Sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai.. Yếu tố con người tác động đáng kể đến sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai...9 3... S
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ HỌC
-*** -BÁO CÁO LỊCH SỬ KINH TẾ
Đề tài: Con người đem lại sự phát triển thần kỳ của kinh tế
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai .3
1.1 Giai đoạn khôi phục kinh tế (1946-1951) 3
1.1.1 Tình hình nước Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ hai 3
1.1.2 Tác động của các cuộc cải cách 3
1.1.3 Những yếu tố thuận lợi bên ngoài 4
1.1.4 Tác động 5
1.2 Giai đoạn 1952-1973: 5
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 5
1.2.2 Cơ cấu kinh tế: 6
1.2.3 Các ngành kinh tế: 7
1.2.4 Thu nhập quốc dân: 8
2 Yếu tố con người tác động đáng kể đến sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai 9
3 Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay 11
3.1 Việt Nam có nên học tập Nhật Bản ở điểm này không? 11
3.2 Tại sao VN hiện nay có nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng lại ko phát triển thần kỳ như Nhật? 13
3.2.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao thể hiện ở đâu? 13
3.2.2 Tại sao lại ko phát triển bằng Nhật? 14
KẾT BÀI 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3MỞ ĐẦU
Chiến tranh thế giới thứ hai phát động từ năm 1939 và kết thúc vàonăm 1945, với chiến thắng thuộc về phe Đồng minh Trong thời kỳ đó, phátxít Đức, Italia và Nhật Bản gặp thất bại toàn diện Hậu quả của cuộc chiếnnày là một thảm họa không thể tin được, vượt xa gấp đôi so với chiến tranhthế giới đầu tiên Nền kinh tế của các quốc gia bị tác động nặng nề, không chỉđối với những quốc gia tham gia trực tiếp mà còn lan rộng sang những quốcgia không tham chiến Hoạt động chính trị, kinh tế và đời sống xã hội củanhân dân bị đe dọa, chìm vào tình trạng không ổn định Do đó, sau chiếntranh thế giới thứ hai, các quốc gia bị ảnh hưởng buộc phải tập trung nguồnlực để khắc phục những hậu quả đặt ra bởi cuộc chiến đẫm máu đó
Nhật Bản là quốc gia trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn và biến độngtrong nhiều năm dài của lịch sử Đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ II,Nhật Bản, với vai trò là một nước phát xít bại trận, bị quân đội nước ngoàichiếm đóng, rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Thế nhưng họphục hồi rất nhanh và thậm chí chỉ trong 20 năm sau, nền kinh tế Nhật Bản đãđược đánh giá bước vào giai đoạn thần kỳ Sự phát triển đáng ngạc nhiên ấycủa Nhật Bản là một câu chuyện kỳ diệu của sự cải cách sáng tạo, kiên nhẫn
và nỗ lực không ngừng nghỉ Có 5 nhân tố chính dẫn tới “sự phát triển thần
kỳ” này của Nhật Bản, đó chính là: Con người, Nhà nước, Vốn, Khoa học –
Kỹ thuật và Mô hình doanh nghiệp Nhìn vào hành trình của đất nước này, ta
không thể không đề cập tới những yếu tố có tác động quan trọng, trong đó,
một trong số những yếu tố trọng yếu nhất phải kể đến chính là Con Người.
Trong cuộc đua không ngừng để vươn lên thành một trong những nền kinh tếhàng đầu thế giới, con người Nhật đã đóng vai trò không thể phủ nhận Họkhông chỉ là những người lao động chăm chỉ, mà còn là nguồn động viênquan trọng đằng sau sức mạnh kinh tế của quốc gia này
Mặc dù đã 77 năm kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc, nhiều yếu tốtrong quá trình phục hồi kinh tế của Nhật Bản vẫn còn phù hợp với xã hộichúng ta và có thể áp dụng cho các quốc gia mới thoát khỏi xung đột Do đó,
dưới đây, nhóm chúng em xin được trình bày về ảnh hưởng của nhân tố Con Người đến sự tăng trưởng vượt bậc về nền kinh tế của Nhật Bản trong giai
1
Trang 4đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai, từ đó làm rõ mối liên hệ đến sự pháttriển của Việt Nam hiện nay Trong bài làm có thể có nhiều sai sót, chúng emrất mong nhận được sự thông cảm cũng như những lời nhận xét, góp ý từthầy.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
2
Trang 51 Sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai
1.1 Giai đoạn khôi phục kinh tế (1946-1951)
1.1.1 Tình hình nước Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ hai
- Nhật Bản là nước bại trận: Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản là
nước thua trận, bị lực lượng Đồng Minh - đứng đầu là quân đội Mỹ chiếmđóng
- Tàn phá nghiêm trọng: Chiến tranh thế giới thứ hai đã gây ra tàn phá
