo là loại tiền đầutiên nên trình độ chưa còn thấp

2 Đồng tiền triều đại nhà Tiền Lê

Tiền cổ Thiên Phúc Trấn Bảo là loại tiền được chođúc và lưu hành dưới đời vua Lê Đại Hành triều đạinhà Tiền Lê Đây được coi là loại tiền thứ hai củangười Việt sau loại tiền Thái Bình Hưng Bảo do nhàĐinh cho đúc trước đó

Sơ lược về vua Lê Đại Hành.Vua Lê Đại Hành cótên húy là Lê Hoàn (941 – 18 tháng 4 năm 1005) là vịHoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê nước Đại Cồ Việt, trị vìnước Đại Cồ Việt trong 24 năm.Khi lên ngôi vua,Lê Đại Hành đã sử dụng ba niên hiệukhác nhau trong suốt thời gian trị vì của mình đó là: Thiên Phúc (天福 980 – 988), HưngThống (興統 989 – 993), Ứng Thiên (應天 994 – 1005).Trong thời gian sử dụng niên hiệuThiên Phúc nhà vua đã cho đúc tiền Thiên Phúc Trấn Bảo phát hiện được ngày nay Về cơbản, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo có nhiều đặc điểm giống tiền Thái Bình Hưng Bảo Tuyvậy, ta cũng thấy rằng Nhà Lê noi theo Nhà Ðinh, không theo quy tắc đúc tiền của TrungHoa để đúc tiền Thiên Phúc Viết quốc tính lên mặt sau đồng tiền để khẳng định chủquyền và phân biệt rõ ràng với tiền Trung Hoa vốn đã được dùng ở nước Việt từ trước Tiền Thiên Phúc Trấn Bảo được đúc bằng chất liệu đồng, tiền tuy chưa dày dặn nhưng

bố cục đồng tiền cân đối Biên của đồng tiền vừa vặn, không quá to không quá nhỏ.Nhưng viền lỗ vuông mặt trước của đồng tiền lại rất mảnh Chữ nghĩa trên tiền được viếtmềm mại,uyển chuyển Nhiều đồng được đúc với nét chữ nổi cao,hom tiền sâu rất sắcsảo.Tiền Thiên Phúc Trấn Bảo có rất nhiều dạng thư pháp khác nhau,theo thống kê cácmẫu khác nhau có thể lên đến hàng chục dạng với chữ to nhỏ,mảnh,dày phong phú.Nhữngđiều đó đã cho chúng ta thấy được đến thời Tiền Lê trình độ đúc tiền của con người đã đạttới mức cao.Kinh tế,văn hóa,xã hội đến việc giao thương buôn bán của thời kỳ này pháttriển rất mạnh mẽ,đời sống nhân dân được no đủ,sung túc,đất nước giàu có,thịnh vượng

3 Các đồng tiền thời nhà Lý

 Thuận Thiên Đại Bảo (1010 – 1028)

Trang 5

Đây là tiền kim loại được giới nghiên cứu tiền cổ ởViệt Nam cho là của Lý Thái Tổ vì ông vua này cómột niên hiệu là Thuận Thiên Bên Trung Quốc

có Sử Tư Minh khi làm vua cũng có niênhiệu Thuận Thiên, nhưng ông này cho đúctiền Thuận Thiên nguyên bảo đương bách Saunày, Lê Thái Tổ cũng lấy niên hiệu Thuận Thiên,nhưng tiền đúc ra gọi là Thuận Thiên thông bảo hoặc Thuận Thiên nguyên bảo

Khi lên ngôi vua Lý Thái Tổ đã cho thực hiện một trong những chính sách về kinh tế

đó chính là đúc tiền phục vụ cho đời sống buôn bán,giao thương trong nước cũng như đểthể hiện sự tồn tại của vương triều cho ngàn đời hậu thế

Thuận Thiên đại bảo có đường kính từ 24 đến 25,5mm Trên lưng đồng tiền này có chữ

