1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) bài tập lớnlịch sử đảng cộng sản việt nam đề bài quan điểm của đảng về đối ngoạitừ đại hội iv đến đại hội xiii

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Điểm Của Đảng Về Đối Ngoại Từ Đại Hội IV Đến Đại Hội XIII
Tác giả Bùi Kiều Chi, Tràn Thị Minh Ánh, Trần Khánh Ngân, Trần Thị Mỹ Duyên, Nguyễn Mạnh Đức, Nguyễn Phương Nhung, Phan Ánh Duyên
Người hướng dẫn Ths. Phí Thị Lan Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn 1975 - 1986, sau khi hòa bình và thống nhất, để tiến hành công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước khắc phục đường lối đối ngoại “nh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -BÀI TẬP LỚN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỀ BÀI : QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ ĐỐI NGOẠI

TỪ ĐẠI HỘI IV ĐẾN ĐẠI HỘI XIII.

Lớp: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam_13

Giảng viên hướng dẫn: Ths Phí Thị Lan Phương

Nhóm: Đối Ngoại

Thành viên: 11211036 – Bùi Kiều Chi

11217666 – Tràn Thị Minh Ánh

11217719 – Trần Khánh Ngân

11218773 – Trần Thị Mỹ Duyên

11218450 – Nguyễn Mạnh Đức

11225029 – Nguyễn Phương Nhung

11221710 – Phan Ánh Duyên

Hà Nội, 2023 MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4

Trang 2

I Đại hội IV (12/1976) 4

II Đại hội V (từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982) 4

III Đại hội VI (từ ngày 15 - 18/12/1986) 5

IV Đại hội VII (từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991) 6

V Đại hội VIII (28/6-1/7/1996) 8

VI Đại hội IX (19 đến ngày 22-4-2001) 9

VII Đại hội X (18 - 25/4/2006) 10

VIII Đại hội XI (12-19/1/2011) 13

KẾT LUẬN 16

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tình hình thế giới và khu vực luôn có sự chuyển biến rất nhanh, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng phát triển sâu rộng với tốc độ chưa từng có, khoa học - công nghệ tiến bộ vượt bậc, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các nước, các khu vực, thay đổi sâu sắc nền kinh tế thế giới nói riêng và đời sống quốc tế nói chung Vì thế, Đường lối đối ngoại đối với mỗi quốc gia, dân tộc có vai trò rất quan trọng trong công tác ngoại giao của quốc gia, dân tộc đó, nó được xác định như

là kim chỉ nam cho công tác đối ngoại; quyết định sự thành bại của công tác đối ngoại Đối với Việt Nam cũng vậy, nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ của mình trong việc hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại phù hợp với từng thời kỳ lịch sử Trên cơ sở nắm vững các nhiệm vụ và nguyên tắc đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta đã xác định các nhiệm

vụ, đề ra đường lối, chính sách đối ngoại cho phù hợp với từng thời kỳ Đương nhiên trong quá trình đó, chắc chắn có rất nhiều khó khăn vất vả cần có một đường lối chuẩn xác, sự lãnh đạo từ Đảng và Nhà nước Để làm rõ hơn về quan điểm đối ngoại của Đảng

Bốn nguyên tắc cụ thể trong hoạt động đối ngoại là: tôn trọng độc lập, chủ quyền và

toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi

Trang 4

NỘI DUNG

I Đại hội IV (12/1976)

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất, thực hiện chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa Trước những yêu cầu mới của cách mạng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã được triệu tập

Trong giai đoạn 1975 - 1986, sau khi hòa bình và thống nhất, để tiến hành công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước khắc phục đường lối đối ngoại “nhất biên đảo” và tăng cường mở rộng quan hệ với tất cả các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

Bối cảnh lịch sử:

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV diễn ra trong bối cảnh cuộc Kháng chiến chống Mỹ đã đạt được thắng lợi Hai miền Nam Bắc thống nhất sau hơn 20 năm chia cắt từ Hiệp định Geneve 1954 bằng việc hiệp thương của hai nhà nước tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam từ sau 30 tháng 4 năm 1975 là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

