Trong bối cảnh hiện nay đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác.Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nha
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Trong xu thế toàn cầu hoá quốc tế hoá hiện nay, các quốc gia trên thếgiới ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc lẫn nhau, có quan hệ qualại với nhau Vì thế nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại xu thế củathời đại và khó tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tếquốc tế tuy có phải trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sựphát triển của mỗi nước, mỗi quốc gia
Đứng trước yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đại hội Đảng IX đã đưa ravăn kiện về vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tếquốc tế Trong bối cảnh hiện nay đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác.Hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau nhằm pháttriển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo định hướng xã hội chủnghĩa
Trước vấn đề cập nhật của thời đại, tôi quyết định chọn đề tài "Phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế"
với mong muốn có một cách nhìn sâu sắc hơn, cặn kẽ hơn, toàn diện hơn vềnhững nguy cơ thách thức cũng như thời cơ khi chúng ta tham gia vào quátrình hội nhập kết hợp với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, và ảnh hưởngqua lại giữa việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tếquốc tế
Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận tôi không thể trình bàytất cả các vấn đề liên quan đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ vàhội nhập kinh tế quốc tế mà chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu phân tích mốiquan hệ giữa chúng đồng thời đưa ra những giải pháp, những kiến nghị nhằmgóp phần hoàn thiện đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợpvới chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 2CHƯƠNG I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1 PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT LÀ KHOA HỌC VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN. 1.1 Phép biện chứng duy vật
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định bản chất vật chất,tính thống nhất vật chất của thế giới, mà còn khẳng định các sự vật, hiệntượng trong thế giới luôn tồn tại trong sự liên hệ, trong sự vận động và pháttriển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó Làm sáng tỏ nhữngvấn đề đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng Chính vì vậy, Ph.Ănghen
đã khẳng định rằng phép biện chứng là lý luận về mối liên hệ phổ biến, làmôn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của
tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy V.I Lênin nhấn mạnh thêmphép biện chứng là học thuyết sâu sắc nhất, không phiến diện về sự phát triển.Trên cơ sở kế thừa các giá trị về tư tưởng biện chứng trong kho tàng lýluận của nhân loại, đồng thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoahọc tự nhiên thế kỷ XIX (khoa học về các quá trình, về nguồn gốc, về mốiliên hệ và sự phát triển) phép biện chứng duy vật đã phát hiện ra nguyên lý vềmối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng trong thế giới, coi đây làđặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật
1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
nó tồn tại thông qua những mối liên hệ đặc thù của sự vật, nó phản ánh tính
đa dạng và tính thống nhất của thế giới
Trang 31.2.2 Nội dung nguyên lý:
Triết học Mác khẳng định mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều nằmtrong mối liên hệ phổ biến, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cáchbiệt lập mà chúng tác động đến nhau ràng buộc quyết định và chuyển hoá lẫnnhau Các mối liên hệ trong tính tổng thể của nó quy định sự tồn tại vận động,biến đổi của sự vật Khi các mối liên hệ thay đổi tất yếu sẽ dẫn đến sự thayđổi sự vật
1.3 Ý nghĩa của nguyên lý
1.3.1 Cơ sở khoa học của quan điểm toàn diện:
- Trong nhận thức và hoạt động phải xem xét sự vật trong tính toàn vẹncủa nhiều mối liên hệ, nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể cả các quátrình, các giai đoạn phát triển của sự vật cả trong quá khứ hiện tại và tươnglai Có như vậy mới nắm được thực chất của sự vật Khi tuân thủ nguyên tắcnày chủ thể tránh được sai lầm cực đoan phiến diện một chiều
- Không được đồng nhất và san bằng vai trò của các mối liên hệ của cácmặt sự vật Phải phản ánh đúng vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ Phảirút ra được những mối liên hệ bản chất nhất chủ yếu của sự vật khi tuân thủnguyên tắc này con người sẽ tránh được sai lầm nguỵ biện và chiết trung
1.3.2 Cơ sở khoa học của quan điểm lịch sử cụ thể
- Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất tồn tại vận động phát triểnbao giờ cũng diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể, trong không gian và thờigian xác định
- Điều kiện: Không gian và thời gian có ảnh hưởng tới đặc điểm tínhchất sự vật Cùng là một sự vật nhưng ở trong những điều kiện hoàn cảnhkhác nhau sẽ có những tính chất khác nhau
Khi nghiên cứu xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong hoàn cảnh
cụ thể, trong không gian thời gian xác định mà nó đang tồn tại vận động vàphát triển đồng thời phải phân tích vạch ra ảnh hưởng của điều kiện hoàn
Trang 4cảnh của môi trường đối với sự tồn tại của sự vật, đối với tính chất của sự vật
và đối với xu hướng vận động và phát triển của nó
- Khi vận dụng một lý luận nào đó vào trong thực tiễn cần phải tính đếnđiều kiện cụ thể của nơi vận dụng tránh bệnh giáo điều dập khuôn, máy móc,chung chung
2 Vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến để phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế
2.1 Khái niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ
Một nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá có thể đượchiểu là nền kinh tế có khả năng thích ứng cao với những biến động của tìnhhình quốc tế và trong bất cứ tình huống nào nó cũng có thể cho phép duy trìcác hành động bình thường của xã hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêuphát triển kinh tế xã hội của đất nước Đó là nền kinh tế phải có cơ cấu kinh tếhợp lý, hiệu quả và đảm bảo độ an toàn cần thiết, có tốc độ phát triển bềnvững và năng lực cạnh tranh cao, cơ cấu xuất nhập khẩu cơ bản cân đối, cơcấu mặt hàng đa dạng, phong phú với tỷ lệ các mặt hàng công nghệ và có giátrị gia tăng lớn chiếm ưu thế, cơ cấu thị trường quốc tế; đối tác cũng đa dạng
và tránh chỉ tập trung quá nhiều vào một vài mục tiêu; đảm bảo nền tài chínhlành mạnh, đặc biệt giữ cân bằng cần thiết trong cán cân thanh toán và cónguồn dự trữ quốc gia mạnh
Như vậy nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc,phụ thuộc vào các nước khác, người khác hoặc một tổ chức kinh tế nào đó vềđường lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiệnkinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ để áp đặt khống chế, làm tổn hại chủquyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thịtrường, trước sự khủng hoảng của nền kinh tế tài chính bên ngoài, nó vẫn cókhả năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển trước sự bao vây, cô lập và
Trang 5chống phá của các thế lực thù địch, nên vẫn có khả năng đứng vững không bịsụp đổ, không bị rối loạn.
