1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Quản Trị Doanh Nghiệp - Đề Tài - Quản Trị Doạnh Nghiệp Cho Ý Tưởng Thành Lập Doanh Nghiệp Tư Nhân Sản Xuất Bánh Kẹo

21 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Doanh Nghiệp Cho Ý Tưởng Thành Lập Doanh Nghiệp Tư Nhân Sản Xuất Bánh Kẹo
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Trị Doanh Nghiệp
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức: tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không phân biệt nơi đăng ký địa chỉ trụ sở chính nếu không thuộc đối tượng bị cấm đều

Trang 1

Bài tập lớn: Quản trị doanh nghiệp

ĐỀ TÀI Quản trị doạnh nghiệp cho ý tưởng thành lập doanh

nghiệp tư nhân sản xuất bánh kẹo.

Trang 2

Giới thiệu tổng quát về loại hình và hình thức kinh doanh

A Doanh nghiệp tư nhân

B Mặt hàng kinh doanh: Bánh kẹo (Bánh bao, bánh trung thu)

C Nhân sự: 100

1 Đây là con số phổ thông cho những doanh nghiệp tư nhân với mục đích hoạt động là sản xuất chủ yếu

D Vai trò:

1 Công nhân (Chiếm đa số)

2 Quản lý công nhân

3 Điều hành - Chủ sở hữu

E Nguyên nhân thành lập công ty

1 Ý tưởng kinh doanh cụ thể

Là 1 doanh nghiệp tư nhân và mặt hàng kinh doanh là Bánh bao và bánh trung thu (Với bánh bao là sản phẩm quanh năm) Lý do chọn 2 mặt hàng này là vì … do nhóm mình thích

1 Tại sao là doanh nghiệp tư nhân?

Với thị phần nhắm đến khoảng 4-8% bánh bao và trung thu tại Hải Phòng thì mìnhnghĩ Doanh nghiệp tư nhân là một lựa chọn hợp lý Với mô hình kinh doanh này, doanh nghiệp chưa đủ lớn để thành công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần nhưng với loại hình Doanh nghiệp tư nhân thì đủ lớn để có thể thực thi được

ý tưởng này

1 Tại sao nhân sự là 100 người?

Mình nghĩ 100 là con số không quá lớn để có thể quản lý được, cũng không

phải con số quá nhỏ so với ý tưởng là 4-8% thị phần bánh bao và bánh trung thu của Hải Phòng

1 Tại sao có 3 cấp bậc?

Vì mô hình cũng không quá phức tạp nên nhóm chỉ chia ra thành 3 cấp độ Công nhân, Quản lý và Điều hành Trong đó người điều hành chính là chủ sở hữu, dưới

họ là khoảng 5 người quản lý và còn lại là công nhân của xưởng

Tên công ty: Công ty cổ phần MISFBM.

Trang 3

Lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất và cung ứng bánh kẹo.

✔ Phòng tài chính: Sử dụng tối ưu hóa nguồn vốn

✔ Phòng kỹ thuật: Cải tiến dây chuyền sản xuất Tạo sản phẩm tốt nhất về chất lượng

Hoạch định kinh doanh:

Đối tượng khách hàng: Giá cả hợp lý, phù hợp với thu nhập trung bình của các hộ gia đình ở Việt Nam

Năm nhất: Đưa sản phẩm tiếp cận nhiều nhất, tạo được thương hiệu

trong khách hàng

Các năm tiếp theo: Tiếp tục tiếp thị sản phẩm và thu lợi nhuận.

SLOGAN: Ăn là nhớ mãi.

Sứ mệnh:

✔ Sứ mệnh đối với khách hàng: Tạo dựng niềm tin, hài lòng về chất lượng sản

phẩm cho khách hàng

✔ Sứ mệnh đối với người lao động: Xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp,

nhân văn Tạo cơ hội phát triển cho lao động Việt Nam

✔ Sứ mệnh đối với cộng đồng: Lợi ích công ty đi kèm với lợi ích cộng đồng.