nghiêm trọng cho Nhật Bản Khoảng 3 triệu người đã thiệt mạng hoặc mấttích, 40% đô thị và 80% tàu thuyền bị phá hủy
- Khủng hoảng kinh tế: Nhật Bản sau chiến tranh đối mặt với khủng hoảng
kinh tế nghiêm trọng Đất nước bị tàn phá, nguồn tài nguyên khan hiếm, thấtnghiệp gia tăng và kinh tế suy thoái
1.1.2 Tác động của các cuộc cải cách
Những điều kiện như vậy đã ép buộc Nhật Bản phải thực hiện một số cải cáchlớn:
(1) Thủ tiêu chế độ
kinh tế tập trung
- Giải thể các “zaibatsu”, các công ty lớn thành những công ty con độc lập
- Thực hiện cơ cấu lại các công ty theo hướng của
“centralization”
- Phá hủy quyền lực quân sự
- Xóa bỏ sự tập trung quá mức và độc quyền kinh tế của các tập đoàn tài phiệt
- Hình thành sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp
- Thúc đẩy tự do hóa kinh tế
(2) Cải cách ruộng
đất
- 1 địa chủ chỉ được giữ tối
đa 1ha, còn lại phải bán cho
- Xóa bỏ hình thức nộp
tô thuế cho người dân, 3
Trang 6các tá điền giúp họ có đất canh tác
- Có cơ hội được kỹ thuật mới trong trồng trọt
- Gia tăng sản lượng, thu nhập của người nông dân
- Tăng nhu cầu tiêu dùng, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp(3) Dân chủ hóa lao
động
- Thông qua ba đạo luật: côngđoàn, tiêu chuẩn lao động, điều chỉnh các quan hệ lao động trong giai đoạn 1945-1947
- Giải quyết vấn đề công việc: cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương cho công nhân
- Tăng số lượng công nhân tham gia công đoàn
- Đẩy mạnh các phong trào công đoàn
- Cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương cho người lao động
1.1.3 Những yếu tố thuận lợi bên ngoài
- Khoản viện trợ khổng lồ từ Mỹ theo hình thức vay nợ
- Các chính sách của Joseph Dodge: cân bằng ngân sách, giải quyết lạm phát, quy định tỷ giá cố định giữa Yên Nhật và USD (360 yên bằng 1 USD)
- Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ
1.1.4 Tác động
- Lợi nhuận khổng lồ từ việc thu mua hàng hóa đặc biệt trong cuộc chiếntranh Triều Tiên Đồng thời, kim ngạch xuất khẩu và sản xuất công nghiệpcũng tăng lên nhanh chóng, biểu hiện ở việc gia tăng sản lượng nhanh chóng
ở các ngành sản xuất se sợi, bột giấy, phân bón, sản phẩm tiêu dùng…; lao
4
Trang 7LMS - SV - KINH TẾ Trung QUỐC
lịch sử kinh
18
Kinh tế dương 2 bản chuẩn
lịch sử kinh tế None
23
BÀI TẬP ÔN TẬP CUỐI Chuyên ĐỀ 2lịch sử kinh tế None
9
LỊCH SỬ KINH TẾ Trung QUỐC
lịch sử kinh tế None
27
Trang 8động dư thừa có việc làm và sự hoạt động trở lại của các nhà máy thiếunguyên vật liệu.
- 1951: Các chỉ tiêu cơ bản như GNP, sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu đã bằng và vượt mức chiến tranh
Bảng 1 Ngoại thương và sản xuất thời gian diễn ra chiến tranh Triều
Tiên
Các khoản thu mua hàng đặc
biệt (triệu USD)
Chỉ số sản xuất công nghiệp
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
- Giai đoạn 1952-1968: GDP tăng bình quân 6.9% hàng năm
- Thập niên 1960: tốc độ tăng trưởng GDP đều trên 10% một năm, ngoại trừ năm 1962 và năm 1965 tốc độ tăng GDP bị sụt giảm
5
Stodocu - LSKTlịch sử kinh tế None
18
Trang 9Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm (%, giá cố định năm 1965)
Năm
Tốc độ tăng trưởng
Nguồn: Cục kế hoạch kinh tế Nhật Bản
- 1970: Quy mô nền kinh tế Nhật Bản đứng thứ 2 thế giới (GDP là 393,41 tỉ USD), đứng sau Mỹ (1361,14 tỉ USD); trên Đức (379,41 tỉ USD), Pháp (278,53 tỉ USD) và Anh (207,01 tỉ USD)
1.2.2 Cơ cấu kinh tế:
Bảng 2.1.3 Cơ cấu ngành kinh tế (%)
Trang 10Nguồn: Bộ công nghiệp và mậu dịch quốc tế (MITI)
- Ngành công nghiệp sản xuất chung: tốc độ tăng trưởng bình quân năm vềsản xuất công nghiệp giai đoạn 1950-1960 và giai đoạn 1960-1969 lần lượtđạt 15,9% và 13,5%
- Các ngành công nghiệp chế tạo: tăng trưởng với tốc độ cao (Giai đoạn1960-1968, giá trị sản lượng công nghiệp chế biến tăng 260%, công nghiệpđiện tử và hóa dầu tăng 3,4 lần; ngành chế tạo máy tăng 3,8 lần)
- Ngành công nghiệp ô tô: giai đoạn 1960-1967, Nhật Bản vươn lên vị trí thứhai sau Mỹ về ngành chế tạo ô tô Sản xuất xe chở khách tăng từ 700.000 xenăm 1965 lên 2,61 triệu xe và 4,47 triệu xe lần lượt ở hai năm 1969 và 1973
Số xe ô tô xuất khẩu cũng tăng từ 200.000 xe năm 1965 lên 840.000 xe năm
1969 và 2,09 triệu xe năm 1973
- Ngành sản xuất máy tính điện tử: mới ra đời nhưng phát triển nhanh vàtrở thành ngành xuất khẩu Trong giai đoạn 1965-1973, số lượng máy tính sản
7
Trang 11xuất tăng từ 4000 chiếc lên 450.000 chiếc (năm 1965) và hơn 10 triệu chiếc(năm 1973).
