1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) chính sách hỗ trợ an sinh xã hội chính sách hỗ trợ người dân,doanh nghiệp, người lao động với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng trong thờikỳ đại dịch covid 19

83 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội: Chính Sách Hỗ Trợ Người Dân, Doanh Nghiệp, Người Lao Động Với Gói Hỗ Trợ Lên Đến 62 Nghìn Tỷ Đồng Trong Thời Kỳ Đại Dịch Covid-19
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Việt Dũng, Nguyễn Phượng Linh, Nguyễn Văn Nam, Trần Thu Phương, Phạm Hồng Thái
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Công Cộng
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 9,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là sinh viên kinh tế và đang học học phần Kinh tế công cộng, trải quatừng tuần học và thực hành bài tập nhóm, chúng em đã càng hiểu thêm nhiềuvấn đề sâu sắc về khu vực công, đặc biệt là

Trang 2

Hà Nội, tháng 3 năm 2022

LỜI MỞ ĐẦU



Dịch Covid-19 hiện nay đang đặt ra những thách thức chưa từng có tiền

lệ và những khó khăn vô cùng to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế cũng như toàn

xã hội Trong thời gian qua Chính phủ đã có những bước đi kiên quyết, đúngđắn và đưa ra những chính sách hỗ trợ kịp thời cho người dân, để từ đó kiềmchế được sự lây lan bùng phát của đại dịch Covid-19 và giảm thiệt hại của đạidịch Đây được xem là một thành quả rất đáng tự hào Tuy nhiên, để có thểchiến thắng dịch bệnh trên cả hai mặt trận y tế, kinh tế, bên cạnh việc hạn chếdịch bệnh, Chính phủ cần có những chính sách hợp lý để hỗ trợ kinh tế và ansinh xã hội

Là sinh viên kinh tế và đang học học phần Kinh tế công cộng, trải quatừng tuần học và thực hành bài tập nhóm, chúng em đã càng hiểu thêm nhiềuvấn đề sâu sắc về khu vực công, đặc biệt là vai trò của Chính phủ trong giaiđoạn dịch bệnh Covid-19 vẫn đang tiếp tục diễn ra phức tạp như hiện nay.Bài báo cáo của nhóm gồm 3 phần:

Phần 1: Đại dịch Covid- 19 và vai trò của chính phủ

Phần 2: Tổng quan chính sách hỗ trợ của chính phủ Việt Nam trong bốicảnh Covid-19

Phần 3: Chính sách hỗ trợ an sinh xã hội: Chính sách hỗ trợ người dân,doanh nghiệp, người lao động với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng trong thời

kỳ đại dịch Covid-19

Trang 3

phần chưa tốt để chúng em có thể cải thiện được kiến thức của mình.

Chúng em xin chân thành cảm ơn cô !

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG



PHẦN 1: ĐẠI DỊCH COVID- 19 VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ

1 Tổng quan về đại dịch Covid-19 trên thế giới và Việt Nam

1.1 Bức tranh toàn cảnh về đại dịch

1.1.1 Quá trình xuất hiện của đại dịch Covid-19

Đại dịch COVID-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân làvirus SARS-CoV-2 và các biến thể của nó đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu.Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên tại thành phố VũHán thuộc miền Trung Trung Quốc đại lục, bắt nguồn từ một nhóm người mắcviêm phổi không rõ nguyên nhân Giới chức y tế địa phương xác nhận rằngtrước đó họ đã từng tiếp xúc, chủ yếu với những thương nhân buôn bán và làmviệc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam Các nhà khoa học Trung Quốc đã tiếnhành nghiên cứu và phân lập được một chủng coronavirus mà Tổ chức Y tế Thếgiới lúc đó tạm gọi là 2019-nCoV, có trình tự gen giống với SARS-CoV trướcđây với mức tương đồng lên tới 79,5%

Các ca nghi nhiễm đầu tiên ở Vũ Hán được báo cáo vào ngày 31 tháng 12năm 2019 Trường hợp tử vong do SARS-CoV-2 đầu tiên xảy ra ở Vũ Hán vàongày 9 tháng 1 năm 2020 Các ca nhiễm virus đầu tiên được xác nhận bên ngoàiTrung Quốc bao gồm hai người phụ nữ ở Thái Lan và một người đàn ông ởNhật Bản Sự lây nhiễm virus từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỷ

lệ bùng phát dịch tăng vào giữa tháng 1 năm 2020 Ngày 23 tháng 1 năm 2020,chính phủ Trung Quốc quyết định phong tỏa Vũ Hán, toàn bộ hệ thống giaothông công cộng và hoạt động xuất - nhập khẩu đều bị tạm ngưng

Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bốgọi “COVID-19” là “Đại dịch toàn cầu”, trước bối cảnh số ca nhiễm trên toàncầu đã vượt mốc 126.000 và dịch đã lan ra 123 quốc gia và vùng lãnh thổ

1.1.2 Các làn sóng dịch trên thế giới

Trang 5

Ca tử vong do SARS-CoV-2 ngoài Trung Quốc đầu tiên là tại Philippinesvào ngày 1 tháng 2 và ca tử vong đầu tiên ngoài châu Á (tại Pháp) là vào ngày

15 tháng 2 năm 2020 Tính đến ngày 12 tháng 6 năm 2020, hơn chục người đã

tử vong tại Iran, Hàn Quốc và Ý Sau đó thêm các ca tử vong do coronaviruscũng được báo cáo tại Bắc Mỹ, Úc, San Marino, Tây Ban Nha, Iraq, và AnhQuốc và có thể cả CHDCND Triều Tiên Tính đến ngày 9 tháng 7 năm 2021, số

ca tử vong trên toàn cầu do hoặc có liên quan tới COVID-19 đã hơn 4 triệungười

Hình 1.1: Bản đồ số ca COVID-19 được xác nhận từ 12/1 - 29/2/2020

Nguồn: Wikipedia

Cụ thể, vào ngày 12/3/2020, hơn 20.000 ca COVID-19 được ghi nhận vàgần 1.000 ca tử vong ở khu vực Châu Âu Phương Tây sau giai đoạn lúng túngbước đầu cũng phải vượt lên những tranh luận về quyền cá nhân và chấp nhậnsống chung với phong tỏa Italy là nước đầu tiên tại châu Âu ban bố hạn chế đilại trên toàn quốc vào chỉ cho phép người dân ra đường cho nhu cầu thiết yếunhư mua thực phẩm hay dịch vụ y tế Ngày 21/3/2020, dịch bệnh càn quét nước

Mỹ, tâm điểm là New York với số ca nhiễm tăng gấp 10 lần chỉ trong một tuần

và số ca nhiễm cũng như tử vong vẫn không ngừng tăng Ngày 24/3/2020, Ấn

Độ bước vào 21 ngày phong tỏa khi số ca COVID-19 ở mức khoảng 500 ca Sau

2 ngày, tức ngày 26/3/2020, Mỹ chính thức trở thành quốc gia chịu ảnh hưởng

Trang 6

nặng nề nhất của dịch bệnh với ít nhất 81.321 ca được xác nhận và hơn 1.000 ca

tử vong Số ca bệnh ở Mỹ nhiều hơn Trung Quốc, Italia hoặc bất kỳ quốc gianào vào thời điểm đó Ngày 28/3/2020, ở "tâm chấn" COVID-19 của Châu Âu,

số ca tử vong tại Italia vượt 10.000 Đến ngày 10/4/2020, thế giới đã ghi nhận

210 quốc gia và vùng lãnh thổ có người nhiễm COVID-19, tổng cộng 1.603.692người nhiễm, 95.717 người tử vong, trong đó 16.691 người tại Mỹ được ghinhận là tử vong vì dịch, 18.279 người tại Italy, 15.441 người tại Tây Ban Nha…

Có thể thấy, tuy khởi phát từ TP Vũ Hán (Trung Quốc) vào cuối năm

2019 nhưng dịch Covid-19 đã nhanh chóng lan sang một số nước châu Âu nhưItaly, Tây Ban Nha, Pháp, Anh vào tháng 3-2020 Sau đó, tâm dịch chuyển sang

Ấn Độ, Iran ở châu Á, rồi đến Mỹ, Brazil ở châu Mỹ Dịch Covid-19 vẫn tiếptục lan rộng trên khắp thế giới, và Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi lâylan của dịch bệnh

1.1.3 Các làn sóng dịch ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên được xác nhận là vàongày 23 tháng 1 năm 2020 Trong năm 2020, Việt Nam đã kiểm soát khá tốtdịch bệnh với tổng số ca tử vong xác nhận cả năm là 35 Tuy nhiên, sang đếnnăm 2021, tình hình dịch bệnh đã trở nên trầm trọng hơn với số ca mắc COVID-

19 cùng với số ca tử vong tăng đột biến Đại dịch COVID-19 đã lan ra toàn bộ

63 tỉnh, thành tại Việt Nam Nơi có dịch nặng nhất là TP Hồ Chí Minh với tổng

số 513.657 ca nhiễm và 19.845 ca tử vong (tính đến hết ngày 20/1/2022) Nơinhẹ nhất là Lai Châu với 744 ca nhiễm COVID-19, không có ca tử vong.Những làn sóng dịch COVID-19 tại Việt Nam đã gây ảnh hưởng đến mọimặt đời sống, kinh tế-xã hội Tốc độ lây lan của dịch bệnh vẫn chưa ngừng tăngqua các giai đoạn Ta có thể thấy rõ hơn qua từng giai đoạn sau:

Trang 7

Discover more from:

Trang 8

Hình 1.2: Bản đồ các tỉnh và thành phố theo số ca nhiễm (tính đến 19/1/2022)

Nguồn: Bộ Y tế Việt Nam

Hình 1.3: Những làn sóng dịch tại Việt Nam (tính đến 8/12/2021)