✔ Sứ mệnh đối với cổ đông: Nâng cao giá trị gia tăng lĩnh vực hoạt động của Công

ty và đồng thời đảm bảo hiệu quả cao nhất, đạt được lợi ích tối đa cho cổ đông

Bộ máy doanh nghiệp:

● CEO : Thúy

● Trưởng phòng Tài chính: Yến

● Trưởng phòng Marketing Hoàng

Trang 4

● Trưởng phòng Nhân sự Thùy

CTCP có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định;

CTCP được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh

1.2 Đặc điểm pháp lý đặc trưng của công ty cổ phần

Bên cạnh những đặc điểm chung giống các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP còn có những điểm đặc thù mà thông qua đó có thể phân biệt với doanh nghiệp khác

Vốn điều lệ:

Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn Vốn điều lệ công ty cổ phần chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần (Điểm a, Khoản 1, Điều 110 LDN) Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được thể hiện trong cổ phiếu Một cổ phiếu cóthể thể hiện mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần

– Cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty gọi là cổ đông (Khoản 2, Điều

4 LDN)

– Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lương cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế

số lương tối đa (Điểm b, Khoản 1, Điều 110 LDN)

Cá nhân: không phân biệt nơi cư trú và quốc tịch, nếu không thuộc đối tượng quy định tạiKhoản 2 Điều 18 LDN đều có quyền thành lập, tham gia thành lập CTCP; nếu không

Trang 5

thuộc đối tượng quy định tại Khoản 3 Điều 18 LDN thì có quyền mua cổ phần của công

ty cổ phần

Tổ chức: tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không phân biệt nơi đăng ký địa chỉ trụ sở chính nếu không thuộc đối tượng bị cấm đều có quyền thành lập, tham gia thành lập công ty cổ phần, có quyền mua

cổ phần của CTCP

Các cổ đông của công ty cổ phần bao gồm:

– Dựa trên vai trò đối với việc thành lập công ty cổ phần:

Cổ đông sáng lập: Là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập CTCP (Khoản 2, Điều 4 LDN) CTCP mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập

Cổ đông góp vốn: là cổ đông đưa tài sản vào công ty trở thành chủ sở hữu chung của công ty

– Dựa trên cổ phần mà họ sở hữu:

Cổ đông phổ thông: là người sở hữu cổ phần phổ thông Công ty cổ phần bắt buộc phải

có cổ đông phổ thông (Khoản 1, Điều 113 LDN)

Cổ đông ưu đãi: là người sở hữu cổ phần ưu đãi CTCP có thể có cổ đông ưu đãi: cổ đông

ưu đãi cổ tức, cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổ đông ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định(Khoản 2, Điều 113 LDN) Cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết (Khoản 3, Điều 117 và Khoản 3, Điều 118 LDN)

1.3 Tư cách pháp nhân của công ty cổ phần:

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Khoản 2, Điều 110 LDN) Công ty cổ phần đáp ứng đủ 04 điều kiện của pháp nhân quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự như sau:

Được thành lập theo quy định của pháp luật;

Trang 6

Chế độ trách nhiệm tài sản của cổ đông CTCP là chế độ trách nhiệm hữu hạn, tức là chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn góp vào công ty mà không liên quan đến tài sản riêng (Điểm c, Khoản 1, Điều 110 LDN).

1.4 Cách thức huy động vốn

Công ty cổ phần có nhiều hình thức huy động vốn hơn so với các doanh nghiệp khác Cáchình thức công ty huy động vốn là: chào bán cổ phần riêng lẻ, chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu, chào bán ra công chúng (Khoản 2, Điều 122 LDN); phát hành trái phiếu (Điều 127 LDN)

Tính tự do chuyển nhượng phần vốn góp:

Cổ phần của các cổ đông được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại giấy tờ có giá Người có cổ phiếu có quyền tự do chuyển nhượng theo quy định tại Điều 126 LDN

1.5 Cơ cấu tổ chức quản lý ( Điều 134 LDN)

– Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai

mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.– Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theopháp luật của công ty Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịchHội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty

2 Lựa chọn loại hình doanh nghiệp của mình

Đã được nhóm em trình bày trên phần mở đầu

II Ra quyết định lựa chọn lý thuyết quản trị doanh nghiệp

1 Tìm hiểu về lý thuyết quản trị hành chính

1.1 Lý thuyết quản trị của Henry Fayol

Trang 7

Henry FayoI đã xuất bản tác phẩm “Quản trị công nghiệp và quản trị chung” (Administration industrielle et generale) năm 1916, trình bày những quan niệm mới về quản trị Trong lúc các lý thuyết quản trị (một cách) khoa học tập trung vào việc nâng caonãng suất lao động ở cấp phân xưởng và theo khảo hướng vi mô, thì lý thuyết quản trị hành chính được tập trung sự chú ý vào việc nêu lên những nguyên tắc quản trị lớn, áp dụng cho những cấp bậc tổ chức cao hơn

Khi xem xét hướng tiếp cận quản lý của Fayol ta có thể nhận thấy một sự khác biệt và gần như đối lập với hướng tiếp cận quản lý của một nhà quản lý tiêu biểu – “cha đẻ” của thuyết quản lý theo khoa học : F.W.Taylor