- Ngành nông nghiệp: số lao động nông nghiệp giảm 5,6 triệu người xuốngcòn 8,9 triệu người từ năm 1960 đến năm 1969 nhưng sản lượng và năng suấtlao động tăng nhanh, đạt tổng giá trị sản lượng nông-lâm-ngư nghiệp là 9 tỷUSD năm 1969
- Ngành dịch vụ: tốc độ tăng bình quân của khu vực này đạt 4%/năm từ năm
1955 đến năm 1970
- Ngoại thương: Từ năm 1950 đến 1971, kim ngạch ngoại thương tăng từ 1,7
tỉ USD lên 43,6 tỉ USD Đồng thời cơ cấu hàng xuất khẩu có sự tăng tỷ trọngcủa các sản phẩm công nghiệp nặng như thép, máy móc, đồ điện tử, ô tô…
Bảng 4 Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu (Đơn vị:%)
Năm Dệt Hóa
chất Thép
Kimloạikhác
Thiếtbịquanghọcvàvănphòng
Đàithuthanh,TV,máyghiâm
Ôtô
Tàuthủy
Máymóckhác
Cácsảnphẩmkhác
1970 12,5 6,4 14,7 5,0 3,8 7,9 6,9 7,3 20,4 15,2
Nguồn: Bộ Tài chính, Thống kê hải quan
1.2.4 Thu nhập quốc dân:
- 1972: thu nhập tính theo đầu người của Nhật Bản ước tính đạt 2300 USD,cao ngang nước Anh và gần bằng một nửa nước Mỹ
2 Yếu tố con người tác động đáng kể đến sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồitrong giai đoạn 1945-1954 và phát triển cao độ ở giai đoạn 1955-1973 (vớitốc độ phát triển GDP bình quân hàng năm khoảng 10%) Có rất nhiều nguyên
8
Trang 12nhân giúp Nhật Bản phát triển thần kỳ, trong số đó không thể không kể đếnyếu tố “con người”.