“Nguyệt” Bề mặt tiền có in 4 chữ Hán “Thuận Thiên đại bảo” in kiểu chữ chân đọc đối,nghiêng lệch Tiền có gờ viền và lỗ rộng Đây là loại tiền tương đối hiếm, do vậy, đượctrưng bày thường chỉ với 1 đồng duy nhất Tiền được đúc bằng đồng,dày dặn,những hiệnvật được phát lộ cho tới ngày nay đã cho chúng ta thấy mặc dù đã hơn cả nghìn năm tuổi

mà chất đồng vẫn còn tốt,không bị mục rữa nhiều nói lên trình độ tay nghề đúc đồng củacon người đã đạt đến mức cao Chữ nghĩa trên tiền cân đối,lối viết mạnh mẽ,rắn rỏi Chữtrên các đồng Thuận Thiên Đại Bảo không hoàn toàn giống nhau được phân ra nhiều dạngchữ to,nhỏ,dài ngắn khác nhau Qua đó ta thấy được tiền được đúc ra làm nhiều đợt vớinhiều khuôn mẫu khác nhau trong suốt thời gian vua Lý Thái Tổ ở ngôi Những đặc điểmtrên đồng tiền con nói cho ta biết thời kỳ này kinh tế - xã hội phát triển mạnh,đời sốngnhân dân đủ đầy,sung túc không có chiến tranh loạn lạc.Vì vậy đồng tiền mới được làmcẩn thận,thư pháp quy phạm,chất tiền tốt,dày dặn

 Minh Đạo Nguyên Bảo (1042 – 1043)

Vua Lý Thái Tông trong thời gian trị vì đã lấy 6 niên

hiệu gồm: -Thiên Thành -Thông Thụy -Càn Phù Hữu Đạo

-Minh Đạo -Thiên Cảm Thánh Vũ -Sùng Hưng Đại Bảo

Trong đó trong thời gian sử dụng niên hiệu Minh Đạo ngài

đã cho đúc và lưu hành đồng tiền Minh Đạo Nguyên Bảo

để khẳng định vị thế của mình Đồng tiền Minh Đạo

Nguyên Bảo mặt trước có 4 chữ Hán đọc chéo,đồng tiền

được đúc với chất liệu vô cùng tốt,đồng tiền có chữ nghĩa

rất mực quy phạm,khỏe khoắn,ngay ngắn nằm bên các

cạnh của lỗ vuông ở mặt trước của đồng tiền Mặt sau của

tiền ngay ngắn,biên viền vuông vắn không hề bị lệch lạc

Đặc điểm của đồng tiền đã cho hậu thế thấy được đây là

một thời kỳ hưng thịnh của lịch sử,kinh tế,văn hóa,xã hội

phát triển mạnh mẽ Đồng tiền Minh Đạo Nguyên Bảo thời Lý Thái Tông trùng niên hiệuvới đồng tiền Minh Đạo Nguyên Bảo của Bắc n-Trung Hoa

Trang 6

 Thiên Phù Nguyên Bảo (1120 – 1127)

Tiền có đường kính 2,4 cm, thư pháp chữchân, đọc tròn, chữ Thiên ở trên lỗ vuông,chữ thông ở dưới lỗ vuông, chữ Phù ở bên tráimặt tiền và chữ bảo ở bên phải mặt tiền Tiềnnày có đặc điểm giống các loại tiền triều Lý

và đầu triều Trần Đến nay, khảo cổ học mớichỉ phát hiện được đồng tiền "Thiên Phùnguyên bảo" được cho là của triều vua LýNhân Tông, nhưng vẫn còn nghi ngờ vì đặc điểm tiền này chưa gắn với các loại tiền triềuLý

4 Các đồng tiền thời nhà Trần

Trần Thái Tông (1226 - 1258) lên ngôi kế thừa di sản cuối mùa của vương triều Lý vớinền kinh tế suy đốn, kho tàng trống rỗng vì loạn lạc Để phục hưng kinh tế sau khi ổnđịnh xã hội, Trần Thái Tông cho điều chỉnh giá trị đồng tiền và đúc tiền lưu hành.Sử cũghi lại năm 1226: "Xuống chiếu cho dân gian dùng tiền "tỉnh bách" mỗi tiền là 69 đồng.Tiền nộp cho Nhà nước (tiền thượng cung) thì mỗi tiền là 70 đồng" (trích Đại Việt sử kýtoàn thư tập II, tr 9) Hơn 30 năm cầm quyền với 3 niên hiệu, Trần Thái Tông đã nhiều lầncho đúc tiền mang 3 niên hiệu của thời đại Hiện nay khảo cổ học còn tìm thấy 3 niên hiệutiền thời Trần Thái Tông