Trang 9

Nguồn: Báo Lao Động

Giai đoạn 1 (23/1 – 24/7/2020): Ngày 23/1/2020, phát hiện 2 ca bệnh đầutiên tại Việt Nam là cha con người Vũ Hán (Trung Quốc) Ngày 30/1/2020, Thủtướng kí quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng chống dịch bệnh,cũng ngày hôm đó phát hiện 3 công nhân từ Vũ Hán về Sơn Lôi (Vĩnh Phúc)dương tính Ngày 12/2/2020, lần đầu tiên cách ly toàn bộ xã Sơn Lôi, BìnhXuyên, Vĩnh Phúc Ngày 6/3/2020, Hà Nội công bố ca bệnh đầu tiên là bệnhnhân thứ 17 tại Việt Nam Ngày 10/3/2020, xuất hiện bênh nhân “siêu lâynhiễm” tại Bình Thuận – bệnh nhân thứ 34 lây nhiễm cho 11 người khác Ngày17/3/2020, Việt Nam tạm ngừng cấp chỉ thị thực cho người nước ngoài nhậpcảnh Ngày 20/3/2020, phát hiện bệnh nhân thứ 86 và 87 đều là nữ điều dưỡngBệnh viện Bạch Mai, lây lan ổ dịch 44 người Ngày 21/3/2020, Việt Nam tạmngừng nhập cảnh khách nước ngoài Ngày 1/4/2020, cách ly xã hội trên phạm vi

cả nước Ngày 23/4/2020, dừng cách ly xã hội nhưng vẫn tiếp tục đảm bảo cácquy tắc phòng chống dịch Ngày 25/4/2020, ban hành chỉ thị 19 nhằm tiếp tụccác biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới

Giai đoạn 2 (25/7 – 27/1/2021): Sau 99 ngày không có ca lây nhiễmtrong cộng đồng, ngày 25/7/2020, phát hiện bệnh nhân thứ 416 tại Đà Nẵng Từ

đó phát hiện thêm 553 ca tại Đà Nẵng và các tỉnh thành khác Ngày 28/7/2020,

Đà Nẵng giãn cách xã hội Từ 31/7/2020, ghi nhận ca tử vong đầu tiên là bệnhnhân 428 (70 tuổi, Hà Nam) Từ 11/9/2020, Đà Nẵng nới lỏng cách ly xã hội.Ngày 24/9/2020, công điện yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục phòng,chống dịch bệnh COVID-19 để duy trì vững chắc thành quả phòng, chống dịch.Giai đoạn 3 (28/1 – 26/4/2020): Sau 55 ngày không có ca lây nhiễmtrong cộng đồng, ngày 28/1/2021, Hải Dương giãn cách xã hội sau khi có 72 canhiễm cộng đồng Ngày 16/2/2021, Hải Dương cách ly xã hội toàn tỉnh Ngày3/3/2021, Hải Dương kết thúc cách ly xã hội toàn tỉnh sau 15 ngày Ngày8/3/2021, bắt đầu chiến dịch tiêm vaccine COVID-19

Trang 10

Giai đoạn 4 (27/4/2021 đến nay): Sự xuất hiện của biến thể Delta khiếndịch bệnh phức tạp nhất trong cả 4 đợt Ngày 27/4/2021, bắt đầu làn sóng dịchthứ 4 sau khi phát hiện bệnh nhân 2857 là lễ tân khách sạn ở Yên Bái bị lây từcác chuyên gia người Ấn Độ Ngày 5/5/2021, phát hiện những ca mắc COVID-

19 đầu tiên tại thị xã Từ Sơn và huyện Lương Tài (Bắc Ninh) liên quan đếnBệnh viện Bệnh Nhiệt đới TƯ cơ sở 2 Ngày 8/5/2021, dịch tấn công vào cácKCN, nhà máy, xí nghiệp, nơi ở và sinh hoạt tập trung đông công nhân, cộngđồng dân cư nơi có công nhân lưu trú, đặc biệt là 2 KCN Vân Trung và QuangChâu ở Bắc Giang Cho đến cuối tháng 5/2021, lây lan ra hơn 30 tỉnh, thành phố

và bùng phát mạnh tại các KCN thuộc tỉnh Bắc Ninh và ngày 31/5/2021,TPHCM giãn cách xã hội toàn thành phố Cuối tháng 6, Bắc Ninh, Bắc Giang

đã cơ bản kiểm soát được dịch bệnh Ngày 7/7/2021, ca tử vong thứ 100 là bệnhnhân 12.411 (62 tuổi, TPHCM) Ngày 9/7/2021, số ca tăng nhanh, TPHCM tăngcường mức độ giãn cách; các tỉnh phía Nam dịch diễn biến phức tạp Cuối tháng7/2021, ghi nhận mốc 1000 ca tử vong Cuối tháng 8/2021, ghi nhận mốc10.000 ca tử vong Ngày 1/10/2021, sau gần 3 tháng áp dụng chỉ thị 16,TPHCM mở cửa phần lớn các hoạt động Ngày 6/10/2021, ghi nhận mốc 20.000

ca tử vong Ngày 6/10/2021, Chính Phủ ban hành Nghị quyết 128 nhằm Thíchứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 Từ tháng 10/2021,những tỉnh tiếp tục có số ca tăng cao: Cần Thơ, Tây Ninh, Sóc Trăng, Hà Nội,Đồng Tháp, Bình Dương,… Trước ca mắc biến thể COVID-19 đầu tiên, nhànước đã triển khai nhiệm vụ tiêm mũi 3 cho toàn dân trên đất nước Ngày12/1/2022, Bộ Y tế cho biết Việt Nam đã hoàn thành tiêm mũi 1 vaccine chongười trưởng thành

Có thể nhận thấy rằng, sự xuất hiện của biến thể Delta đã khiến dịch bệnhtrở nên phức tạp nhất từ trước đến nay Việt Nam ghi nhận 2.000.000 ngườinhiễm, 35.000 người tử vong và đến nay chúng ta vẫn chưa kết thúc làn sóngdịch thứ 4 Các chỉ thị giãn cách vẫn được thực hiện ở một số địa phương có số

ca nhiễm đột biến, hầu hết các nơi đã thực hiện nới lỏng, tiếp tục tái thiết lại nềnsản xuất, học sinh trở lại trường học,… Nhà nước đang tiến hành các chính sáchtiêm chủng mũi 3, tiến hành các chính sách cục bộ cho từng địa phương, sẵn

Trang 11

sàng giải quyết hậu quả của đại dịch và chuẩn bị ứng phó với các đợt dịch tiếptheo, đặc biệt là thời điểm nhạy cảm như sau Tết Nguyên Đán 2022

1.2 T#c đô $ng c%a đại dịch Covid-19 đ(n kinh t( và x* hô $i

1.2.1 Tác động của đại dịch Covid-19 đến kinh tế thế giới

Tính đến sáng ngày 23-9-2020, cả thế giới có gần 32 triệu ca nhiễm,trong đó có hơn 23,4 triệu ca đã được chữa trị khỏi, gần 1 triệu người tử vong

Mỹ là quốc gia có số ca nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 lớn nhất, hơn 7,1 triệungười, tiếp đến là Ấn Độ, Brazil, Nga, Colombia, Peru… Số ca nhiễm và tửvong do vi-rút SARS-CoV-2 gây ra chưa có dấu hiệu dừng lại mà vẫn tiếp tụctăng từng ngày trên thế giới Tại Việt Nam, sau hơn 3 tháng không phát hiệnthêm ca lây nhiễm trong cộng đồng, thì những ngày cuối tháng 7-2020, những

ca bệnh mới đã được phát hiện mà chưa tìm được nguồn lây bệnh Tính cho đếnngày 23-9-2020, Việt Nam ghi nhận 1.069 ca mắc COVID-19

Sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 trên thế giới và quay trở lại tạiViệt Nam mà chưa có vắc-xin điều trị được sản xuất hàng loạt buộc các quốc giaphải sử dụng các biện pháp như giãn cách xã hội, đeo khẩu trang nơi công cộng,rửa tay thường xuyên, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân để hạnchế sự lây lan của dịch bệnh

Đại dịch COVID-19 đang tác động mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầuthông qua các trung tâm của chuỗi Trong đại dịch COVID-19, các quốc giachịu tác động nặng nề cũng là các trung tâm của mạng sản xuất toàn cầu nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ Khi đại dịch bùng nổ, các biện phápgiãn cách xã hội được thực hiện, nhiều hoạt động sản xuất tạm dừng lại Chuỗicung ứng bị đứt đoạn ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu,

từ đó làm suy giảm tăng trưởng nền kinh tế thế giới nói chung và nhiều quốcgia, khu vực nói riêng

Do tác động của COVID-19, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầunăm 2020 được Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển

Trang 12

(UNCTAD) đánh giá sẽ thu hẹp “từ mức 1.540 tỷ USD năm 2019 xuống dưới1.000 tỷ USD” Theo dự báo của UNCTAD, năm 2021, dòng FDI sẽ giảm thêm

từ 5% - 10% và có thể bắt đầu phục hồi từ năm 2022 Cho đến nay, dịch bệnhvẫn đang diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, khả năng dòng vốnFDI phục hồi là rất mịt mờ

Thương mại toàn cầu - gắn kết chặt chẽ với chuỗi cung ứng và dòng vốnFDI toàn cầu - cũng đang chịu tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19 Vàongày 4-8-2020, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự báo thương mại toàncầu giảm 13% trong năm 2020 Cấu trúc sản xuất toàn cầu mang tính tập trungcao độ, một số trung tâm lớn trên thế giới cung ứng đầu vào, đóng vai trò quantrọng trong chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu Vì thế, cú sốc COVID-19tác động đến các trung tâm sản xuất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt độngsản xuất và thương mại toàn cầu Bên cạnh đó, một số quốc gia chuyển sang “tựcung tự cấp” trong thời kỳ dịch bệnh như một biện pháp phản ứng trước đại dịchCOVID-19 sẽ càng làm cho thương mại toàn cầu thêm tồi tệ

Đại dịch COVID-19 tác động đến hai trụ cột trong tăng trưởng kinh tếtoàn cầu là thương mại và đầu tư, do đó cũng sẽ tác động làm suy giảm tăngtrưởng sản lượng toàn cầu Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ngày24-6-2020, tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm ước giảm 4,9% Dự báo củaIMF cũng phản ánh tình hình kinh tế thế giới ngày càng tồi tệ hơn khi vào tháng4-2020, IMF dự báo tăng trưởng thế giới giảm 3% Dự báo của Ngân hàng Thếgiới cho thấy, nền kinh tế toàn cầu thậm chí còn tồi tệ hơn, suy giảm ở mức5,2% năm 2020 Tăng trưởng kinh tế Mỹ được IMF dự báo giảm 8%, tăngtrưởng của khu vực đồng tiền chung châu Âu giảm 10,5%, Nhật Bản giảm 5,8%

và Trung Quốc tăng trưởng ở mức thấp 1% Tăng trưởng kinh tế thế giới và tạimột số quốc gia, vùng lãnh thổ là bạn hàng thương mại lớn của Việt Nam suygiảm sẽ tác động trực tiếp đến thương mại, đầu tư của nền kinh tế nước ta.Tác động của COVID-19 đến việc làm toàn cầu cũng rất mạnh mẽ Theo

Tổ chức Thương mại Thế giới (ILO), trong quý II năm 2020, tổng số giờ làmviệc toàn cầu giảm 14%, tương đương 400 triệu lao động toàn thời gian Mức

Trang 13

giảm việc làm toàn cầu còn mạnh hơn so với dự báo trước đó của ILO Suygiảm việc làm bên cạnh nguyên nhân sản xuất đi xuống, còn do việc nhiều quốcgia thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội để chống sự bùng phát của virusSARS-CoV-2.