Taylor tiếp cận quản lý theo góc độ từ dưới lên trên, chủ yếu xem xét mối quan hệ giữa đốc công và người thợ, thiên về đối tượng quản lý theo góc độ kinh tế – kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Trong khi đó, Henry Fayol tiếp cận quản lý theo góc độ từtrên xuống dưới, xem xét mối quan hệ giữa người quản lý và nhân viên, thiên về chủ thể quản lý theo góc độ hành chính trong các tổ chức có quy mô lớn Tuy nhiên, điểm chung giữa hai nhà quản lý là đều nhấn mạnh vai trò của phương pháp và nguyên tắc khoa học trong quản lý

Theo Fayol, một công ty, doanh nghiệp hay một tổ chức cụ thể đều có 6 hoạt động cơ bản, đó là:

– Hoạt động chuyên môn

– Hoạt động huy động vốn

– Hoạt động thương mại

– Hoạt động an ninh

– Hoạt động kế toán – hạch toán

– Hoạt động quản trị (là sự tổng hợp của 5 nhân tố trên để tạo ra sức mạnh)

Trong đó hoạt động quản lý bao gồm:

Trang 8

✔ Chuyên môn hóa/phân công hóa lao động

Sự phân bổ công việc và chuyên môn hóa từng bước làm trong một chu trình sẽ kéo theo

sự chuyên môn hóa trong kỹ năng, thúc đẩy tính tập trung và hiệu quả công việc

✔ Lãnh đạo đi kèm trách nhiệm tương ứng

Nhà quản lý có quyền ra lệnh, nhưng họ phải ghi nhớ rằng quyền chính là trách nhiệm

✔ Lợi ích chung cần đặt lên trên hết

Favol cho rằng lợi ích của một nhân viên hay nhóm không được đặt cao hơn lợi ích chung của tổ chức

✔ Trật tự

Nói đơn giản, mọi tổ chức nên để cho mỗi nhân viên có chỗ đứng riêng, có bổn phận phùhợp với tổ chức, luôn cảm thấy tự tin và an toàn trong môi trường công ty

Trang 9

✔ Công bằng

Nhà quản lý cần đối xử công bằng với nhân viên cả trong nguyên tắc lẫn hành động

✔ Tính ổn định trong thời gian đảm nhận vị trí

Các nhân viên cần có thời gian để thích ứng và thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất Sự ổn định về nhiệm vụ thúc đẩy lòng trung thành với mục đích và giá trị của tổ chức

✔ Tôn trọng và phát huy sáng kiến của mọi người

Ở mọi cấp bậc trong cơ cấu tổ chức, sự nhiệt huyết, nhiệt tình và năng lực đều đến từ những người có cơ hội thể hiện những sáng kiến cá nhân của mình

✔ Tinh thần đoàn kết

Doanh nghiệp phải xây dựng được tinh thần tập thể

1.2 Lý thuyết quản trị của Maz Weber

Lý thuyết quản trị hành chính của Weber vẫn có ý nghĩa thuyết phục không chỉ trong quákhứ mà còn phát huy tác dụng và trở thành nền tảng cho thể chế quản lí các tổ chức, doanh nghiệp trên thế giới ở hiện đại

Maz Weber đưa ra quan điểm để quản lý doanh nghiệp có hiệu quả cần xây dựng 1 hệ thống chức vụ trong doanh nghiệp và 1 hệ thống quyền hành phù hợp tuân theo các nguyên tắc

- Mọi hoạt động của tổ chức đều phải có văn bản quy định

Các quy tắc được viết thành văn bản và các thể thức được ứng dụng một cách nhất quán Những quy tắc này được thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt, phù hợp với các quy định của pháp luật NHà nước độc quyền nắm pháp luật và có đầy đủ các lực lượng cưỡng chế trong tay (văn bản hóa)

- Chỉ những người có chức vụ mới có quyền quyết định

Phân công lao động hợp lý và có hệ thống, mỗi cơ quan hay chức vụ có phạm vi thẩm quyền xác định cụ thể được thể hiện thành các trách nhiệm và quyền hạn.(phân công lao động)

- Chỉ những người có năng lực mới được giao chức vụ

Tính chuyên môn của đội ngũ công chức hành chính được nêu cao, bộ máy hành chính thư lại được tuyển chọn trên cơ sở trình độ chuyên môn kỹ thuật, được trả lương và bổ nhiệm vào hệ thống công vụ được đào tạo kỹ lưỡng theo lĩnh vực chuyên môn.( tính chuyên môn hóa)

Trang 10

- Mọi quyết định trong tổ chức phải mang tính khách quan

Tính chất vô nhân xưng- các viên chức lệ thuộc vào một trình tự vô nhân xứng và các tiêu chí thực hiện được quy định trong các văn bản chính thức (tính khách quan)