 Niên hiệu Kiến Trung (1226 - 1232) đúc

tiền Kiến Trung thông bảo Tiền đúc hình tròn,

đường kính 2,1 - 2,14cm Vành biên hơi rộng,phẳng Giữa lỗ vuông có gờ nổi Mặt trước chữviết đối xứng qua tâm Cách đọc tròn theo chiềukim đồng hồ Mặt sau phẳng

 Niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình

(1232 - 1251) đúc tiền Chính Bình thông bảo

Tiền đúc hình tròn Vành biên rộng phẳng,

giữa có lỗ vuông Mặt trước chữ viết đối xứng

qua tâm Cách đọc vòng tròn theo chiều kim

đồng hồ Mặt sau trơn phẳng

 Niên hiệu Nguyên Phong (1251 - 1258) đúc tiền

Nguyên Phong thông bảo Tiền đúc hình tròn.

Vành biên rộng, giữa có lỗ vuông Mặt trước chữviết đối xứng qua tâm Chữ có hai loại chữ chân vàchữ thảo, điều này cho thấy đồng tiền này có hai

Trang 7

Li thuyet

tai chinh… 100% (16)

85

B d thi ht mon Ly thuyt Tai chinh Ti

Trang 8

lần đúc hoặc khi đúc sử dụng hai khuôn khác nhau Cách đọc vòng tròn theo chiều kimđồng hồ Mặt sau trơn phẳng.

 Trần Thánh Tông (1258 - 1278) ở ngôi 20

năm có hai niên hiệu là Thiệu Long và Bảo Phù

Hiện nay mới tìm được tiền Thiệu Long thông bảo

Tiền đúc hình tròn, vành biên rộng phẳng, giữa có

lỗ vuông Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm,

cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ Mặt

sau phẳng nhẵn Đây là đồng tiền duy nhất được

đúc dưới thời Trần Thánh Tông

 Đến thời vua Trần Minh Tông, nhà Trần lại tiến hành đúc tiền cho lưu thông ngoài

xã hội

Trong những niên hiệu được sử dụng, niênhiệu Khai Thái (1324 - 1329) nhà Trần cho đúctiền Khai Thái nguyên bảo Tiền đúc hình tròn,đường kính 2,37cm, vành biên rộng phẳng,giữa có hình vuông có gờ, lỗ hơi tròn Mặttrước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trêntrước, dưới sau và phải trước, trái sau.Mặt sautiền Khai Thái nguyên bảo có hai loại, một loạimặt sau trơn phẳng và một loại mặt sau trơnnhưng có chữ Trần

Trần Dụ Tông là đời vua Trần đúc nhiều tiền nhất, nhiều lần đúc với số lượng lớn Niên

hiệu Thiệu Phong (1341 - 1357) có hai lần đúc tiền: Thiệu Phong nguyên bảo và Thiệu Phong thông bảo

 Tiền Thiệu Phong nguyên bảo có đến 4 loại khác nhau Điều này cho thấy có khảnăng Nhà nước có 4 xưởng đúc tiền khác nhau, hoặc 4 lần đúc loại tiền này với thời giankhác nhau

 Tiền Thiệu Phong thông bảo có đến 20 loại khác nhau đã cho thấy nhu cầu sử dụngtiền và đúc tiền rất rầm rộ, trước nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế

Li thuyettai chinh… 100% (13)

Ly thuyet tai chinh tien te P1

Li thuyet

139

Trang 9

 Niên hiệu Đại Trị (1358 - 1369) Trần Dụ

Tông lại cho đúc liên tiếp các đồng tiền Đại

Trị nguyên bảo; Đại Trị thông bảo Tiền Đại trị

nguyên bảo có đến 5 loại tiền với các lối

chữ viết khác nhau

 Tiền Đại Trị thông bảo còn phong phúhơn với nhiều loại Những đồng tiền này cơbản có kích thước giống nhau, đường kính2,35 - 2,38cm Mặt trước viết chữ, cách đọctrên dưới, phải trái