Đại dịch COVID-19 làm bộc lộ những điểm yếu của các tổ chức và hệthống toàn cầu như hệ thống y tế thế giới, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đượccho là phản ứng quá chậm chạp khi để dịch bệnh bùng phát

Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 cũng đem đến những nhìn nhận mới, rõnét hơn về cơ hội phát triển Chẳng hạn, trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 vàthực hiện giãn cách xã hội, các cuộc họp, học tập, hội thảo trực tuyến nở rộ ởcác quy mô và cấp độ khác nhau cho thấy tiềm năng của mạng internet chưađược khai thác một cách đầy đủ từ trước đến nay Chẳng hạn, Quốc hội ViệtNam đã có những phiên họp trực tuyến mang tính tiên phong; Đại hội đồng Liênhợp quốc tổ chức họp trực tuyến lần đầu tiên trong lịch sử vào những ngàytháng 6-2020 - thời điểm dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp khó lường; hayĐại hội đồng liên Nghị viện ASEAN họp trực tuyến trong tháng 9-2020 Nhiềutrường học các cấp, nhiều cuộc họp trong và ngoài nước tiến hành trực tuyến.Điều này giúp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu thời gian đi lại cho mọi người Tuynhiên, đi liền với đó, thể chế cũng cần có sự thay đổi để đáp ứng trước quá trìnhchuyển đổi số đó

Tóm lại, đại dịch COVID-19 là cú sốc y tế mạnh mẽ, tác động đến mọimặt lên nền kinh tế thế giới Tăng trưởng toàn cầu và của nhiều quốc gia, khuvực ở mức âm; đầu tư và thương mại toàn cầu suy giảm; người lao động mấtviệc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao Trong khó khăn do dịch bệnh mang lại,cũng có những cơ hội xuất hiện, nhất là các hoạt động kinh tế - xã hội trực tuyếnnhư bán hàng trực tuyến, học trực tuyến, họp trực tuyến và thậm chí có nhữngdoanh nghiệp có kế hoạch dài hạn cho nhân viên làm việc trực tuyến tại nhà.COVID-19 đang đẩy nhanh quá trình ứng dụng và cho ra đời những sản phẩmmới từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Đại dịch đem đến cho thế giớinhững khó khăn, thách thức; nhưng đồng thời cũng đem đến cơ hội Quốc gia

Trang 14

nào biết tận dụng cơ hội sẽ có khả năng vươn lên mạnh mẽ sau đại dịch Vàngược lại, quốc gia nào không tận dụng tốt cơ hội sẽ gặp nhiều khó khăn trongthời kỳ “hậu COVID-19”.

1.2.2 Tác động của đại dịch Covid-19 đến kinh tế Việt Nam

Qua 35 năm đổi mới (1986 - 2020), nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiềuthành tựu to lớn Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức dương, có nhiều năm tăngtrưởng đạt mức cao trên dưới 8%; tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993xuống 11,3% năm 2009 và chưa đến 4% vào năm 2019; thu nhập người dânđược cải thiện rõ rệt, đời sống người dân nâng cao Tuy nhiên, trong hơn 3 thậpniên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động bởi các cú sốc bênngoài như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tàichính thế giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ vào năm 2020 Khác với 2 cú sốctrước là về tài chính - tiền tệ, cú sốc COVID-19 lần này chưa từng có tiền lệ, tácđộng mạnh mẽ lên nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tếnước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu Đối với yếu

tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hộicần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướngChính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh Trong khi đó, các nền kinh tế lớn(Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịchbệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tếsuy giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhậpkhẩu từ Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổngmức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳnăm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng

kỳ năm 2019 tăng 8,5%) Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm

2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019 Những mặt hàng thiết yếu đối với

Trang 15

cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đìnhtăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm,giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độgiảm.

Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uốnggiảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới53,2% - đây là lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh COVID-

19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội

Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng3,4% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 -

2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6%

và khu vực FDI giảm 3,8% Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xãhội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nhà nước tăng 3%,khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7% Như vậy, nhucầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảmtrong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư khu vực FDIgiảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng

âm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoàinhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so vớicùng kỳ năm 2020 Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vựcnhà nước tăng từ 3% 6 tháng đầu năm 2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020.Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đãđóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu

Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm

2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019, trong

đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%;khu vực FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7% Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầunăm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước;khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng5,9% Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất

Trang 16

khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020giảm và năm 2019 tăng, do đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tếtăng vào năm 2019 và giảm vào năm 2020 Thực trạng này cho thấy kim ngạchxuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịchCOVID-19 tác động tiêu cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tácđộng đến xuất khẩu của nền kinh tế nước ta.

Nhìn chung, do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêudùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất vàtăng trưởng của nền kinh tế Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiệnnay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất

Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứngđầu vào và lao động Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầuvào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sảnxuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên

bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗicung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lạihoạt động

Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nướcngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khinguồn cung lao động bị thiếu Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũngcao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thựchiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút

Năm 2020, Việt Nam là một trong những nền kinh tế trên thế giới duy trìđược đà tăng trưởng, nhưng tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 2,91%, thấp nhất tronggiai đoạn 2011 - 2020; tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2021 chỉ đạt5,64%, thấp hơn mục tiêu đề ra Mặc dù được cải thiện đáng kể so với cùng kỳnăm 2020 (1,82%), nhưng vẫn chưa hồi phục được tốc độ tăng như cùng kỳ cácnăm 2018 và 2019 (7,05% và 6,77%) Thu hút vốn đầu tư phát triển của khu vựcngoài nhà nước và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt thấp Đầu tư

Trang 17

của khu vực ngoài nhà nước năm 2020 chỉ tăng 3,1%, 6 tháng đầu năm 2021 chỉtăng 7,4% so với cùng kỳ Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2020giảm 25% so với năm 2019, trong 6 tháng đầu năm 2021 giảm 2,6% Tỷ lệ thấtnghiệp và thiếu việc làm tăng Năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong

độ tuổi là 2,48% (năm 2019 là 2,17%), tỷ lệ thiếu việc làm là 2,51% (năm 2019

là 1,5%) Trong quý II-2021, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của laođộng lần lượt là 2,4% và 2,6%, đều tăng so với quý I-2021 (2,19% và 2,2%)Những con số trên phản ánh rõ tình hình hoạt động rất khó khăn của cácdoanh nghiệp Năm 2020, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 2,3% sovới năm 2019; số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạtđộng chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể tăng 13,9% Phần lớncác doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh và đã giải thể hoạt động trong lĩnhvực thương mại, dịch vụ; những doanh nghiệp quy mô lớn rút lui khỏi thị trườngnhiều hơn Trong 8 tháng đầu năm 2021, so với cùng kỳ, số doanh nghiệp thànhlập mới giảm 8% về số doanh nghiệp, giảm 7,5% về vốn đăng ký và giảm13,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước; tổng số vốn đăng ký bổ sungvào nền kinh tế giảm 17%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm0,6% Doanh nghiệp bị ảnh hưởng trên diện rộng, đáng kể nhất là với cácdoanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ Hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác (sau đây gọi tắt là hợp tác xã) bịảnh hưởng nghiêm trọng Hơn 90% số hợp tác xã giảm doanh thu và lợi nhuận;lao động bị cắt giảm, nghỉ việc không lương chiếm hơn 50% tổng số lao động.Quỹ tín dụng nhân dân gặp khó khăn

Khu vực công nghiệp và thương mại, dịch vụ có tốc độ tăng trưởng thấptrong năm 2020, thấp nhất trong các năm 2011 - 2020 Khu vực công nghiệp chỉtăng 3,36%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ tăng 5,82% Khu vựcthương mại, dịch vụ tăng 2,34%, chỉ bằng khoảng 1/3 tốc độ tăng trưởng củanăm 2019, trong đó dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 14,68%, dịch vụ vận tải,kho bãi giảm 1,88% Trong 6 tháng đầu năm 2021, do tác động của các đợt giãncách xã hội tại một số địa phương, khu vực dịch vụ tiếp tục tăng trưởng thấp, chỉ

Trang 18

đạt 3,96% so với cùng kỳ năm 2020; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tụcgiảm sâu (5,12%), dịch vụ vận tải và kho bãi giảm 0,39% Doanh thu du lịch lữhành năm 2020 chiếm 0,3% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêudùng, giảm 59,5% so với năm trước; 6 tháng đầu năm 2021 giảm 51,8% so vớicùng kỳ năm trước Các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập các cấp thànhlập mới năm 2020 giảm 9,5% so với cùng kỳ, số lượng doanh nghiệp đăng kýtạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng 89,6%, số lượng doanh nghiệp giải thểtăng 32,8%; trong 6 tháng đầu năm 2021, số lượng doanh nghiệp quay trở lạihoạt động giảm 0,2%.

