Mục tiêu và nhiệm vụ thảo luận - Mục tiêu: Bài thảo luận tập trung nghiên cứu, trình bày và phân tích những nền tảng căn bản của nền kinh tế Trung Quốc từ năm 1949-1978, đồng thời, làm r
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE
-*** -BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN LỊCH SỬ KINH TẾ
ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC
THỜI KỲ 1949- 1978
LỚP : KIỂM TOÁN CLC 64B
HÀ NỘI, THÁNG 9 NĂM 2023
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
1 Lê Quang Anh
Tìm hiểu và viết luận phần:
- Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953
- 1957)Làm PowerpointNgười thuyết trình số 3
2 Nguyễn Hoàng Quân
Tìm hiểu và viết luận phần:
- Giai đoạn Đại nhảy vọt (1958 – 1965)
Làm PowerpointNgười thuyết trình số 2Tìm câu hỏi trắc nghiệm ôn tập
3 Nguyễn Trung Trực
Tìm hiểu và viết luận phần:
- Giai đoạn “Bốn hiện đại hóa” (1976– 1978)
4 Nguyễn Minh Khôi
Tìm hiểu và viết luận phần:
- Giai đoạn khôi phục kinh tế (1949 –1953)
Người thuyết trình số 1
5 Nguyễn Quang Trung
Tìm hiểu và viết luận phần:
- Giai đoạn Đại cách mạng hóa vô sản (1966 – 1976)
- Hoàn thiện, chỉnh sửa bài luận
- Tìm câu hỏi trắc nghiệm ôn tập
2
Trang 3MỤC LỤC CHÍNH
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu……… 4
2 Mục tiêu và nhiệm vụ thảo luận……… 4
3 Bố cục bài thảo luận……… 5
NỘI DUNG
I CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC KINH TẾ (1949 ĐẾN 1953)…… 6
II KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1953 - 1957)………….7III GIAI ĐOẠN ĐẠI NHẢY VỌT (1958 - 1965)……… 10
IV GIAI ĐOẠN ĐẠI CÁCH MẠNG HÓA VÔ SẢN (1966 – 1976)
……… 15
V GIAI ĐOẠN BỐN HIỆN ĐẠI HÓA (1976-1978)……….21
KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA BÀI VIẾT
1 Bài học rút ra từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc……… 24
3 Hạn chế của bài viết………26
3
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
- Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, đóng góp của Trung Quốc cho tăng trưởng kinh tế thế giới trung bình ở mức 30% và trong một số năm đạt 40% Trung Quốc cũng là nền kinh tế có nhu cầu nhập khẩu lớn trên thế giới, là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn, có mối liên hệ lớn về thương mại và tài chính với nhiều nền kinh tế Với vai trò của mình trong nền kinh tế thế giới, bất kỳ sự thay đổi nào trong chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế của Trung Quốc cũng ảnh hưởng tới kinh tế các nước, kinh tế khu vực và rộnghơn là kinh tế toàn cầu Có một dự báo chính thức nói rằng Trung Quốc sẽ trởthành nền kinh tế lớn nhất thế giới tính theo GDP danh nghĩa vào năm 2028 Trong lịch sử, Trung Quốc từng là một trong những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới trong gần hai thiên niên kỷ từ thế kỷ I đến thế kỉ XIX Và để xây dựng nên một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới như hiện nay không thể không
đề cập tới giai đoạn 1949 – 1978 một trong những thời kì đã để lại một dấu ấnđậm nét đến nền kinh tế Trung Quốc
- Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có nhiều nét tương đồng trong quá trình xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội, Đảng Cộng Sản đều là đảng cầm quyền, đều lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, đều chuyển từ thể chế kế hoạch hóa tập trung sang thể chế kinh tế thị trường sau cải cách mở cửa và đổi mới Vì vậy việc nghiên cứu nền lịch sử kinh tế Trung Quốc là cần thiết, có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ thảo luận
- Mục tiêu: Bài thảo luận tập trung nghiên cứu, trình bày và phân tích những nền tảng căn bản của nền kinh tế Trung Quốc từ năm 1949-1978, đồng thời, làm rõ các bước phát triển mới, các công cuộc khôi phục, xu thế và khuynh hướng phát triển nổi bật, đặc tính kinh tế của Trung Quốc