 Sau Trần Dụ Tông, Dương Nhật Lễ lên

ngôi lấy niên hiệu Đại Định (1369 - 1370),

ông đã cho đúc tiền Đại Định thông bảo Tiền

Đại Định thông bảo được đúc hình dáng và

kích thước như các đồng tiền thời Trần khác

Tiền hình tròn, giữa có lỗ vuông Mặt trước

chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trên trước

dưới sau, phải trước trái sau, nét chữ sắc sảo

Mặt sau để trơn nhẵn

 Trần Nghệ Tông lên ngôi (1370 - 1372),niên hiệu Thiệu Khánh ông cho đúc tiền ThiệuKhánh thông bảo Đồng tiền này được sử liệughi chép, nhưng cho đến nay còn lại rất hiếmhoi

Trang 10

5 Các đồng tiền thời nhà Hồ

Thông Bảo Hội Sao là loại tiền giấy đầu tiên do

nhà Hồ phát hành vào năm 1396 Đó là một thời điểm

rất sớm so với lịch sử tiền giấy nhưng lúc đó, chính

sách ban hành tiền giấy không hề được đánh giá là tiến

bộ Hình thức của tờ tiền mới được quy định: tờ 10

đồng vẽ hình rồng, 30 đồng vẽ sóng, 1 tiền vẽ mây, 2

tiền vẽ rùa, 3 tiền vẽ lân, 5 tiền vẽ phượng, và tờ 1

quan vẽ rồng Khi in xong, nhà Hồ hạ lệnh cho người

đem tiền đến đổi, cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy 1quan 2 tiền Cấm hẳn tiền đồng không được chứa và

tiêu riêng Ai làm giả phải tội chết, tịch thu điền sản

vào nhà nước

Thánh Nguyên Thông Bảo là tiền

kim loại có hình tròn, lỗ vuông, kích thướcnhỏ (đường kính từ 19 đến 20 mm), mỏng.Mặt trước có bốn chữ Thánh Nguyên thôngbảo đọc chéo từ trên xuống và từ phải quatrái, gờ viền mép và lỗ rõ ràng Nhưng mặtsau lại để trơn và không có gờ và viền méphay lỗ Một trong các mục đích phát hànhtiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo là đểquảng bá niên hiệu Thánh Nguyên của vua mới

6 Các đồng tiền triều Lê sơ – Hậu Lê

 Thuận Thiên Nguyên Bảo

Năm 1418, Lê Lợi chiêu tập nghĩa

quân, khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi,

thống nhất bờ cõi vào năm 1428, định đô

ở Thăng Long, đặt quốc hiệu ” Đại Việt”

Niên hiệu: Thuận Thiên (1428- 1433)

Tiền Thuận Thiên nguyên bảo được đúc

nhiều lần với nhiều nét to nhỏ, gầy béo

khác nhau, trong đó chữ “Bảo” là có

nhiều điểm khác nhau nhất Mặt trước

đúc nổi bốn chữ Hán là Thuận Thiên nguyên bảo với nét viết chân phương Mặt saukhông có chữ hay hình gì, viền mép và gờ viền lỗ rõ ràng và đều đặn

Trang 11

 Thiệu Bình Thông Bảo

Đây là tiền kim loại do Lê Thái Tông cho đúckhi lên ngôi năm 1434 và đặt niên hiệu làThiệu Bình (1434-1439) Về kiểu dáng, ThiệuBình thông bảo căn bản giống Thuận Thiênnguyên bảo Ban đầu, 1 tiền bằng 50 đồng nhưtheo quy định của đời vua trước, nhưng từ năm

1439 thì định lại 1 tiền bằng 60 đồng Đồngtiền này nặng 2,86 gram

 Thái Hòa Thông Bảo

Đây là tiền kim loại do Lê Nhân Tông cho đúc

và đặt tên theo niên hiệu Thái Hòa (1443-1453)

của mình Kiểu dáng và kích thước tiền này

giống tiền của các vua Lê đời trước Tuy nhiên,

Lacroix đã công bố một mẫu tiền Thái Hòa thông

bảo có kích thước nhỏ và lưng tiền không có gờ

viền Ngoài ra, ông này còn công bố một mẫu

tiền ghi là Đại Hòa thông bảo Đỗ Văn Ninh cho rằng có thể viết là Đại song vẫn đọc làThái Đồng tiền này nặng 3,18 gram