Lĩnh vực kinh doanh bất động sản chịu ảnh hưởng mạnh ở phân khúc nhà

ở xã hội, nhà ở thương mại giá thấp, văn phòng cho thuê, bất động sản du lịch,nghỉ dưỡng; xu hướng dịch chuyển kênh đầu tư sang thị trường bất động sảnkhiến thị trường sôi động hơn ở các phân khúc khác nhưng lại dẫn đến tìnhtrạng sốt đất, đầu cơ đất, nhiễu loạn thông tin quy hoạch đất, nhất là khu vựcvùng ven các đô thị lớn, gây nguy cơ “bong bóng tài sản” và rủi ro kinh tế vĩmô

Hoạt động tiêu thụ các mặt hàng nông sản, thủy sản tươi/đông lạnh và cótính thời vụ cao bị ảnh hưởng lớn; có tình trạng giá nông sản giảm tại chỗ, ứđọng hàng cục bộ nhưng giá bán nông sản tới người tiêu dùng trong nước khônggiảm Một số ngành, lĩnh vực khác chịu ảnh hưởng lớn thời kỳ đầu bùng phátdịch bệnh bao gồm dệt may và sản xuất da, các sản phẩm từ da, điện tử tiêudùng, sản xuất, lắp ráp ô-tô

Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo

về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người laođộng Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3% Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trongtháng 4-2020 Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vàotháng 4-2020” Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số

và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịutác động từ dịch bệnh lớn hơn Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN

Trang 19

WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu sốtrong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so vớimức tháng 12-2019 Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tínhkhoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa.Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tínhchỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019 Những con sốnày lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”COVID-19 tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnhhưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việclàm và thu nhập của người lao động Tuy nhiên, đứng trước cú sốc này, Nhànước nhanh chóng thực hiện các giải pháp mạnh, trước hết là để hạn chế sự lâylan của dịch bệnh, sau đó là để phát triển kinh tế Các giải pháp đã chứng tỏthành công bước đầu khi khống chế được dịch bệnh, không để lây lan trongcộng đồng trong thời gian dài (trên 3 tháng) và các hoạt động phát triển kinh tế -

xã hội, nhất là hoạt động du lịch cũng đang bắt đầu trên con đường khởi sắc trởlại

2 Vai trò của chính phủ trong đại dịch Covid-19

2.1 Vai trò c%a chính ph% trong nền kinh t(

2.1.1 Phân bổ nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

Mục tiêu kinh tế trọng tâm của chính phủ là hỗ trợ việc phân bổ nguồnlực để nâng cao hiệu quả kinh tế đạt mức như xã hội mong muốn Giải quyếtvấn đề này chính là chính phủ đã tập trung trả lời cho câu hỏi cái gì và như thếnào trong đời sống kinh tế Chính sách kinh tế ở các nước khác nhau sẽ khônggiống nhau, tùy thuộc vào phong tục tập quán và tư tưởng chính trị của nước đó.Biểu hiện của việc thực hiện chức năng này là việc chính phủ đứng ra cung cấpcác loại HHCC, điều tiết các luồng đầu tư vào các ngành, các vùng theo quyhoạch chung, khắc phục các thất bại của thị trường như độc quyền, ngoại ứnghay thông tin không đối xứng

a Độc quyền

Trang 20

 Độc quyền thường

Ở dạng thuần túy nhất, độc quyền thường là trạng thái thị trường chỉ códuy nhất một người sản xuất và bán ra sản phẩm không có loại hàng hóa nàothay thế gần gũi Mặc dù trên thực tế không có độc quyền thuần túy, vì các hànghóa nói chung đều ít nhiều có sản phẩm thay thế, nhưng những gì phân tích cho

mô hình độc quyền này sẽ giúp làm sáng tỏ tính phí hiệu quả của nó và sự cầnthiết của các biện pháp can thiệp của chính phủ

 Độc quyền tự nhiên

Độc quyền tự nhiên là tình trạng trong đó các yếu tố hàm chứa trong quátrình sản xuất đã cho phép hãng có thể liên tục giảm chi phí sản xuất khi qui môsản xuất mở rộng, do đó đã dẫn đến cách tổ chức sản xuất hiệu quả nhất là chỉthông qua một hãng duy nhất

Hình thức tổ chức sản xuất này thường hay thấy trong các ngành dịch vụcông như điện, nước, đường sắt Chẳng hạn, sẽ hết sức lãng phí nếu có haihãng đường sắt cùng hoạt động trên cùng một tuyến, vì khi đó sẽ cần hai hệthống đường ray Tương tự như thế, hai công ty cấp nước với hai mạng lướiđường ống khác nhau cùng phục vụ cho một địa bàn dân cư là một sự bố trí sảnxuất phi lý Khi đó, chính phủ có thể quyết định chỉ để một hãng cung cấp chotoàn bộ thị trường

b Ngoại ứng

 Ngoại ứng tiêu cực

Ngoại ứng tiêu cực là những chi phí áp đặt lên một đối tượng thứ ba(ngoài người mua và người bán trên thị trường), nhưng chi phí đó lại khôngđược phản ánh trong giá cả thị trường Ví dụ truyền thống về ngoại ứng tiêu cực

là các trường hợp gây ô nhiễm môi trường Khi một nhà máy trong quá trìnhhoạt động xả chất thải xuống một chiếc hồ, nó sẽ gây tổn hại đến sức khỏe chongười dân vùng hồ và giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động đánh cá trên hồ,nhưng nhà máy lại không phải đền bù cho những thiệt hại mà mình gây ra, vì

Trang 21

thế khi tính toán chi phí, họ không đưa những tổn hại này vào giá thành của sảnphẩm.

 Ngoại ứng tích cực

Ngoại ứng tích cực là những lợi ích mang lại cho bên thứ ba (không phải

là người mua và người bán), và lợi ích đó cũng không được phản ánh vào giábán Ví dụ, sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin không chỉ mang lạilợi nhuận khổng lồ cho các công ty máy tính và sự tiện lợi cho người sử dụng,

mà nó còn góp phần cải tiến năng suất lao động hoặc tạo ra những cuộc cáchmạng trong mọi mặt đời sống của nhân dân

Ngoại ứng, dù tích cực hay tiêu cực, đều có chung những đặc điểm sau:

 Chúng có thể do cả hoạt động sản xuất lẫn tiêu dùng gây ra Mộtnhà máy gây ô nhiễm là ngoại ứng tiêu cực do sản xuất Một cá nhân hút thuốc

lá làm nguy hiểm đến sức khỏe những người ngồi xung quanh là ngoại ứng tiêucực do tiêu dùng

 Trong ngoại ứng, việc ai là người gây tác hại (hay lợi ích) cho ainhiều khi chỉ mang tính tương đối Trong ví dụ về nhà máy xả chất thải ở trên,ngoại ứng không chỉ có thể nhìn dưới góc độ nhà máy gây thiệt hại cho ngư dân,

mà trái lại cũng có thể phân tích dưới góc độ ngư trường của nông dân đã thuhẹp địa bàn hoạt động của nhà máy Điều này sẽ thấy rõ hơn khi chúng ta phântích về định lý Coase ở phần sau

 Sự phân biệt giữa tính chất tích cực và tiêu cực của ngoại ứng chỉ

là tương đối Cùng một hoạt động ngoại ứng, nhưng nó được đánh giá là tốt hayxấu còn tùy thuộc vào quan điểm của những người chịu ảnh hưởng Ví dụ, một

lò nướng bánh có thể tạo ra ngoại ứng tích cực cho hàng xóm, nếu người bêncạnh có thể lợi dụng hơi nóng của lò cho hoạt động kinh doanh tây hấp quần áocủa mình Nhưng nó cũng có thể là ngoại ứng tiêu cực nếu nhà bên kinh doanhhàng đông lạnh

 Tất cả các ngoại ứng đều phi hiệu quả, nếu xét dưới quan điểm xãhội Khi xuất hiện ngoại ứng, hoặc chi phí biên hoặc lợi ích biến của tư nhân

Trang 22

không nhất trí với lợi ích biên hoặc chi phí biện xã hội Do đó, mức sản xuất tối

ưu thị trường cũng khác với mức hiệu quả xã hội Điều này sẽ được phân tích kỹkhi đi sâu vào từng trường hợp ngoại ứng

c Hàng hóa công cộng

Hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân nàyđang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người kháccùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó

Hàng hóa công cộng có hai thuộc tính Thứ nhất hàng hóa công cộngkhông có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Nói như vậy có nghĩa là khi có thêmmột người sử dụng hàng hóa Công cộng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùngcủa những người tiêu dùng hiện có Thuộc tính thứ hai của hàng hóa công cộng

là không có tính loại trừ trong tiêu dùng, có nghĩa là không thể loại trừ hoặc rấttốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân từ chối không chịu trả tiền cho việctiêu dùng của mình

Nếu cá nhân nhận thấy rằng việc mình có trả tiền để được quyền tiêudùng HHCC thuần túy hay không không ảnh hưởng đến việc hưởng thụ lợi íchcủa HHCC đó thì lúc đó họ đã trở thành những kẻ ăn không Kẻ ăn không lànhững người tìm cách hưởng thụ lợi ích của hàng hóa công cộng mà khôngđóng góp một đồng nào cho chi phí sản xuất và cung cấp hàng hóa công cộngđó

d Thông tin không đối xứng

Thông tin không đối xứng hay tình trạng xuất hiện trên thị trường khimột bên nào đó tham gia giao dịch thị trường có được thông tin đầy đủ hơn bênkia về các đặc tính của sản phẩm Trong trường hợp này thông tin không đượcxem xét như một hàng hóa, mà là thông tin về hàng hóa được chia sẻ giữa ngườimua và người bán, hoặc giữa người tạo ra ngoại ứng với các bên chịu tác độngcủa ngoại ứng

Trang 23

Chính phủ có thể tăng cường thêm độ tin cậy và hiệu lực cho các giảipháp tư nhân như ban hành các điều luật quy định tính trung thực của quảngcáo, xây dựng và đảm bảo hiệu lực thực thi của luật về bản quyền và sở hữu trítuệ nhằm qua đó bảo vệ thương hiệu của các doanh nghiệp làm ăn chân chính,chống hàng giả, hàng nhái.