- Người Nhật Bản có những phẩm chất tuyệt vời:
+ Người Nhật tiết kiệm trong chi tiêu và cần cù trong lao động Do đó sau
30 năm từ một nước bị chiến tranh tàn phá họ trở thành một cườngquốc về kinh tế
+ Tinh thần làm việc tập thể: Đây là yếu tố đặc trưng vượt trội mà khôngtìm thấy được ở những quốc gia phương đông khác Trong đời sốngngười Nhật, tập thể đóng vai trò rất quan trọng Sự thành công hay thấtbại trong con mắt người Nhật đều là chuyện chung của nhóm và mọithành viên trong nhóm, bất kể anh ta đã làm ra sao, đều hưởng chung
sự cay đắng hay vinh quang mà nhóm đã đạt được tập thể, nhóm ở đây
có thể là công ty, trường học hay hội đoàn… Trong làm việc ngườiNhật thường gạt cái tôi lại để đề cao cái chung, tìm sự hài hòa giữamình và các thành viên khác trong tập thể Trong các buổi họp hànhngười Nhật thường ít cãi cọ hay dùng những từ có thể làm mất lòngngười khác Các tập thể (công ty, trường học hay đoàn thể chính trị) cóthể cạnh tranh với nhau gay gắt nhưng tuỳ theo hoàn cảnh và trườnghợp, các tập thể cũng có thể liên kết với nhau để đạt mục đích chung.Thí dụ điển hình là hai công ty Nhật có thể cạnh tranh với nhau ở trongnước Nhật nhưng khi ra nước ngoài hai công ty có thể bắt tay nhau đểcạnh tranh lại với một nước thứ ba của ngoại quốc
+ Lòng trung thành: Người Nhật luôn bị ràng buộc trong mối quan hệtrên dưới: một bên là sự bảo hộ, một bên là sự thuần phục và trungthành Mọi người đều có trách nhiệm tuân theo các nguyên tắc xử sự đểtránh sụp đổ hay đối địch Trong một công ty thì cống hiến trung thành,kiềm chế là một khẩu hiệu chủ chốt Trong khi người quản lý được yêucầu phải có tình thương thì công nhân được yêu cầu phải biết vâng lời,trung thành với chủ đề trên Hơn thế các công ty Nhật Bản tăng cườngsức mạnh của chính mình bằng cách nuôi dưỡng tình cảm trung thànhcủa các công nhân và bằng cách đào tạo họ hơn nữa Chính sự hài hòagiữa các nhân viên của công ty và sự hiến thân của họ cho công ty, chứ
9
Trang 13không phải sự cạnh tranh giữa các nhân công riêng lẻ, mới là điểmquan trọng Nhưng khi phải cạnh tranh với các địch thủ nước ngoài thìcác công ty Nhật lại đoàn kết thành một cơ thể thống nhất Như vậy xãhội Nhật Bản là một xã hội cạnh tranh quyết liệt nhưng không tạo ra sựcạnh tranh giữa các cá nhân, cá nhân phải làm việc quên mình cho cuộccạnh tranh của nhóm.
+ Thêm vào đó, Nhật Bản có triết lý coi trọng giáo dục và đào tạo Tinhthần “Cố gắng vươn lên, đuổi kịp và vượt qua các nước phát triển” củangười Nhật Bản lúc bấy giờ đã góp phần đưa nền giáo dục Nhật Bảnngày nay xếp thứ 2 thế giới về giáo dục người trưởng thành Chính phủNhật từ lâu đã xác định giáo dục phải gắn liền với lợi ích đời sống nhândân Vì vậy, các ngành đào tạo nghề tại Nhật Bản được đánh giá rất cao
- giáo dục hướng tới khoa học thực tiễn cho đời sống Đây chính làđiểm tiến bộ của nền giáo dục Nhật Bản đã đóng góp vào công cuộc đổimới to lớn và sự trỗi dậy mạnh mẽ của người Nhật
+ Đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật của Nhật Bản khá đông đảo, cóchất lượng cao, góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹthuật và công nghệ của đất nước
- Ngoài ra, các kế hoạch của các nhà quản lý cũng đóng vai trò quan trọng:Các nhà quản lý kinh doanh cũng được đánh giá là những người nhạy bén,biết nắm bắt thị trường và đổi mới phương pháp kinh doanh, đem đến nhữngthắng lợi của công ty Nhật trên trường quốc tế Phương thức quản trị kiểuNhật là chế độ làm việc suốt đời và chế độ lương thưởng thăng cấp theo thâmniên đã khiến cho các ông ty đảm bảo được số lượng nhân viên chất lượnggắn bó lâu dài với công ty, tạo động lực phát triển doanh nghiệp
10
Trang 143 Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
3.1 Việt Nam có nên học tập Nhật Bản ở điểm này không?
- Như đã phân tích ở trên, Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã cóbước phát triển “thần kỳ” là nhờ một phần không nhỏ của yếu tố con người.Bởi vậy, là một nước đang phát triển, Việt Nam cần học tập nước Nhật ở điểmnày Trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đạihóa và bối cảnh hội nhập sâu rộng giữa các quốc gia như hiện nay, việc pháttriển yếu tố con người là vô cùng cần thiết nhằm đưa đất nước tiến xa hơntrên trường quốc tế
Thực tế đã chứng minh: Từ khi đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định, con người là trung tâm của mọi chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội Do đó, việc phát huy nhân tố con người được coi là một nhiệm vụ trọng yếu, một khâu đột phá chiến lược.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta khẳng định: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng
về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ
xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” Như vậy, ở Đại hội này, phát huy nhân tố con người được hiểu
là sự bảo đảm giữa quyền và lợi ích của công dân; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; đáp ứng cả nhu cầu trước mắt và lợi ích lâu dài… Đây là một quan điểm khá toàn diện mở đường cho những quan điểm tiến bộ về phát huy nhân tố con người ở các kỳ Đại hội sau này.
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước; gắn vấn đề nhân tố con người với tinh thần nhân văn nhằm tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, sống trong một xã hội công bằng và nhân ái với những quan hệ xã hội lành mạnh Con người và sự phát triển con người được đặt vào vị trí trung tâm
11