 Diên Ninh Thông Bảo

Tiền kim loại bằng đồng do Lê Nhân Tông chođúc khi đổi niên hiệu thành Diên Ninh Tiền nàyđược khảo cổ học phát hiện nhiều Kiểu dáng vàkích thước to đẹp giống như tiền của các đời vua

Lê trước Đồng tiền này nặng trung bình 2,96 gram

 Thiên Hưng thông bảo

Vì Lê Nghi Dân lên vua bất chính nên sử

sách không xếp vào hàng vua nối ngôi, nếu

theo thứ tự là vị vua số 4 của triều Lê sơ.Tiền

kim loại do Lê Nghi Dân cho đúc và đặt tên

theo niên hiệu Thiên Hưng của mình Đồng

tiền này nặng 2,53 gram

 Quang Thuận Thông Bảo

Trang 12

Là tiền do Lê Thánh Tông cho đúc Di chỉ tiềnnày được phát hiện khá nhiều Quang Thuậnthông bảo được khen là đẹp vào loại nhấttrong các tiền kim loại Việt Nam Không rõtiền được bắt đầu phát hành từ năm nào, songniên hiệu Quang Thuận của Lê Thánh Tôngbắt đầu từ năm 1460, kết thúc vào năm 1469.Đồng tiền này nặng 3,57-3,84 gram.

 Hồng Đức Thông BảoCũng là tiền do Lê Thánh Tông phát

hành từ năm 1470 đến năm 1497 theo niên

hiệu thứ hai của mình Đồng tiền này nặng

 Đoan Khánh Thông Bảo

Đoan Khánh thông bảo là tiền kim loại

do Lê Uy Mục cho đúc Niên hiệu Đoan

Khánh của ông vua này kéo dài từ năm 1505

đến năm 1509 Đồng tiền này nặng 6,2 gram

 Hồng Thuận Thông Bảo

Trang 13

Đây là tiền kim loại do Lê Tương Dực (ở ngôi từ năm 1509 đến năm 1516 có một niên

hiệu duy nhất là Hồng Thuận) Kích thước

và kiểu dáng như các tiền trước đây của nhàLê

 Quang Thiệu Thông Bảo

Đây là tiền do Lê Chiêu Tông cho đúc

Ông vua này chỉ có một niên hiệu là Quang

Thiệu từ năm 1516 đến năm 1522 Hình

thức cơ bản giống các tiền nhà Lê trước đó

nhưng xấu hơn, kích thước bé hơn, nhẹ hơn

 Thống Nguyên Thông Bảo

Thống Nguyên thông bảo do Lê Cung Hoàng (lấy niên hiệu Thống Nguyên 1522 1527) phát hành Tiền này đẹp hơn Quang Thiệu thông bảo nhưng vẫn chưa bằng đượccác tiền nhà Lê trước đó

- Phật Pháp Tăng Bảo

Đây cũng là sự kiện hy hữu trong lịch sử tiền tệ màviệc phát hành tiền lại được làm dưới danh nghĩanhà Phật Đồng tiền này được cho là tiền do TrầnCảo phát hành và được dùng thông thường

7 Các đồng tiền thời nhà Mạc

 Minh Đức Thông Bảo

Đây là các tiền kim loại do Mạc Thái Tổ phát hành Minh Đức Thông Bảo có hai loạt.Loạt thứ nhất bằng đồng được bắt đầu đúc từ năm 1529 Mặt trước có bốn chữ Minh ĐứcThông Bảo đúc nổi đọc chéo Mặt sau có hai chữ Vạn Tuệ đúc nổi Loạt này có kíchthước lớn, đường kính từ 23 đến 24,5 mm,