Bên cạnh việc bảo vệ người sản xuất, chính phủ cũng có những biện phápbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Ví dụ chính phủ khuyến khích và đỡ đầu cho

sự hoạt động của các hiệp hội người tiêu dùng, thành lập các tòa án xét xử cáctranh chấp thương mại giữa người mua và người bán Cuối cùng, chính phủ cóthể trực tiếp đứng ra cung cấp thêm thông tin để hỗ trợ thị trường

2.1.2 Phân phối lại thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội

Ngay cả khi bàn tay vô hình của thị trường có hiệu quả thì nó vẫn có thểtạo ra những sự phân phối thu nhập cải tiến bình đẳng Khi quốc gia còn ở mứcphát triển hay, những nguồn lực ăn có dành cho việc phân phối lại còn rất hạnchế Nhưng khi da phát triển cao hơn thì cùng với sự thịnh vượng chung, chínhphủ cũng sẽ có khả năng đành nhiều nguồn lực hơn để cung cấp các dịch vu dongười nghèo Đây được coi là chức năng kinh tế lớn thư bài của chính phủ Phânphối lại thu nhập thường được thực hiện thông qua chính sách thuế khóa và chitiêu Mặc dù vậy, đôi khi chính phi van điều tiết trực tiếp bằng các mệnh lệnhhành chính

Bảng 2.1: Một số thước đo bất bình đẳng ở Việt Nam (2002-2010)

Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình các năm 2002,2004,2006,2008 và 2010

Trang 24

 Lý do can thiệp của chính phủ nhằm đảm bảo công bằng xã hội Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thịtrường có thể tác động đến phân bổ nguồn lực để nâng cao hiệu quả sử dụngnguồn lực xã hội, nhưng nó lại không tác động được gì để xã hội có công bằnghơn, trong khi đó thì công bằng và hiệu quả là hai mục tiêu cao nhất trong suốtquá trình phát triển của xã hội loài người Điều này đã thể hiện rất rõ qua nhữnghạn chế của tiêu chuẩn hiệu quả Pareto và Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúclợi Vì vậy, chính phủ phải can thiệp thông qua các công cụ và chính sách vềphân phối lại thu nhập mới có khả năng giảm bớt sự bất bình đẳng thu nhập xãhội.

Thứ hai, phân phối lại thu nhập tuy không làm tăng của cải chung của xãhội nhưng có khả năng làm tăng PLXH Đó là vì nếu mỗi cá nhân đều tuân theoquy luật độ thoả dụng biên giảm dần thì việc chuyển giao một đồng thu nhập từngười giàu sang cho người nghèo sẽ khiến người giàu mất đi một độ thỏa dụngnhất định, và người nghèo có thêm một độ thỏa dụng khác từ đồng thu nhập đó.Tuy nhiên, do thu nhập của người nghèo thấp nên độ thỏa dụng mà anh ta cóthêm sẽ lớn hơn độ thoả dụng mà người giàu (đang ở mức thu nhập cao) mất đi.Kết quả, tổng thỏa dụng của xã hội và tương ứng là tổng PLXH) sẽ tăng lên.Thứ ba, phân phối lại thu nhập có tác dụng động viên giúp đỡ ngườinghèo, qua đó giải tỏa tâm lý bất mãn, nghỉ ngỏ chính phủ và giảm bớt các tệnạn xã hội Do đó, phần phối lại thu nhập có thể được coi như đã tạo ra một loạiung tích cực

Từ những lý do cơ bản nêu trên, việc chính phủ phải can thiệp để nângcao sự bình đẳng trong phân phối thu nhập trở thành một điều cần thiết

2.1.3 Ổn định hóa kinh tế vĩ mô

a Chính sách tài khóa

Ngày nay, khi khoa học kinh tế đã phát triển mạnh, loài người đã có nhậnthức đầy đủ hơn về nguyên nhân gây ra lạm phát, thất nghiệp và các bất ổn định

Trang 25

kinh tế khác, cũng như khả năng can thiệp chủ động của chính phủ để khắc phụccác hiện tượng đó Vì thế, chính phủ hiện nay có trách nhiệm không để tái diễncác cuộc suy thoái hoặc khủng hoảng trầm trọng như những năm 1930 nữa.Công cụ để chính phủ thực hiện chức năng này là các chính sách tài khóa, tiền tệ

và sự giám sát chặt chẽ thị trường tài chính Ngoài ra, chính phủ còn tập trungvào việc hoạch định các chính sách thúc đẩy tăng trưởng dài hạn

 Chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa là quyết định của chính phủ về chi tiêu công và thuế

để hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn

Chính sách tài khóa có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ vàthuế

Khi nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái với tỉ lệ thất nghiệpcao Các tư nhân không muốn đầu tư, còn người tiêu dùng không muốn chi tiêuthêm Lúc này chính phủ có thể áp dụng chính sách tài khóa mở rộng bằng cáchtăng chi tiêu hoặc giảm thuế để mở rộng tổng cầu, giảm tỷ lệ thất nghiệp Lúcnày tổng cầu tăng, đầu tư ở khu vực tư nhân tăng đưa nền kinh tế trở lại điểmcân bằng

Trong trường hợp nền kinh tế đang ở trạng thái phát đạt quá mức, vớibiểu hiện là tỉ lệ lạm phát cao, thì chính phủ có thể áp dụng chính sách tài khóathắt chặt để kiềm chế bớt, bằng cách giảm chi tiêu hoặc tăng thuế Khi đó, tổngcầu giảm, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển xuống dưới, đưa nền kinh tế trở lạitrạng thái cân bằng

 Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là chính sách sử dụng các công cụ của hoạt động tíndụng và ngoại hối để ổn định nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển Công cụ của chính sách tiền tệ bao gồm các công cụ chủ yếu để điềuchỉnh mức cung tiền như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và lãisuất cho vay tái chiết khấu Các công cụ chính sách này sẽ tác động vào cung

Trang 26

tiền và lãi suất, rồi nhờ ảnh hưởng của lãi suất đến đầu tư mà tác động vào tổngcầu, từ đó đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng

Khi nền kinh tế ở trạng thái suy thoái với tỷ lệ thất nghiệp cao, chính phủ

có thể sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng bằng cách giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộchoặc giảm lãi suất chiết khấu Lúc này cung tiền tăng sẽ làm giảm lãi suấtkhuyến khích mở rộng đầu tư tư nhân, qua đó làm tăng tổng cầu, đưa nền kinh

tế về trạng thái cân bằng

Khi nền kinh tế ở trạng thái phát đạt quá mức, lạm phát cao, chính phủcần sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để giảm mức cung tiền bằng cách: tănglãi suất chiết khấu hoặc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc Lúc này mức cung tiền giảm,lãi suất tăng, chi phí cơ hội của việc giữ tiền tăng lên, các cá nhân sẽ có xuhướng giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm Hơn nữa khi lãi suất tăng, đầu tư ở khuvực tư nhân sẽ giảm, vì thế tổng cầu sẽ giảm, nền kinh tế trở lại trạng thái cânbằng

 Kiểm soát giá hàng hóa: Chính phủ có thể sử dụng các công cụnhư giá trần để kiểm soát giá của hàng hóa, đặc biệt đối với hàng hóa thiết yếu.Việc kiểm soát giá của hàng hóa là nhằm tác động gián tiếp tới thu nhập thực tế,qua đó điều tiết mức cung tiền trên thị trường

Trang 27

 Thuế thu nhập và trợ cấp: Chính phủ sử dụng thuế và trợ cấp đểtác động vào thu nhập của người lao động, gián tiếp tác động tới tổng cầu vàmức cung tiền, qua đó điều tiết nền kinh tế vĩ mô.

Khi nền kinh tế đang ở trạng thái lạm phát, giá hàng hóa tăng cao, sẽ làmgiảm tiền lương thực tế của người lao động Vì thế gây áp lực tăng lương đối vớidoanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tăng lương, chi phí đầu vào của họ sẽ tăng,khiến giá hàng hóa đầu ra cũng tăng theo, lạm phát càng thêm nghiêm trọng.Lúc này để tăng lương cho người lao động nhưng không tăng mức cung tiền,nhằm kiểm soát được lạm phát, chính phủ có thể tăng lương thực tế cho ngườilao động bằng cách giảm thuế thu nhập

Khi nền kinh tế trong tình trạng suy thoái, để khuyến khích phát triểnkinh tế, chính phủ có thể giảm thuế thu nhập cho người lao động Thu nhập thực

tế của người lao động sẽ tăng lên, làm tăng tiêu dùng và tổng cầu, góp phầnkhuyến khích đầu tư, đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái

 Chính sách thương mại quốc tế

Chính sách thương mại quốc tế là các biện pháp thích hợp được sử dụng

để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế trong một thời gian nhất định, nhằmđạt được mục tiêu nhất định

Công cụ của chính sách thương mại quốc tế: Thuế quan, hạn ngạchthương mại, giấy phép, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, các hàng rào kỹ thuật, trợcấp xuất khẩu, tín dụng xuất khẩu, bán giá phá, phá giá tiền tệ

Nếu quốc gia liên tục ở trong tình trạng nhập siêu sẽ khiến cho tỷ giátăng, giá của nguyên liệu nhập khẩu Sẽ vì thế tăng lên, qua đó gây áp lực tănggiá hàng hóa đầu ra và đẩy nền kinh tế tới nguy cơ lạm phát Mặc khác, việc tỷgiá tăng sẽ làm cho nợ danh nghĩa của quốc gia tăng lên, gây áp lực tăng thuế,làm cho thu nhập thực tế giảm, đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.Chính vì vậy chính phủ cần sử dụng chính sách thương mại quốc tế nhằmbảo hộ cho sản xuất trong nước và đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế Việc

Trang 28

chính phủ sử dụng chính sách thương mại quốc tế để bảo hộ cho sản xuất trongnước sẽ làm cho giá hàng hóa nhập khẩu đắt hơn so với hàng hóa trong nước, vìthế có thể làm giảm lượng hàng hóa nhập khẩu.