- Nhiệm vụ: Bài thảo luận “Trung Quốc trước ngày thành lập nước Cộng hòaNhân dân Trung Hoa (10/1949) đến giai đoạn Bốn hiện đại hóa (1976-1978)” thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
Khái quát được tổng thể đặc điểm kinh tế - xã hội Trung Quốc trước ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Thấy được tổng thể bứic tranh kinh tế Trung Quốc thời kỳ xây dựng môhình kinh tế (1949-1978) cùng với đó là những hạn chế và hậu quả của
mô hình này
4
Trang 5 Từ đó, bài thảo luận rút ra những kinh nghiệm, bài học từ những hậu quả và chính sach sai lệch của mô hình kinh tế
3 Bố cục bài thảo luận
- Ngoài mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo, bài thảo luận bao
gồm năm nội dung chính sau đây:
I Công cuộc khôi phục kinh tế (1949 đến 1953)
II Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 - 1957)
III Giai đoạn đại nhảy vọt (1958 - 1965)
IV Giai đoạn đại cách mạng hóa vô sản (1966 – 1976)
V Giai đoạn bốn hiện đại hóa (1976-1978)
5
Trang 6- Hai cuộc chiến liên tiếp gây nhiều thiệt hại cho toàn bộ nền kinh tế và chính trị Trung Quốc Tình trạng nghèo đói từng xảy ra ở Trung Quốc trước đây nhưng sau 2 năm trong chiến tranh, tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn
- Trong cuộc nội chiến, Quốc dân Đảng có xu hướng phá hủy khu vực công Cũng có thể để nó rơi vào tay Đảng Cộng sản Mặc dù Đảng Cộng sản đã giành được thắng lợi nhưng bù lại phải đối mặt với một nền kinh tế bị công nghiệp tàn phá nặng nề, dẫn đến suy thoái kinh tế nguồn nhiên liệu và điện đang thiếu hụt.Và nó không chỉ bị ảnh hưởng bởi các ngành công nghiệp nêu trên lĩnh vực nông nghiệp cũng suy giảm tình trạng nghèo đói lan rộng trong nông nghiệp Cuối năm 1949, đầu năm 1950, nông nghiệp có mối quan hệ mậtthiết với Đảng Cộng sản Tài sản bị tước đoạt theo lời hứa cải cách ruộng đất Ngoài ra, nội chiến còn khiến nhiều nông dân bỏ ruộng để gia nhập quân đội
và chiến đấu dẫn đến tình trạng thiếu lao động
- Sau Thế chiến II, Trung Quốc nằm dưới sự kiểm soát Liên Xô Trong thời
kỳ này, Liên Xô bắt đầu chiếm một lượng lớn tài nguyên công Vật liệu công nghiệp, quý hiếm từ Trung Quốc được vận chuyển về nước phục vụ quá trình tái thiết được thành lập sau Thế chiến thứ hai Toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc bị phá hủy như một kết quả tất yếu sau cuộc nội chiến cũng như kết quảkhi Trung Quốc tham chiến vào cuộc Chiến tranh Thế giới thứ 2
2 Diễn biến công cuộc khôi phục kinh tế
- Sau ngày giải phóng, nền kinh tế Trung Quốc đang đứng trước nhiều khó khăn, sản xuất nông công thương nghiệp trong tình trạng giảm sút nghiêm trọng Do vậy, công cuộc khôi phục kinh tế đã được triển khai trên 274 tất cả các lĩnh vực kinh tế
Trang 7244
Trang 8tế - xã hội trong nông thôn Trung Quốc đã có sự thay đổi, quan hệ sản xuất phong kiến đã bị thủ tiêu, đồng thời sở hữu nhỏ và sản xuất nhỏ của người nông dân đã trở thành cơ sở cho sự phát triển của nông nghiệp Trong giai đoạn cải cách ruộng đất, Trung Quốc bước đầu xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp, năm 1951 có 300 hợp tác xã, năm 1952 tăng lên 4.000 hợp tác xã Để tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, Trung Quốc còn chú trọng phát triển
hệ thống thủy lợi Từ năm 1949-1952, số lượng đất đào đắp là 1.700 triệu
m3 , gấp 23 lần so với kênh đào Xuy-ê (Suez) và 10 lần so với kênh đào
Panama Do vậy, sản xuất nông nghiệp có điều kiện nhanh chóng phục hồi Năm 1949, sản lượng lương thực là 108 triệu tấn, năm 1952 tăng lên 159,3 triệu tấn
Công thương nghiệp
+ Trung Quốc đã tiến hành quốc hữu hóa các cơ sở công thương nghiệp của tư bản nước ngoài và các thế lực tư sản mại bản Trên cơ sở ấy, các cơ sở kinh tế quốc doanh đã hình thành và nhà nước đã nắm lấy những mạch máu kinh tế quan trọng Nhìn chung đến cuối năm 1952, kinh tế quốc doanh chiếm50% giá trị sản lượng công nghiệp; chiếm 95% trong tổng số chu chuyển