Nhiệm vụ:

 Cần ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH ở nước ta, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học - kỹ thuật, củng cố quốc phòng

 Coi trọng nhiệm vụ quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng, củng cố quan hệ đặc biệt với Lào và Campuchia, đẩy mạnh hợp tác với Liên Xô

Tình hình thực tế:

 18/12/1979, Việt Nam và Campuchia ký Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác Theo Hiệp ước, quân đội Việt Nam có mặt ở Campuchia để giúp bạn bảo

vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và hồi sinh đất nước Hành động đó của Việt Nam là chính nghĩa và xuất phát từ nhu cầu tự vệ chính đáng được ghi nhận trong Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc, được nhân dân Campuchia và thế giới ghi nhận

 Năm 1978, Trung Quốc tuyên bố rút chuyên gia, cắt viện trợ cho Việt Nam, liên tiếp lấn chiếm dẫn đến xung đột trên biên giới phía Bắc Việt Nam đã làm cho quan hệ Trung Quốc - Việt Nam xấu đi rõ rệt

II Đại hội V (từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982)

Bối cảnh lịch sử:

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V diễn ra trong bối cảnh kinh tế đất nước sau

5 năm Kháng chiến chống Mỹ đang gặp những trì trệ nghiêm trọng Bên cạnh đó Việt Nam đang đóng quân ở Campuchia sau Chiến tranh biên giới Tây Nam từ năm 1979

và quan hệ Việt Nam Trung Quốc – bị đổ vỡ sau Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979

Trung Quốc tiến hành hoạt động phá hoại biên giới trên bộ và trên biển thường xuyên

Nhiệm vụ:

Trang 5

Công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chính sách của các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta

III Đại hội VI (từ ngày 15 - 18/12/1986)

Bối cảnh lịch sử:

 15-18/12/1986, Hà Nội, bối cảnh cuộc cách mạng KH-KT đang phát triển mạnh, xu thế đối thoại trên thế giới đang dần thay thế xu hướng đối đầu

 Liên Xô và các nước XHCN tiến hành cải tổ sự nghiệp xây dựng CNXH

 Việt Nam bị đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận, khủng hoảng Đối ngoại góp phần quan trọng vào việc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước CNXH, bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vì lợi ích nhân dân 2 nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt giữa 3 nước Đông Dương

Nhiệm vụ:

Phương châm cơ bản của đường lối đối ngoại được xác định năm 1986 là đa dạng hoá các hoạt động và đa phương hoá các quan hệ đối ngoại Theo đó, ngoài việc tiếp tục và tăng cường quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, hai nước trên bán đảo Đông Dương, thì cũng cần mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác

trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới Trong Văn kiện năm 1986 ghi rõ “Sử

dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Khó khăn:

Trong quá trình thực hiện nghị quyết đại hội VI, tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng Công cuộc cải tổ ở Liên Xô, các nước XHCN ở Đông Âu ngày càng rơi vào khủng hoảng và sụp đổ hoàn toàn (12/1991) Sự sụp đổ đó gây tác động bất lợi nhiều mặt đối với thế giới và Việt Nam Viện trợ kinh tế giữa Liên Xô và các nước Đông Âu với nước ta bị thu hẹp nhanh Trên diễn đàn quốc tế, Mỹ và các thế lực thù địch lấy cớ quân tình nguyện Việt Nam chưa rút khỏi Campuchia, tiếp tục bao vây, cấm vận, tuyên truyền chống Việt Nam Họ dung dưỡng các tổ chức phản động người Việt từ nước ngoài trở về Việt Nam gây bạo loạn, lật đổ Trên một số vùng biên giới phía Bắc diễn biến phức tạp, căng thẳng Cao điểm nhất, 3/1988, Trung Quốc cho quân đội chiếm đảo Gạc Ma và các bãi cạn Châu Viên, Chữ Thập, Tư Nghĩa… ở quần đảo Trường Sa Việt Nam Trên thực tế cuộc chiến tranh chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc đã kéo dài 10 năm, 1979-1989