Khi nền kinh tế ở trạng thái lạm phát cao, chính phủ có thể giảm thuếnhập khẩu đối với các hàng hóa thiết yếu (như xăng dầu) và các nguyên liệu đầuvào Mặt khác, việc khuyến khích xuất khẩu sẽ đảm bảo nguồn ngoại tệ choquốc gia, giúp ổn định tỷ giá, qua đó kiểm soát được giá của nguyên nhiên liệunhập khẩu (đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nhập khẩu nhiều nguyênnhiên liệu) vì thế làm giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp, góp phần kiểmsoát giá hàng hóa đầu ra, giúp kiểm soát lạm phát

Khi nền kinh tế ở trạng thái suy thoái, chính phủ có thể sử dụng chínhsách thương mại quốc tế để hạn chế nhập khẩu, bảo hộ cho sản xuất trong nước,giúp mở rộng đầu tư, tăng tổng cầu, đưa nền kinh tế trở về trạng thái cân bằng

2.1.4 Đại diện cho quốc gia trên trường quốc tế

Trong những năm gần đây, thương mại và tài chính quốc tế đã trở nên hếtsức quan trọng Do đó, chính phủ đóng vai trò là đại diện cho quyền lợi quốc giatrên các diễn đàn quốc tế, và đàm phán các hiệp định cùng có lợi với quốc giakhác trên thế giới Các lĩnh vực thường xuất hiện trên các diễn đàn kinh tế quốc

tế ngày này là:

Tự do hóa thương mại Một phần trong các chính sách kinh tế là đàmphán giảm dần các rào cản thương mại, khuyến khích chuyên môn hóa và phâncông lao động quốc tế Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã tham giađàm phán về hàng loạt các hiệp định tự do hóa thương mại song phương và đaphương như Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), và đang chuẩn bị đểxin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Các chương trình hỗ trợ quốc tế Các nước giàu thường có nhiều chươngtrình hỗ trợ, giúp cải thiện cuộc sống cho người nghèo ở các nước khác Nhữngchương trình này có thể tiến hành dưới dạng viện trợ nước ngoài trực tiếp, cứu

Trang 29

trợ thiên tai và hỗ trợ kỹ thuật, cho vay ưu đãi, ưu đãi đối với hàng xuất khẩu từcác nước nghèo

Phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô Các quốc gia đều nhận thức được

sự phụ thuộc lẫn nhau và xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang ngàymột gia tăng Điều đó có nghĩa là các nước phải có sự phối hợp với nhau trongcác chính sách vĩ mô để chống lại lạm phát, thất nghiệp và khủng hoảng Sự rađời của đồng tiền chung Châu Âu vừa qua là một bằng chứng rõ nét về sự phốihợp chính sách của các nước trong Liên minh Châu Âu

Bảo vệ môi trường thế giới Khía cạnh gần đây nhất trong các chính sáchkinh tế quốc tế là sự phối hợp giữa các nước để bảo vệ môi trường ở những khuvực mà nhiều

2.2 Giải ph#p ứng phó c%a chính ph% với đại dịch Covid-19

2.2.1 Xây dựng pháp luật, các quy định và quy chế điều tiết

 Các cơ quan, đơn vị tăng cường làm việc trực tuyến, bố trí người đi làmluân phiên tại công sở

 Huy động mọi nguồn lực và cả hệ thống chính trị vào cuộc chiến phòng,chống đại dịch COVID-19

 Ban hành nhiều quyết sách nhanh chóng, kịp thời và quyết liệt, hiệu quả

và tạo sự công bằng trong xã hội

 Thông qua đạo luật để tăng cường năng lực phòng, chống Covid-19, bảo

vệ đời sống của người dân

 Kết hợp bảo hiệm y tế công và bảo hiểm y tế tư

 Giảm bớt áp lực lên hệ thống y tế công nhằm tránh việc quá tải do số canhiễm Covid 19 tăng cao

Trang 30

 Tăng quy mô xát nghiệm, cách ly, điều trị cùng với triển khai các biệnpháp phòng dịch với nhiều mức độ khác nhau: đeo khẩu trang, khử khuẩn, giãn cách xãhội, hạn chế đi lại, v.v

2.2.2 Ổn định và cải thiện các họat động kinh tế

Là những nỗ lực của chính phủ nhằm tối thiểu hóa các dao động kinh tếngắn hạn và tác động của nó vào nền kinh tế Ngoài ra còn có mục đích bảo đảmcông ăn việc làm đầy đủ, ngăn chặn sự ngưng trệ của nền kinh tế và duy trì lạmphát ở mức độ thấp Công cụ để chính phủ thực hiện chức năng này là các chínhsách tài khóa, tiền tệ và sự giám sắt chặt chẽ thị trường tài chính Ngoài ra,chính phủ còn tập trung vào việc hoạch định các chính sách thúc đẩy dài hạn

a Chính sách tiền tệ

 Là quá trình quản lýcung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ (có thể là ngânhàng trung ương), thường là hướng tới một lãi suất mong muốn để đạt được nhữngmục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giáhối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chính sách lưu thôngtiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếpthông qua các nghiệp vụ thị trường mở; quy định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổitrên thị trường ngoại hối, nhiều vấn đề khác…

 Áp dụng các biện pháp nhất quán, đồng bộ, thống nhất để duy trì cả cung

và cầu trên thị trường, duy trì sản xuất, cung ứng, lưu thông, vận chuyển hàng hóa, ổnđịnh thị trường tiêu dùng trong nước.Trên phương diện kinh tế, quan điểm chung là hỗtrợ doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh sẽphục vụ trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống xã hội

 Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động sản xuất, kinhdoanh

 Ngân hàng trung ương thay đổi các quy định để tăng tính thanh khoảncho thị trường, nới lỏng dự trữ bắt buộc của các ngân hàng

Trang 31

 Giảm tiền, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế tiêu thụ đặc biệt với ô-tô sảnxuất hoặc lắp ráp trong nước

 Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề, giảm mứcđóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, giảm cước viễn thông Có biệnpháp bảo đảm vận chuyển, lưu thông hàng hóa thông suốt, hiệu quả, khắc phục chuỗicung ứng, chuỗi giá trị bị gián đoạn

 Có chính sách hỗ trợ phí, cước vận chuyển đường hàng không và đườngbiển đối với các thị trường trọng điểm (Mỹ, châu Âu, Trung Đông) để tăng năng lựccạnh tranh và giảm chi phí giá thành cho doanh nghiệp

 Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng caonăng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, nâng cao năng lực tự chủ của nềnkinh tế phù hợp với những thay đổi sau đại dịch

 Chú trọng các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế số,kinh tế xanh, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã tăng tốc độ chuyển đổi số, đổi mới

mô hình kinh doanh, đổi mới công nghệ

 Tập trung phát triển mạnh thị trường trong nước, thực hiện có hiệu quảcác giải pháp kích thích tiêu dùng nội địa, tập trung kích cầu một số ngành, lĩnh vựcnhư du lịch, bán lẻ, vận tải, lưu trú, ăn uống

b Chính sách tài khóa

Chính sách tài khoá trong tiếng Anh được gọi là Fiscal policy, là chínhsách được chính phủ thực hiện nhằm can thiệp và điều tiết nền kinh tế Khichính phủ muốn can thiệp vào nền kinh tế, thông thường sẽ thực hiện các chínhsách như: chính sách tài khoá hoặc chính sách tiền tệ Để tránh lạm phát, cácchính phủ và ngân hàng trung ương thường tránh việc thực thi chính sách tiền tệ

mà thay vào đó sẽ sử dụng chính sách tài khóa phổ biến hơn

Trang 32

Chính sách tài khoá sẽ tập trung vào các chính sách về thuế hoặc chi tiêucủa chi phủ để điều tiết nền kinh tế để có được những mục tiêu về kinh tế vĩ mô.Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô thì chính sách tài khoá sẽ giúp tăng trưởng kinh tế,giảm thất nghiệp, ổn định giá cả và ổn định lạm phát.

Để dễ hình dung, bạn có thể xem chính sách tài khoá là một công cụđược dùng để can thiệp nền kinh tế trong kinh tế vĩ mô Công cụ này sẽ đượcthực hiện trên những chính sách về thuế hoặc chi tiêu chính phủ Công cụ nàyđược sử dụng để một nền kinh tế nhất định đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ

mô nhất định

Chính phủ đưa ra các gói kích thích tài khóa bao gồm:

 Giảm thuế và tiền thuê đất

 Khoản chi tiền mặt cho an sinh xã hội

 Lập quỹ nghiên cứu vaccine

 Cung cấp tiền cho chính quyền tiểu bang và địa phương để chống lại đạidịch Covid-19

 Cung cấp tiền cho các gia đình,

 Cung cấp tiền lương nghỉ ốm do tác động của dịch bệnh Covid-19 chonhân viên các công ty, doanh nghiệp nhỏ và vừa

 Trợ cấp và hỗ trợ các khoản phí cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

 Bổ sung quỹ cho vay, kinh phí cho các bệnh viện và thử nghiệm 19

Covid- Hỗ trợ đào tạo, tìm việc làm , tiền thưởng cho các nhân viên quay trở lại

Trang 33

Thông qua chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của các nước, có thểthấy rõ trong điều kiện suy giảm kinh tế kéo dài, doanh nghiệp phải ngừng sảnxuất, kinh doanh, người lao động mất việc làm, mất thu nhập, các giải pháp tiền

tệ và tài khóa của các Chính phủ có nhiều nét tương đồng, mặc dù, quy mô vàtính chất có khác nhau, tập trung vào hỗ trợ 07 đối tượng sau:

Thứ nhất, hỗ trợ người lao động bị mất và giảm việc làm, để họ có thểsống được và tiếp tục gắn bó với các doanh nghiệp mà họ đang làm việc.Thứ hai, hỗ trợ các doanh nghiệp, từ quy mô lớn (Hàng không) đến cácdoanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (người tự kinh doanh, hộ nông dân) để họ không

bị phá sản (không có khả năng trả nợ đến hạn, không trả được tiền thuê đất, thuêmặt bằng, không trả được tiền cho người lao động nghỉ ốm vì Covid-19, không

có tiền để duy trì hoạt động vì không trả được tiền lương cho người lao động…)

có đủ điều kiện tiếp tục sản xuất kinh doanh khi dịch bệnh giảm và kết thúc.Thứ ba, hỗ trợ người dân (người đã nghỉ hưu, trẻ em, người không đi làmviệc, người vô gia cư, người nuôi con nhỏ) có được thu nhập cần thiết để duy trìcuộc sống, nuôi dạy trẻ em, không bị tống ra khỏi nhà đang thuê vì không cókhả năng trả tiền nhà