hàng hóa và vật tư Trong lĩnh vực công thương nghiệp, bước đầu đã hình thành nên quan hệ kinh tế mới, góp phần tác động tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế Tình hình giá cả, tài chính và tiền tệ cũng đi vào ổn định
Năm 1952 thu chi tài chính cân bằng, riêng số thu năm 1952 so với năm 1949 tăng 239% Do vậy, đời sống nhân dân Trung Quốc được cải thiện
3 Kết quả của công cuộc khôi phục kinh tế:
- Như vậy, sau ba năm tiến hành khôi phục kinh tế, Trung Quốc đã thu được những thắng lợi cơ bản Năm 1952, tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp đạt 177,5% so với năm 1949 Tuy vậy, trong công nghiệp Trung Quốc thì sản phẩm tính theo đầu người còn thấp, ví dụ thép là 2,3 kg, dầu lửa 0,7 kg v.v
Từ tình trạng ấy, hằng năm Trung Quốc phải nhập 95% số lượng thép, 76% thiết bị máy móc, 21% nguyên liệu dệt và 99% số lượng dầu mỏ v.v Để từngbước xóa bỏ tình trạng thấp kém và lạc hậu của nền kinh tế, Trung Quốc đã triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957)
II KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1953-1957)
1 Hoàn cảnh
- Sau khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và hoàn thành Cải cách Ruộng đất, mục tiêu tiếp theo của Mao là phát triển kinh tế và công nghiệp hóa quốc gia
7
Lịch sửkinh tế 100% (3)
TỰ LUẬN GIỮA KÌIIIIIIIIIIIIIIIIIIIIII
Lịch sửkinh tế 100% (3)
3
Trang 9- Mô hình phát triển kinh tế mà Mao sử dụng được phỏng theo Liên Xô NhưSpence giải thích: “Một chuỗi các kế hoạch 5 năm được cho là nguyên nhân giúp quốc gia này nổi lên như một cường quốc tầm cỡ thế giới vào những năm 1930, với khả năng chống chọi và đẩy lùi toàn bộ cuộc tấn công của Đứctrong Thế chiến thứ hai Chiến thắng đó lại cho phép Liên Xô mở rộng ảnh hưởng của mình ở châu Âu khi chiến tranh kết thúc, bất chấp nỗ lực ngược lạicủa Hoa Kỳ.” Thật vậy, Mao nhận ra rằng một nền kinh tế mạnh sẽ chuyển thành sự công nhận và quyền lực ngày càng tăng trên trường thế giới.
- Năm 1953, Mao đưa ra Kế hoạch 5 năm đầu tiên của Trung Quốc, mà chủ yếu dựa trên việc giữ cho nhập khẩu nước ngoài ở mức tối thiểu và tăng nhanh sản lượng của ngành công nghiệp nặng Sản lượng nông nghiệp được
sử dụng để nuôi sống dân cư đô thị và hỗ trợ tăng trưởng công nghiệp
2 Kế hoạch
- Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất , Trung Quốc đã tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn, từ thành thị tới nông thôn với tất cả đối tượng như nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và công thương nghiệp tư bản doanh nghiệp
- Thép là mục tiêu cốt lõi để phát triển Đến cuối kế hoạch 5 năm đầu tiên, thành phố phía bắc An Sơn thuộc tỉnh Liêu Ninh chịu trách nhiệm cho 40% tổng sản lượng thép của Trung Quốc Trong kế hoạch 5 năm, sản lượng thép tăng từ 1,3 triệu tấn năm 1952 lên 5,2 triệu tấn năm 1957 Ngoài Anshan, tầng lớp nông dân ở nông thôn được khuyến khích thành lập các 'lò nung ở sân sau' của riêng họ để thúc đẩy hơn nữa sản xuất thép
3 Hiệp ước Hữu nghị Trung-Xô
- Các chuyên gia từ Liên Xô đã có công trong việc đề xuất và thực hiện các
dự án quy hoạch đô thị cũng như trong nhiều khía cạnh khác của kế hoạch 5 năm đầu tiên Sau khi chiến thắng Nội chiến, Mao đã ký Hiệp ước Hữu nghị Trung-Xô Điều này mang lại nhiều lợi thế và bất lợi Như Spence lưu ý: 'Đây
là thời kỳ hợp tác chặt chẽ nhất giữa Trung Quốc và Liên Xô Hàng nghìn cố vấn kỹ thuật Liên Xô đã đến Trung Quốc để giúp xây dựng nhà máy, quy hoạch công nghiệp, phát triển thủy điện, mở rộng mạng lưới đường sắt và thậm chí cả kiến trúc đô thị Trước khi các chuyên gia Liên Xô đến, Trung Quốc trước đây được coi là một quốc gia nghèo về dầu mỏ, nhưng một báo cáo do các du khách Liên Xô đưa ra cho thấy Trung Quốc có thể tự cung tự cấp hoàn toàn về sản xuất dầu mỏ Hơn nữa, 'dầu mỏ của Trung Quốc đã đạt đến mức của Liên Xô trong kế hoạch 5 năm đầu tiên […] công nghiệp hóa
8