Lý thuyết quản trị hành chính của Weber vẫn có ý nghĩa thuyết phục không chỉ trong quá khứ mà còn phát huy tác dụng và trở thành nền tảng cho thể chế quản lí các tổ chức, doanh nghiệp trên thế giới ở hiện đại

1.3 Lý thuyết quản trị của Chestger Barnard

Chestger Barnard là tác giả cuốn sách “ Các chức năng của nhà quản trị” (The Function

of the Excutive)

Theo Barnard, một hệ thống hợp tác của nhiều người có 3 yếu tố cơ bản: (1) sự sẵn sàng hợp tác, (2) có mục tiêu chung, (3) có sự thông đạt Nếu thiếu một trong 3 yếu tố này, tổ chức sẽ tan vỡ

Thứ nhất, có sự sẵn sàng hợp tác.

Sự sẵn sàng hợp tác giữa các cá nhân trong tổ chức đóng vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình hoàn thành mục tiêu của tổ chức

Barnard đã chỉ ra 4 nguyên nhân thúc đẩy mỗi cá nhân trong tổ chức, đó là:

– Các yếu tố về vật chất (tiền bạc, đồ vật, điều kiện vật chất)

– Các cơ hội cá nhân

– Điều kiện làm việc

– Điều kiện thỏa mãn lý tưởng

Đồng thời, chỉ ra cụ thể 4 kiểu động cơ phổ biến tác động đến hành vi của con người

trong tổ chức:

– Mức độ hấp dẫn của công việc

– Sự thích ứng với điều kiện làm việc

– Cơ hội được trải nghiệm và danh tiếng

– Mối quan hệ tốt đẹp trong tổ chức

Thứ hai, có mục tiêu chung.

Mục tiêu chung là yếu tố phổ biến tiếp theo và là yếu tố tiên quyết xác định sự tồn tại của một tổ chức Mỗi tổ chức luôn theo đuổi những mục tiêu nhất định, tổ chức không thểtồn tại nếu như thiếu đi mục tiêu

Trang 11

Tức là, khi quyết định tham gia vào tổ chức mỗi cá nhân phải hiểu được mục tiêu mà tổ chức đó theo đuổi, đồng thời xem xét sự phù hợp giữa mục tiêu đó với nhu cầu, mục đích, động cơ cá nhân… của bản thân Và để khi đã trở thành thành viên của tổ chức thì mục tiêu cũng như mục đích của cá nhân phải thống nhất với mục tiêu của tổ chức Như vậy, mọi cá nhân khi tham gia vào tổ chức đều phải thống nhất một mục tiêu chungnhất, đó là phấn đấu vì mục tiêu mà tổ chức theo đuổi mặc dù mỗi cá nhân khác nhau lại

có vô vàn những mục tiêu cá nhân và mục đích cá nhân khác nhau

Thứ ba, có sự thông đạt.

Sự thông đạt (thông tin) là yếu tố kết nối giữa mục tiêu chung của tổ chức với sự sẵn sàng hợp tác giữa các cá nhân trong tổ chức

Barnard đã đặt ra các nguyên tắc thông tin chính thức, gồm có:

– Thông tin phải rõ ràng, cụ thể

– Thông tin là khác nhau đối với những vị trí, cấp bậc khác nhau trong tổ chức– Tuyến thông tin cần trực tiếp và ngắn gọn

– Cần đảm bảo sự hoạt động thường xuyên, liên tục, không bị ngắt quãng của tuyến thông tin

– Đảm bảo sự tương xứng giữa năng lực thông tin của người quản lý hoạt động thông tin

– Thông tin phải xác thực

Cũng như Weber, Barnard nhấn mạnh đến yếu tố quyền hành trong tổ chức Nhưng Barnard cho rằng nguồn gốc của quyền hành không xuất phát từ người ra mệnh lệnh, mà xuất phát từ sự chấp nhận của cấp dưới (căn cứ 3 yếu tố cơ bản của 1 hệ thống hợp tác nhiều người) Sự chấp nhận đó chỉ có thể được thực hiện với 4 điều kiện:

(1) cấp dưới hiểu rõ sự ra lệnh

(2) nội dung ra lệnh phù hợp với mục tiêu của tổ chức

(3) nội dung ra lệnh phải phù hợp với lợi ích của cá nhân họ

(4) họ có khả năng thực hiện mệnh lệnh đó

Lý thuyết này được Bamard gọi là lý thuyết về sự chấp nhận quyền hành

1.4 Lý thuyết quản trị của Luther Gulick và Lyndal Urwich

Năm 1937 hai nhà khoa học viết cuốn “Luận cứ về khoa học quản trị”

Ngày đăng: 28/11/2023, 23:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w