dày dặn Loạt thứ hai đúc bằng kẽm Kích

thước vẫn như loạt trước Mặt sau không còn

chữ vạn tuế mà thay vào đó là một vành

khuyết nổi ở bên phải và một chấm tròn ở bên

trái

 Minh Đức Nguyên Bảo

Minh Đức Nguyên Bảo làm bằng sắt Đại Việt sử ký toàn thư cho biết Mạc Đăng Dung có cho pha kẽm vào

khi đúc tiền rồi sau lại cho đúc tiền bằng sắt Khảo cổ

Trang 14

học Việt Nam không phát hiện ra di vật, song Lacroix

có công bố một mẫu vật tiền này, mặt trước có bốn chữMinh Đức nguyên bảo đọc vòng tròn, mặt sau không cóchữ hay hình gì

 Đại Chính Thông Bảo

Các sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc Mạc Thái Tông phát hành tiền Tuynhiên khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền kim loại bằng đồng mang niên hiệu Đại Chínhcủa ông Mặt trước tiền nổi bốn chữ Đại Chính thông bảo đọc chéo Mặt sau để trơn,đường kính khoảng 22 mm

 Quảng Hòa Thông Bảo

Mạc Hiến Tông làm vua từ năm 1541 đến

năm 1546 và chỉ có một niên hiệu là Quảng

Hòa Sử liệu không ghi vị vua nhà Mạc này

có cho đúc tiền hay không, song khảo cổ học

phát hiện ra di vật tiền Quảng Hòa thông bảo

Tiền này có hơn một loạt nhưng đều đúc bằng

đồng và bốn chữ Quảng Hòa thông bảo đọc chéo ở mặt trước, mặt sau để trơn Có loạt thì

các chữ này được viết chân phương Có loạtthì những chữ này lại được viết theo lối chữtriện

 Vĩnh Định Thông BảoVĩnh Định là niên hiệu đầu tiên trong ba niệnhiệu của Mạc Tuyên Tông, bắt đầu từnăm 1547 Khảo cổ học đã tìm thấy tiền Vĩnh Định thông bảo đúc bằng đồng có đườngkính chừng 21,5 mm Mặt trước có bốn chữ Vĩnh Định thông bảo viết chéo Mặt sau đểtrơn, nhưng gờ mép và gờ lỗ có viền nổi Ngoài ra còn có tiền Vĩnh Định chí bảo có kiểudáng như Vĩnh Định thông bảo, khác ở chỗ chữ chí viết theo lối chữ thảo và mặt saukhông có viền gờ mép và lỗ

 Càn Thống Nguyên Bảo

Đây là tiền kim loại do Mạc Kính Cung phát hành Mạc Kính Cung tuy làm vua nhưngđóng ở vùng miền núi Đông Bắc Khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền này

 An Pháp Nguyên Bảo

Trang 15

An Pháp nguyên bảo là tiền kim loại kích thước nhỏ mà khảo

cổ học tìm thấy nhiều trong hố khai quật di

chỉ gốm Hợp Lễ (Hải Dương) Lê Quý

Đôn qua Phủ biên tạp lục cho biết đây là

tiền do nhà Mạc phát hành, nhưng không

nói cụ thể bởi vị vua nào của nhà Mạc Tiền

An pháp nguyên bảo được thuyền chở vào

lưu hành vào tới tận Thuận Hóa

8 Đồng tiền nhà Lê trung hưng

 Nguyên Hòa Thông Bảo

Đây là tiền bằng đồng mang niên hiệu Nguyên Hòa (1533-1548) của Lê Trang Tông, vị

vua đầu tiên của thời Lê trung hưng Tiền này cókích thước nhỏ, được đúc cẩn thận Mặt trước cóchữ Nguyên Hòa thông bảo đọc chéo Mặt sau

có viền gờ mép và lỗ, song không có chữ hayhình gì Nguyên Hòa thông bảo có nhiều loại,trong đó có loại chỉ có hai chữ Nguyên Hòa viếttheo lối chữ triện và có loại thì lại có ba chữNguyên Hòa và bảo viết theo lối chữ triện

 Vĩnh Thọ Thông Bảo

Vĩnh Thọ là niên hiệu của Lê Thần Tông

Tiền Vĩnh Thọ thông bảo đúc bằng đồng,

 Chính Hòa Thông Bảo

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w