Thứ tư, hỗ trợ ngành y tế và các nhân viên y tế để có thể mua sắm thiết

bị, thuốc men, vật tư phục vụ chống dịch, hỗ trợ người trực tiếp làm công tácchống dịch

Thứ năm, hỗ trợ các trường học để có kinh phí mua thiết bị, vật tư đểphòng, chống dịch ở các nhà trường và tiền lương cho các giáo viên

Thứ sáu, hỗ trợ các cơ sở văn hóa, các tổ chức hoạt động phúc lợi xã hội.Thứ bảy, hỗ trợ chính quyền các bang, các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương có đủ ngân sách để phòng, chống dịch và duy trì các hoạt động khithu ngân sách không đạt kế hoạch vì các đơn vị sản xuất kinh doanh phải ngừnghoạt động, người lao động không có lương đóng thuế thu nhập như bìnhthường

Trang 34

 Gói kích thích thứ hai ước tính 192 tỉ USD vào ngày18/3/2020 bao gồm: cung cáp tiền cho các gia đình, cung cấp gần 1 tỷ USD bảohiểm thất nghiệp, miễn phí kiểm tra Covid-19 cho tất cả mọi người.

 Gói kích thích thứ 3 trị giá 2300 tỉ USD vào ngày27/3/2020 bao gồm: thanh toán trực tiếp 1 lần bằng tiền mặt 1200 USD/người

và 500 USD cho trẻ em, mở rộng trợ cấp thất nghiệm mỗi tuần đến 31/7/2020,miễn phí phạt rút tiền sớm Chính phủ cho vay 500 tỷ USD đối với các công ty

bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 , 367 tỷ USD cho các khoản vay và viện trợkhông hoàn lại cho các doanh nghiệp nhỏ, hơn 130 tỷ USD cho các bệnh viện

và dịch vụ chăm sóc y tế sức khỏe, 150 tỉ USD cho các địa phương và 40 tỷUSD cho các trường học và đại học, lệnh cấm thế chấp và lệnh cấm tịch thu nhàđối với các khoản thế chấp được liên bang hậu thuẫn trong 180 ngày

Trang 35

Thực tế cho thấy, các nước đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sáchtài khóa và tiền tệ trong ứng phó với những tác động bất lợi từ đại dịch Covid-

19 Để tạo nguồn tài chính rẻ hơn cho các biện pháp cứu trợ Covid-19 củaChính phủ, một số nước như Hàn Quốc, Indonesia, Philippines cho phép Ngânhàng Trung ương mua trái phiếu Chính phủ từ thị trường sơ cấp/ thứ cấp Ởchiều ngược lại, một số nước thông qua Ngân hàng Trung ương hỗ trợ nguồn tàichính với lãi suất ưu đãi cho các tổ chức tín dụng để thực hiện công cụ tài chínhchuyển nhượng và thỏa thuận mua lại tài sản

Sự phối hợp chính sách còn được thể hiện rõ nét hơn trong việc hỗ trợkhu vực doanh nghiệp tiếp cận dòng vốn tín dụng thông qua cơ chế bảo lãnh củachính phủ (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…) Trong bối cảnh dư địa củachính sách tiền tệ dần bị thu hẹp khi lãi suất đã ở mức rất thấp, áp lực lạm phát

và nợ xấu gia tăng thì vai trò của chính sách tài khóa càng được gia tăng, trongkhi chính sách tiền tệ đóng vai trò hỗ trợ

2.2.3 Các biện pháp hỗ trợ nhằm phân phối lại thu nhập

Trong nhóm các biện pháp hỗ trợ xã hội, biện pháp hỗ trợ bằng tiền mặtđược các quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng tương đối rộng rãi, tương đươngkhoảng 31% GDP bình quân đầu người hằng tháng với quy mô tăng trưởng trợcấp trung bình đạt 92% trong đại dịch Có tổng số 734 biện pháp hỗ trợ tiền mặt

đã được lên kế hoạch hoặc triển khai tại 186 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đógần 69% là các chương trình trợ cấp mới

Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ khác như phiếu giảm giá hiện vật/tiền

ăn, miễn/hoãn thanh toán tiện ích và các nghĩa vụ tài chính… cũng được sửdụng Đây được xem là nhóm các biện pháp hữu ích nhằm hỗ trợ thu nhập bịgiảm sút của người lao động bị ảnh hưởng của dịch bệnh

Tiếp đó, nhóm chính sách bảo hiểm xã hội, bao gồm miễn/hỗ trợ đónggóp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, nghỉ ốm được hưởng lương, các biệnpháp liên quan tới lương hưu và hỗ trợ bảo hiểm y tế, cũng được các quốc gia và

Trang 36

vùng lãnh thổ sử dụng mạnh mẽ, tạo lưới an sinh an toàn cho người lao động bịmất việc, nghỉ giãn việc, dừng việc.

Đáng nói nhất là nhóm chính sách thị trường lao động tích cực bao gồm:(1) trợ cấp tiền lương; (2) điều chỉnh quy định lao động; (3) giảm thời gian làmviệc; và (4) đào tạo kỹ năng cho người lao động, giới thiệu việc làm

Có tất cả 806 biện pháp thuộc nhóm này và có 80% các quốc gia và vùnglãnh thổ thực hiện ít nhất 1 trong các biện pháp đưa ra Trợ cấp tiền lương vàđiều chỉnh các quy định lao động là 2 biện pháp được sử dụng rộng rãi và tươngđối sớm Việc sử dụng chúng phụ thuộc vào mức thu nhập của mỗi quốc gia.Hầu hết các nước đều tăng cường chi ngân sách hỗ trợ (16/16 nước thốngkê), kết hợp miễn, giảm, hoãn, gia hạn nộp thuế, phí các loại (15/16 nước thốngkê), nhiều nước cũng có hỗ trợ gián tiếp thông qua các biện pháp hỗ trợ lãi vay,thanh khoản, bảo lãnh (trên dưới 10 nước/16 nước thống kê)

Hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp cũng rất đa dạng, từ trợ cấp, hỗ trợthanh khoản (bơm vốn, bảo lãnh tín dụng; kéo dài thời gian áp dụng bảolãnh….); đến miễn giảm, cho phép giãn, hoãn khai, nộp thuế thu nhập doanhnghiệp, tiền thuế đất, thuê đất, các khoản đóng góp an sinh xã hội; không phạtcác khoản nộp trả chậm; nhiều nước giảm phí nhiên liệu bay, phí sân bay, bếncảng, nhà ga…

Trên thực tế, trong khi các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bìnhthấp tập trung nỗ lực vào việc sửa đổi các quy định lao động, thì các quốc gia vàvùng lãnh thổ có thu nhập trung bình cao và thu nhập cao lại ưa chuộng việcđưa ra các khoản trợ cấp tiền lương để giúp người sử dụng lao động giữ châncông nhân hoặc thuê mới người lao động, đặc biệt quan tâm tới các nhóm đốitượng dễ bị tổn thương

Ví dụ, Romania hỗ trợ các công ty ký hợp đồng không xác định thời hạnvới những lao động trên 50 tuổi Hoặc như Pháp với khoản thưởng 4.000EUR/năm cho doanh nghiệp với mỗi lao động dưới 26 tuổi

Trang 37

Chính phủ Hàn Quốc đã thiết lập “Lĩnh vực hỗ trợ việc làm đặc biệt” để

có những hỗ trợ đặc biệt cho người lao động cũng như người sử dụng lao động ởcác ngành nghề chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh

2.2.4 Các giải pháp nhằm phân bổ nguồn lực nâng cao hiệu quả kinh tế

Các chính phủ cũng triển khai nhóm các chính sách hỗ trợ đào tạo ngườilao động, định hướng người lao động vào các ngành nghề có nguy cơ thiếu hụtkhi nền kinh tế mở cửa trở lại, góp phần ngăn chặn tình trạng thất nghiệp quámức có thể cản trở sự phục hồi của thị trường và tạo điều kiện thuận lợi chophân bổ lại lao động, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Song song với với các chính sách phía cung lao động, 87% các quốc gia

và vùng lãnh thổ cũng triển khai đồng thời các chính sách về phía cầu như miễn,giảm thuế và các khoản tín dụng, hỗ trợ chi phí, cung cấp thanh khoản chodoanh nghiệp nhằm trang trải chi phí cho các doanh nghiệp và ngăn chặn phásản, khuyến khích khởi nghiệp, gián tiếp bảo vệ việc làm cho người lao động.Một số quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa ra các chính sách thị trường laođộng quan trọng mang tính trung và dài hạn để giải quyết các tác động kinh tếcủa đại dịch Covid-19

Ví dụ như ở Singapore, Chính phủ đã đưa ra gói hỗ trợ SGUnited Jobs &Skills nhằm hỗ trợ chuyển đổi, nâng cao kỹ năng và dịch vụ kết nối việc làmthúc đẩy tái phân bổ người lao động sang những lĩnh vực ít bị ảnh hưởng hơnđồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trả lương thuê mới lao động, đặc biệt là trong cáclĩnh vực hấp dẫn có triển vọng dài hạn, tạo việc làm mới hiệu quả

COVID-19 cũng đã tạo cơ hội cho các chính phủ xem xét lại cách thứchoạt động để có thể phục vụ người dân một cách tốt nhất thông qua: truyềnthông chủ động, minh bạch; trải nghiệm kỹ thuật số lấy người dân làm trung tâm

và tăng cơ hội tham gia trải nghiệm Ba động lực chính để so sánh sự tăngtrưởng về dịch vụ số giữa các chính quyền địa phương: sự tham gia của ngườidân, chuyển đổi kỹ thuật số và chống thông tin sai lệch

Trang 38

Một trong những điều quan trọng là các chính phủ phải cung cấp và cậpnhật thông tin kịp thời cho mọi người dân, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng,thông qua cổng thông tin quốc gia, ứng dụng di động hoặc qua các nền tảngmạng xã hội Đánh giá về cổng thông tin quốc gia của 193 quốc gia thành viênLiên hợp quốc ngày 25/3/2020 cho thấy: 57% (110 quốc gia) đã đưa một sốthông tin về COVID-19, trong khi khoảng 43% (83 quốc gia) đã không cung cấpbất kỳ thông tin nào; một phân tích cụ thể hơn cho thấy đến ngày 8/4/2020,khoảng 86% (167 quốc gia) đã đưa thông tin và hướng dẫn về COVID-19 vàocổng thông tin quốc gia.