Điểm mới:

Từ những sự khủng hoảng đó, đổi mới nhận thức về mô hình và con đường xây dựng CNXH, phải tích cực đổi mới, nâng cao trình độ lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, cần cảnh giác và kiên quyết chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và thế lực thù địch

Từ 1990, Đảng và Nhà nước có những chủ trương đổi mới về quan hệ ngoại giao: “Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm thêm bạn, bớt thù, giữ

Trang 6

vững hoà bình, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trước hết là bình thường hoá quan

hệ Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Hoa Kỳ, từng bước xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á, thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước châu Âu Quan điểm của Đảng và Nhà nước là sớm tiến hành những bước đầu tiên giải quyết bất đồng với các nước nhưng luôn kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Đến 5/1988, tuyên bố rút quân và Bộ Tư lệnh quân tình nguyện về nước vào 9/1989, sớm hơn 1 năm so với kế hoạch

Đối ngoại góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc vì lợi ích nhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới

Từ 1990, Đảng và Nhà nước có những chủ trương đổi mới về quan hệ đối ngoại, đó là:

 Ưu tiên giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế

 Kiên quyết thực hiện chính sách “thêm bạn, bớt thù”

 Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, vì hoà bình và phát triển ở khu vực và trên thế giới)

Đánh giá:

Chính sách của Đảng tại Đại hội VI phù hợp với bối cảnh thế giới đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bởi thời điểm ấy, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế của thời đại, diễn ra mạnh mẽ trên nhiều phương diện với sự xuất hiện của nhiều khối kinh tế, mậu dịch trên thế giới

IV Đại hội VII (từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991)

Bối cảnh lịch sử:

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII diễn ra trong bối cảnh đất nước đang thực hiện công cuộc Đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI và đạt được những thắng lợi bước đầu, được nhân dân và quốc tế ủng hộ Tình hình quốc

tế và trong nước lúc bấy giờ có nhiều biến chuyển phức tạp, nhất là sự sụp đổ của khối

Đông Âu và cuộc khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô

Nhiệm vụ:

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng ta xác định trọng tâm của công tác đối ngoại là tiếp tục tạo môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Với những nội dung được quyết nghị, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII được đánh giá là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới - dân chủ - kỷ cương - đoàn kết”

Hoạt động:

Những chủ trương trên đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, độc lập chủ quyền và môi trường hòa bình của đất nước, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới

 Từ tháng 11/1991, Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, từng bước khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt; tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với Lào; xây dựng quan hệ tốt với Campuchia; phát triển quan hệ với các nước trong khu vực, trở thành thành

Trang 7

Discover more

from:

lsđ01

Document continues below

Lịch sử Đảng

CSVN

Đại học Kinh tế…

999+ documents

Go to course

Trắc nghiệm lịch sử Đảng chương 1 phầ…

Lịch sử

Đảng… 100% (39)

15

Trắc nghiệm lịch sử Đảng chương 1 phầ…

Lịch sử

Đảng… 100% (16)

20

Bài tập lớn LS Đảng -vai trò lãnh đạo của…

Lịch sử

Đảng… 100% (14)

12

Đại hội VI,đại hội VII -Đại hội VI và -Đại hội…

Lịch sử

Đảng… 100% (14)

14

Trang 8

viên đầy đủ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ngày 28/7/1995 (ASEAN)

và thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ ngày 11/07/1995

 Ngày 28/7/1994, Việt Nam phê chuẩn tham gia Công ước về Luật biển năm

1982 của Liên hợp quốc

 Đến cuối năm 1995, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 160 nước, quan hệ thương mại quốc tế buôn bán với trên 100 nước… Các công ty của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay để phát triển

 Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới: Hợp tác bình đẳng và cùng

có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình

 Ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào cách mạng trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại Đảng Cộng sản Việt Nam sẵn sàng thiết lập và mở rộng mối quan hệ với các đảng và các lực lượng đấu tranh chống các thế lực hiếu chiến, xâm lược, áp bức bóc lột các nước chậm tiến, vì hoà bình thế giới và tiến bộ xã hội Tham gia tích cực các tổ chức quốc tế và phong trào không liên kết vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển

Điểm mới:

Trong nhiệm kỳ Đại hội VII, quá trình đổi mới tư duy về đối ngoại đa phương của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rất rõ tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VII(năm 1992) Hội nghị đã chỉ ra nhiệm vụ trước mắt là khai thông mối quan hệ với các cơ chế đa phương trên thế giới như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB); mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp tác khu vực, trước hết là khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà trước tiên là ASEAN Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VII đã đánh dấu bước tiến mới trong tư duy

về ngoại giao đa phương của Đảng, đó là mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều nước, nhiều tổ chức khu vực và thế giới, không phân biệt chế độ chính trị cũng như trình độ phát triển

Thành tựu:

Từ những thành công trong thực tiễn triển khai chủ trương “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế” tại Đại hội VII, cụ thể là việc khai thông quan hệ với các thiết chế kinh tế - tài chính thế giới; các tổ chức quốc tế, khu vực; đặc biệt là một số nước lớn có vai trò quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản…

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt những thắng lợi nổi bật trên nhiều mặt Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện Dân chủ được phát huy Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ của đất nước, với Đảng và Nhà nước được khẳng định Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh

tế - xã hội

[123doc] - bai-thu-hoach-lop-cam-…

Lịch sử Đảng… 100% (12)

27

Lịch sử Đảng - Tại sao nói, sau cách…

Lịch sử Đảng… 100% (12)

16

Trang 9

Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đạt được thành tựu to lớn: bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (7/1995), gia nhập ASEAN (7/1995) góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

V Đại hội VIII (28/6-1/7/1996)

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII hay Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996 ở Hà Nội Tham dự đại hội có tất cả là 1.198 đại biểu chính thức thay mặt cho 2.130.000 đảng viên cả nước

Bối cảnh lịch sử:

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII diễn ra trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển với trình độ cao hơn, chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào Sau 10 năm đổi mới, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi bước đầu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, phá được thế bị bao vây, cô lập Tuy vậy, nước ta vẫn là nước nghèo, kém phát triển,

xã hội còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết

Hoạt động:

 Về hoạt động song phương: Từ cuối năm 1995 đến nay, Quốc hội ta đã tiến hành nhiều hoạt động đối ngoại với sự tham gia của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và Tổ chức Nghị sĩ Việt Nam hữu nghị với các nước Đoàn đại biểu Quốc hội nước ta do Chủ tịch Quốc hội dẫn đầu, đã đi thăm hữu nghị chính thức một số nước ở châu Á hoàn thành việc thiết lập quan hệ toàn diện và trao đổi các đoàn cấp cao với các nước thành viên AIPO Đoàn đại biểu Nghị viện châu u, Quốc hội cấp cao các nước Ba Lan, Bungari, Thái Lan, Hàn Quốc

và Ôxtrâylia do Chủ tịch Thượng nghị viện và Hạ nghị viện dẫn đầu đã sang thăm hữu nghị chính thức nước ta năm 1996, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ giữa Quốc hội ta với Quốc hội các nước Các cuộc gặp gỡ, trao đổi giữa các vị lãnh đạo cấp cao Quốc hội các nước đã tạo ra cơ sở, đặt nền móng cho việc thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác lâu dài giữa Quốc hội ta với Quốc hội các nước, góp phần thúc đẩy các quan hệ Chính phủ đi vào chiều sâu trong hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa và khoa học kỹ thuật Đến nay, Quốc hội nước ta đã thiết lập quan hệ với Quốc hội 137 nước