Trang 10nhanh chóng như vậy hiếm khi được nhìn thấy ở bất kỳ đâu trên thế giới và tất nhiên không thể tách rời sự trợ giúp của Liên Xô' Tuy nhiên, các chuyên gia Liên Xô không miễn phí Mặc dù Stalin đã cho Mao vay 300 triệu đô la, khoản vay này có lãi suất rất cao Tay của Mao bị trói vì ông sợ một cuộc xâmlược của Hoa Kỳ để phục hồi nhà lãnh đạo Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch,
vì vậy sự hỗ trợ của Liên Xô đã đóng vai trò ngăn chặn Sau kế hoạch 5 năm đầu tiên, căng thẳng giữa Trung Quốc và Liên Xô bắt đầu nổi lên Stalin qua đời năm 1953 và nhà lãnh đạo mới Khruschev có những khác biệt nghiêm trọng về ý thức hệ với Mao Ông đã từ chối ủng hộ Mao để xâm lược Đài Loan vào năm 1958, và đã từ chối lời hứa trước đó là giúp Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân Từ năm 1958 trở đi, viện trợ và chuyên gia của Liên Xô
- Tốc độ của sản xuất công nghiệp tăng bình quân hằng năm 18%
* Về công nghiệp:
- Trong 5 năm, 246 công trình đã được xây dựng và đưa vào sản xuất
- Sản lượng công nghiệp tăng 140%
- Sản xuất điện năng vượt kế hoạch với 121.6%, sản xuất thép với 129.8%, sản xuất than tăng với 115%
* Về nông nghiệp:
- Phong trào cải tiến kỹ thuật và xây dựng các công trình thủy lợi đã góp phầnthúc đẩy nông nghiệp phát triển
- Nhịp độ tăng hàng năm của nông nghiệp đạt 4,5%
- Do vậy, sản lượng lương thực năm 1957 đạt 185 triệu tấn
9
Trang 11- Sản lượng tăng 25% so với năm 1952.
* Về đối ngoại:
- Trung Quốc đã thi hành chính sách đối ngoại tích cực nhằm củng cố hoà bình và thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới
- Địa vị quốc tế của Trung Quốc được khẳng định vững chắc
Hạn chế : Tuy vậy, trong nền kinh tế Trung Quốc, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lao động thủ công là phổ biến, năng suất lao động thấp Qua cải tạo xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đã được xác lập, nhưng trình độ tổ chức quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém Xuất phát từ quan điểm cho rằng nền kinh tế càng thuần khiết xã hội chủ nghĩa càng tốt, quy mô các
tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa càng lớn càng tốt nên các loại hình kinh tế tư nhân ở Trung Quốc bị nhanh chóng xóa bỏ Quan điểm ấy phản ánh khuynh hướng chủ quan, nóng vội, muốn hoàn thành nhanh chóng cải tạo xã hội chủ nghĩa Trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa thường chú trọng về quy mô,
số lượng, ít chú ý đến chất lượng và hiệu quả Chính quan điểm trên đã ảnh hưởng tới việc lựa chọn hình thức, bước đi trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc Thực tế chỉ ra rằng, trong việc xác lập quan hệ sản xuất mới, cần phải nhận thức đầy đủ đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phải thực sự tôn trọng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, vì cái đích trong cải tạo xã hội chủ nghĩa phải hướng tới sự phát triển của lực lượng sản xuất
III GIAI ĐOẠN ĐẠI NHẢY VỌT (1958-1965)
1 Giới thiệu
- “Đại nhảy vọt” là tên thường gọi cho một chiến dịch được phát động trong giai đoạn 1958 – 1962 bởi các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt là Mao Trạch Đông, nhằm mục tiêu sử dụng dân số khổng lồ của Trung Quốc để chuyển tiếp nhanh chóng Trung Quốc đại lục từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, dựa vào nông dân là chính sang một xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
- Đại nhảy vọt ngày nay được đa số mọi người, cả trong và ngoài Trung Quốc, xem như là một chính sách kinh tế thất bại nặng nề nhất thế giới Sự thất bại của kế hoạch này làm đình trệ sản xuất, kết hợp với những thiên tai đãgây ra nạn đói, khiến 13-20 triệu người chết đói và mất tích, đồng thời góp phần làm cho nền kinh tế non trẻ của Trung Quốc bị chững lại suốt hàng chục
10
Trang 12năm sau đó Vì vậy, nhiều người đã gọi công cuộc này với cái tên đầy châm biếm là Đại nhảy lùi.