Khủng hoảng COVID-19 cũng mang lại nhu cầu mới về các dịch vụ sốcủa chính phủ và gia tăng nhu cầu về các dịch vụ hiện có Một số Quốc giaThành viên của Liên Hiệp Quốc đã ghi nhận, do số lượng đơn xin thất nghiệp vàtrợ cấp xã hội tăng đột biến, kéo theo sự gia tăng việc sử dụng các dịch vụ trựctuyến như chứng minh kỹ thuật số và chữ ký điện tử

Trong một sáng kiến, các chính quyền địa phương ở Trung Quốc đã triểnkhai dịch vụ Mã QR cho sức khỏe thành phố thông qua nền tảng dịch vụ củachính phủ, dựa trên khai báo dữ liệu sức khỏe do người dân hoặc người lao độngtrở về cung cấp Mã QR có thể đăng nhập qua nhiều nền tảng di động côngcộng, chính quyền địa phương xác minh thông tin khai báo với dữ liệu y tế,hàng không dân dụng, đường sắt và các dữ liệu liên quan khác, đồng thời cấpgiấy chứng nhận điện tử về thông tin sức khỏe cá nhân Tại Hàn Quốc, ngoàiviệc lấy thông tin khai báo trực tiếp, các quan chức sử dụng dữ liệu vị trí từ điệnthoại di động, hồ sơ giao dịch thẻ tín dụng và video từ các máy quay an ninhCCTV để theo dõi và kiểm tra những người nghi ngờ nhiễm bệnh hoặc đã tiếpxúc với người bị nhiễm COVID-19 Bản đồ chi tiết cho thấy lịch sử đi lại củanhững người này cũng được công bố, từ đó thông báo cho những người có nguy

cơ đã tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh chủ động tiến hành đi xét nghiệm hoặc

có các biện pháp phòng tránh kịp thời

Nhiều chính phủ huy động các nền tảng mạng để kết nối với người dân.Một số khác hợp tác với những nhân vật có ảnh hưởng (Key opinion leader -

Trang 39

KOL) để phổ biến thông tin chính xác về COVID-19 và chống lại những thôngtin sai lệch có hại Những chiến dịch này đặc biệt tập trung vào việc tương tácvới thanh thiếu niên và trẻ em, những người rất dễ bị ảnh hưởng bởi tin giả và

có thể phải chịu hậu quả nặng nề của dịch Covid tác động lên sức khỏe, kinh tế

và tinh thần của cha mẹ chúng Ví dụ: Thủ tướng Na Uy Erna Solberg đã tổchức một cuộc họp báo trực tuyến với một phiên trao đổi dành riêng cho trẻ em

để giúp giảm bớt nỗi sợ hãi Trong COVID-19, dữ liệu mở và kết nối điện tử cóthể giúp xây dựng lòng tin của người dân vào các biện pháp ứng phó với khủnghoảng và hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội của chính phủ

2.2.5 Giải pháp nhằm đại diện quốc gia trên trường quốc tế

Trong thời điểm Covid-19 như hiện nay, các chương trình hỗ trợ quốc tếcàng được chú trọng Các nước giàu thường có nhiều chương trình hỗ trợ, giúpcải thiện cuộc sống cho người nghèo ở các nước khác

Cùng với Mỹ, nhiều quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Italia

và một số quốc gia châu Âu… đã đang tiến hành hỗ trợ vắc-xin cho các nướcnghèo Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide vừa thông báo nước này sẽ cungcấp bổ sung 30 triệu liều vắc-xin phòng Covid-19, nâng tổng số vắc-xin hỗ trợlên 60 triệu liều Trước đó, Nhật Bản đã bàn giao hơn 23 triệu liều vắc-xinphòng Covid-19 của AstraZeneca sản xuất trong nước, hơn một nửa trong sốnày đã được bàn giao trực tiếp cho Indonesia, Malaysia, Philippines, Đài Loan,Thái Lan và Việt Nam Tính đến tháng 9 năm nay, nước này đứng thứ 3 thế giới

về viện trợ vắc-xin phòng Covid-19, sau Mỹ và Trung Quốc, xếp trên Ấn Độ vàAnh

Theo hãng tin AFP của Pháp, tính đến nay, trên toàn thế giới đã có hơn 6

tỉ liều vắc-xin ngừa Covid-19 được tiêm cho người dân Nếu tính dân số toàncầu khoảng 7,8 tỉ người thì có gần 77% dân số được tiêm 1 liều vắc-xin Đó làcon số tính toán, tuy nhiên trên thực tế thì tỷ lệ này hoàn toàn khác biệt giữanước giàu và nước nghèo Trong số hơn 6 tỉ liều vắc-xin phòng Covid-19 đãđược tiêm chủng có gần 40% (tương đương 2,18 tỉ liều) được tiêm ở Trung

Trang 40

Quốc, sau đó là Ấn Độ 826,5 triệu liều và Mỹ 386,8 triệu liều Đây là 3 quốc gia

có số lượng tiêm chủng vắc-xin phòng Covid-19 cao nhất thế giới

Bên cạnh đó, các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đang đứngđầu về tỷ lệ tiêm chủng với 198 liều/100 người và hơn 81% dân số nước này đãđược tiêm chủng đầy đủ vắc-xin ngừa Covid-19 Tiếp đến là Uruguay với tỷ lệ

175 liều/100 người, Israel 171 liều/100 người, Cuba 163 liều/100 người, Qatar

162 liều/100 người và Bồ Đào Nha 154 liều/100 người Trong số những nướcnày, một số nước đã bắt đầu triển khai tiêm liều tăng cường (mũi thứ 3).Như vậy, các quốc gia có thu nhập cao tỷ lệ tiêm chủng trung bình ở mức

124 liều/100 người, trong khi tỷ lệ này ở các nước thu nhập thấp chỉ xấp xỉ 4liều/100 người Đây là sự bất bình đẳng giữa giàu và nghèo trong tiếp cận vắc-xin Nếu muốn miễn dịch cộng đồng từ vắc-xin, giải pháp bắt buộc hiện naychính là hỗ trợ thiết thực từ các nước giàu cho nước nghèo để nâng tỷ lệ tiêmvắc-xin đủ điều kiện cho phép mới hy vọng ngăn ngừa được đại dịch Covid-19.Đặc biệt, ta có thể thấy, cộng đồng ASEAN trong thời kì Covid-19 cũng

đã cùng nhau giúp ngăn chặn các rủi ro tồi tệ hơn của dịch bệnh, duy trì đà hợptác, đẩy mạnh nỗ lực phục hồi, tạo nền tảng cho phát triển bền vững trongnhững năm tới Hơn lúc nào hết, chống dịch đã trở thành trách nhiệm chungkhông của riêng ai

Ngay khi bùng phát dịch bệnh, các quốc gia thành viên ASEAN đã đặt ưutiên hàng đầu là bảo đảm an toàn cho người dân, hỗ trợ lẫn nhau và tạo điềukiện thuận lợi, giúp đỡ tối đa công dân ASEAN ở nước mình đang gặp khó khăn

do dịch bệnh Điều đó cho thấy, tinh thần đoàn kết và lớn hơn là sự hợp tác, phốihợp quốc tế là những thành tố thiết yếu hơn bao giờ hết

Quỹ ASEAN ứng phó Covid-19 được lập ra năm 2020 trong nhiệm kỳChủ tịch ASEAN của Việt Nam đã thu hút được hơn 20,8 triệu USD, là đónggóp của các nước ASEAN và đối tác của ASEAN ASEAN đã lên kế hoạch sửdụng 10,5 triệu USD từ Quỹ để mua vaccine (thông qua UNICEF và cơ chếCOVAX) hỗ trợ người dân các nước thành viên theo tỷ lệ đồng đều Tới nay,

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ số ca COVID-19 được xác nhận từ 12/1 - 29/2/2020 - (Tiểu luận) chính sách hỗ trợ an sinh xã hội chính sách hỗ trợ người dân,doanh nghiệp, người lao động với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng trong thờikỳ đại dịch covid 19
Hình 1.1 Bản đồ số ca COVID-19 được xác nhận từ 12/1 - 29/2/2020 (Trang 5)
Hình   1.2:   Bản   đồ   các   tỉnh   và   thành   phố   theo   số   ca   nhiễm   (tính   đến 19/1/2022) - (Tiểu luận) chính sách hỗ trợ an sinh xã hội chính sách hỗ trợ người dân,doanh nghiệp, người lao động với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng trong thờikỳ đại dịch covid 19
nh 1.2: Bản đồ các tỉnh và thành phố theo số ca nhiễm (tính đến 19/1/2022) (Trang 8)
Hình 1.3: Những làn sóng dịch tại Việt Nam (tính đến 8/12/2021) - (Tiểu luận) chính sách hỗ trợ an sinh xã hội chính sách hỗ trợ người dân,doanh nghiệp, người lao động với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng trong thờikỳ đại dịch covid 19
Hình 1.3 Những làn sóng dịch tại Việt Nam (tính đến 8/12/2021) (Trang 8)
Bảng 2.1: Một số thước đo bất bình đẳng ở Việt Nam (2002-2010) - (Tiểu luận) chính sách hỗ trợ an sinh xã hội chính sách hỗ trợ người dân,doanh nghiệp, người lao động với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng trong thờikỳ đại dịch covid 19
Bảng 2.1 Một số thước đo bất bình đẳng ở Việt Nam (2002-2010) (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w