 Về hoạt động đa phương: Ngày nay, hoạt động đối ngoại của Quốc hội các nước có xu hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ Nền ngoại giao nghị viện thực sự có vị trí quan trọng trên trường quốc tế, bởi vì, ngoại giao nghị viện vừa mang tính chất Nhà nước, vừa mang tính chất nhân dân, đại diện cho lợi ích chung của các xu hướng chính trị khác nhau của các dân tộc Thời gian qua, theo phương thức hoạt động ngoại giao nghị viện, Quốc hội ta đã đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại Nhà nước và đối ngoại nhân dân để tạo nên một sức mạnh tổng hợp trên mặt trận quan trọng này

 Quốc hội ta đã có nhiều cố gắng, tham gia có hiệu quả vào hoạt động của các tổ chức và cơ chế hợp tác nghị viện quốc tế và khu vực Quốc hội ta hiện là thành viên chính thức của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Liên minh Nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPO), Liên minh Nghị sĩ các nước có sử dụng tiếng Pháp (AIPLF) và là quan sát viên của Tổ chức Liên minh Nghị sĩ châu Á - Thái Bình Dương (APPU)

Trang 10

 Việc Quốc hội ta gia nhập AIPO là phù hợp với chủ trương đẩy mạnh hợp tác khu vực cũng như từng bước hội nhập với các quốc gia thuộc cộng đồng Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dương và thế giới Cơ chế hợp tác liên Nghị viện khu vực AIPO thực sự đóng góp tích cực và có hiệu quả trong hợp tác nhiều mặt giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực, thúc đẩy Chính phủ các nước thực hiện tốt hơn các chương trình hợp tác song phương và đa phương Việc Quốc hội ta gia nhập AIPO còn có ý nghĩa quan trọng nữa là thông qua cơ chế này, các nước thành viên ASEAN bắt tay xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp với thực tế và tinh thần chung của khu vực, vừa bảo vệ lợi ích của mỗi dân tộc, vừa tạo điều kiện môi trường thuận lợi thúc đẩy Chính phủ và các nhà doanh nghiệp trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư

 Một sự kiện đáng chú ý là tháng 2-1996, Quốc hội ta đã đăng cai tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Liên minh nghị sĩ các nước sử dụng tiếng Pháp (AIPLF) tại Hà Nội với sự tham gia của các đoàn đại biểu Quốc hội 14 nước từ khắp các châu lục, trong đó có nhiều Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội Đây là lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức một hội nghị quốc tế tại Việt Nam với tầm cỡ lớn về số lượng và về tầm quan trọng của cuộc họp cũng như thành phần dự họp Hội nghị đã thành công và gây nhiều ấn tượng tốt đối với đại biểu Quốc hội các nước, giúp họ hiểu biết thêm về đất nước và con người Việt Nam Qua đó, đóng góp kinh nghiệm cho Hội nghị cấp cao các nước sử dụng tiếng Pháp sẽ tổ chức tại Việt Nam trong năm 1996

 Bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên

 Xuất phát từ đặc điểm tình hình đất nước và từ nhận định Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội cũng như căn cứ vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh nước ta đã chuyển sang thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thành tựu:

 Sau 10 năm đổi mới, quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ, phá được thế bị bao vây, cô lập, tham gia tích cực vào cộng đồng quốc tế

 Công tác đối ngoại của Nhà nước ta trong năm 1996 vừa qua đã đạt được những thành tựu quan trọng Sau khi gia nhập những cơ chế hợp tác khu vực ASEAN và tổ chức Liên minh Nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPO), Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã tiến hành hàng loạt những hoạt động đối ngoại tiếp theo nhằm thực hiện một cách có hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác quốc tế Hoạt động đối ngoại của Nhà nước ta đã được thực hiện một cách đồng bộ, với sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ góp phần củng cố và nâng cao vị thế của Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 Một số hoạt động đối ngoại chính của Quốc hội đã được tiến hành đồng bộ với hoạt động chung của Đảng, Nhà nước ta trong năm 1996, đóng góp thiết thực

và hiệu quả vào thành tựu đối ngoại chung

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN - (Tiểu luận) bài tập lớnlịch sử đảng cộng sản việt nam đề bài quan điểm của đảng về đối ngoạitừ đại hội iv đến đại hội xiii
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w