- Trong các kỳ đại hội đảng được tổ chức vào tháng 3 năm 1960 và tháng 5 năm 1962, những thất bại của cuộc Đại nhảy vọt khiến Mao Trạch Đông bị chỉ trích vì không đề ra những chính sách hợp lý Uy tín của ông bị ảnh hưởngnặng nề, dẫn đến việc ông khởi xướng cuộc cách mạng văn hoá năm 1966 để tái củng cố quyền lực trong Đảng
3 Cách thức hoạt động
- Đại hội đề ra những chỉ tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1962), như giá trị tổng sản phẩm sẽ tăng 75% so với năm 1957, trong đó côngnghiệp tăng gấp 2 lần, nông nghiệp tăng 35% Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thực tế không diễn ra như vậy, mục tiêu kinh tế được sửa chữa lại, với dựđịnh nâng sản lượng công nghiệp lên 6,5 lần, sản lượng nông nghiệp lên 2,5 lần Trong công nghiệp, một số ngành được đề ra với mục tiêu rất cao như sảnxuất thép tăng 18 lần, điện tăng 15 lần, xi măng tăng 10 lần, Để hướng đến những mục tiêu kinh tế nói trên, Trung Quốc đã phát động phong trào 3 ngọn
(1958-cờ hồng: “Đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân”
* Công xã nhân dân
Đại nhảy vọt được dựa trên một lý thuyết logic về sự phát triển kinh tế, thể hiện cho một phát minh xã hội rõ ràng œ tưởng trung tâm đằng sau Đại nhảy vọt là sự phát triển nhanh của nền công nghiệp và nông nghiệp Trung Quốc nên được diễn ra song song Họ hy vọng thực hiện công nghiệp hóa bằng cáchlợi dụng nguồn cung ứng lao động giá rẻ khổng lồ và tránh phải nhập cảng các thiết bị, máy móc nặng Để đạt được điều này, Mao chủ trương một vòng tập thể hóa sâu rộng hơn dựa theo mô hình "Thời kỳ thứ 3" của Liên Xô là cần thiết trong nông thôn Trung Quốc nơi các hợp tác xã hiện hữu sẽ được nhập vào thành các Công xã nhân dân
11
Trang 13Trong công xã, mọi thứ đều là của chung Nhà bếp công xã trở nên rườm rà Mọi thứ thuộc về nhà bếp như bàn ghế, dụng cụ nấu ăn và nồi chảo, tất cả được tập trung vào nhà bếp công xã Nấu ăn riêng lẻ bị cấm và được thay thế bằng ăn uống tập thể Mọi thứ ban đầu của các hộ gia đình như những con vật, thóc lúa dự trữ và các đồ vật khác cũng bị tập trung vào công xã Chúng được công xã sắp xếp cho những phận sự khác nhau Tất cả các hoạt động nông nghiệp đều do cán bộ tập quyền sắp xếp mỗi buổi sáng Thậm chí tiền bạc bị cấm sử dụng ở một số nơi Hơn thế nữa, cuộc sống gia đình bị xóa bỏ; các nhà dưỡng lão công xã được thiết lập, và người dân không được phép ăn chung với gia đình
Dựa trên những nghiên cứu thực địa của mình, Ralph A Thaxton Jr miêu tả những công xã nhân dân như một dạng khác của hệ thống apartheid dành cho những nhà nông dân Hệ thống công xã nhân dận ngắm đến việc tối đa hóa sản xuất để chu cấp cho thành phố và xây dựng các văn phòng, xưởng, trườnghọc và hệ thống bảo hiểm xã hội cho những người làm việc ở trên đô thị Cư dân sống ở những khu vực hẻo lánh, những người chỉ trích hệ thống này đượccoi là nguy hiểm Việc trốn thoát khỏi những công xã nhân dân cũng vô cùng khó khăn
Công nghiệp:
Trung Quốc tập trung cao độ để phát triển những ngành công nghiệp nặng như luyện kim, chế tạo máy, hoá chất, điện lực, cũng như phát động phong trào toàn dân làm công nghiệp, toàn dân làm gang thép Sản xuất thép được đưa lên hàng đầu, năm 1962 đạt chỉ tiêu đặt ra là 10,5 – 12 triệu tấn, sau nâng lên 80 – 100 triệu tấn Cùng lúc đó, khắp nông thôn Trung Quốc mọc lên hàngvạn lò luyện sắt thép do nhân dân tự xây dựng Do tập trung phát triển công nghiệp nặng, nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng, thể hiện giữa công nghiệp với nông nghiệp; giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ; giữa quy mô xây dựng với khả năng kinh tế tài chính, vật tư
kỹ thuật; giữa tích luỹ và tiêu dùng Đồng thời, sản xuất gang thép gây lãng phí tiền vốn, sức lao động do điều kiện, chất lượng kém
Nông nghiệp:
Trung Quốc đã xúc tiến xây dựng các công xã nhân dân, mỗi công xã khoảng
5000 hộ nông dân Nhìn chung tới năm 1958, tất cả các nông dân đã được vàocác công xã Đây là giai đoạn khắp nông thôn Trung Quốc tiến hành mở rộng tập trung tư liệu sản xuất của nông dân, kinh tế phụ gia đình bị xoá bỏ và thựchiện chính sách phân phối bình quân theo phương châm “cả nước ăn chung một nồi cơm to, cả nước cùng quá độ nghèo đi lên chủ nghĩa xã hội, càng 12
Trang 14nghèo càng cách mạng” Nhà nước còn phát động phong trào học tập và noi gương công xã Đại Trại – công xã không xin nhà nước chi viện, giúp đỡ, đã
tự lực, tự cường phát triển và có nhiều đóng góp với nhà nước để tăng thêm tích luỹ từ nông nghiệp
4 Tác động của “Đại nhảy vọt”
a) Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc
- Tiêu cực:
Tư tưởng tả khuynh trong phát triển kinh tế khiến cho Trung Quốc đứng trước những hậu quả kinh tế nghiêm trọng, tính ra hàng năm thu nhập quốc dân giảm 3%, trong đó sản lượng các mặt hàng công nghiệp đều giảm sút, sản lượng lương thực năm 1960 tụt xuống còn 160 triệu tấn và hàng năm Trung Quốc phải nhập một khối lượng lương thực bằng 1/3 tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu Tình hình kinh tế nói trên đã gây ra những đảo lộn trong đời sống kinh tế - xã hội
Đại nhảy vọt dẫn đến cuộc tàn phá bất động sản trong lịch sử nhân loại,vượt xa bất kỳ chiến dịch ném bom nào trong thế chiến thứ hai Khoảng30% đến 40% ngôi nhà bị biến thành đống đổ nát Về chính sách ruộng đất, các thất bại trong việc cung ứng thực phẩm trong Đại nhảy vọt đã dẫn đến việc dần loại bỏ tập thể hóa trong thập niên 1960 Nó báo hiệu cho các cuộc xóa bỏ tập thể hóa xa hơn nữa dưới thời Đặng Tiểu Bình
- Tích cực:
Có ý kiến cho rằng những chính sách của Đại Nhảy Vọt đã làm rất nhiều để giữ vững sự phát triển chung của nền kinh tế Trung Quốc sau những giai đoạn hỗn loạn đầu Những thống kê chính thức của Trung Quốc cho thấy rằng ở giai đoạn cuối của Đại nhảy vọt trong 1962, giá trị sản lượng công nghiệp tăng gấp đôi, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng 35%, sản xuất thép trong năm 1962 rơi vào khoảng 10,6 triệu tấn đến 12 triệu tấn, đầu tư vào xây dựng cơ bản cũng được gia tăng và thu nhập trung bình của công nhân và nông dân tăng lên đến 30%
Biện pháp phục hồi nền kinh tế:
+ Trong Hội nghị trung ương 9 (1-1961) của Đảng Cộng sản Trung Quốc
đã đề ra những biện pháp điều chỉnh nhằm phục hồi nền kinh tế
13