Trong thời đại ngày nay, độc lập tự chủ về kinh tế không còn được hiểu
đó là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà được đặt trong mối quan
hệ biện chứng với mở cửa, hội nhập, chủ dộng tham gia sự giao lưu, hợp tác
và cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực và lợi thế so sánh củaquốc gia Điều này có nghĩa là độc lập tự chủ về kinh tế cũng đồng thời hộinhập được vào nền kinh tế quốc tế
2.2.Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình "mở cửa" nền kinh tế, đưa cácdoanh nghiệp trong nước tham gia tích cực vào cạnh tranh quốc tế, sự thamgia vào phân công lao động quốc tế sẽ tạo điều kiện mở rộng không gian vàmôi trường để chiếm lĩnh những vị trí phù hợp nhất có thể được trong quan
hệ kinh tế quốc tế Đó cũng là quá trình chúng ta tham gia vào các tổ chứckinh tế, tài chính khu vực và thế giới, qua đó mà thiết lập mối quan hệ kinh tế,thương mại, đầu tư, khoa học và công nghệ với các nước trên thế giới
2.3 Vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến để phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế
Sau khi nghiên cứu kỹ phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biên
ta dễ ràng nhận ra rằng sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ mật thiết vớinhau chuyển hoá lẫn nhau hay nói cách khác mọi sự vật hiện tượng tồn tạiphải có mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác chứ không thể tồn tại mộtcách tách biệt độc lập Sở dĩ các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau là
vì chúng là biểu hiện của vật chất vận động Có nguồn gốc chung từ vật động
mà khi sự vận động có nghĩa là có mối liên hệ và các mối liên hệ của sự vật
là cái khát quan vốn có của sự vật Chính vì vậy khi xem xét việc xây dựngnền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta không thể tách rời khỏi việc hội nhập kinh
tế quốc tế và ngược lại Hơn nữa theo quan điểm toàn diện khi xem xét một
Trang 6sự việc hiện tượng mà cụ thể ở đây việc xây dựng độc lập tự chủ chúng taphải xem xét nó trong tính toàn vẹn của nhiều mối liên hệ khác nhau, nhiềumặt khác nhau mà cụ thể đây là ảnh hưởng của việc xây dựng nền kinh tế độclập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế và ngược lại Có như vậy chúng ta mớinắm được thực chất của sự vật mới tránh được những sai lầm cực đoan phiếndiện một chiều Đặc biệt đây lại là những vấn đề rất cấp bách đặt ra đối vớichúng ta khi tham gia quá trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá Chỉ có thể dựa trênnguyên lý mối liên hệ phổ biến mới có thể giúp chúng ta nhìn sâu hơn, hiểusâu hơn về vấn đề mà mình đang nghiên cứu Hơn nữa cũng theo quan điểmlịch sử cụ thể khi xem xét một sự vật hiện tượng nào đó ta phải đặt nó tronghoàn cảnh cụ thể không gian cụ thể Vấn đề chúng ta đang nghiên cứu ở đâycần được đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tình hình kinh tế nước tahiện nay để thấy rõ hơn được ảnh hưởng của tình hình thế giới, tình hìnhtrong khu vực, tình hình trong nước đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ kết hợp với hội nhập kinh tế quốc tế Chính vì vậy dựa trên nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến sẽ giúp chúng ta có một cách nhìn cặn kẽ hơn, tổngquát hơn Chẳng hạn liệu hội nhập kinh tế quốc tế có phải là một xu thế tấtyếu không, hội nhập có phải là hoà tan hay không, xây dựng nền kinh tế độclập tự chủ như thế nào cho phù hợp với tình hình hiện nay, phù hợp với quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Tất cả những vấn đề đó chỉ có thể giải đáp khichúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề chúng ta đang nghiên cứu dựa trên nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến Từ đó ta có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng của phépbiện chứng mối liên hệ phổ biến
Trang 7CHƯƠNG II XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
tế Mỹ mấy năm qua có sự tăng trưởng khá Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh
tế Mỹ đang ngập trong trong khó khăn, nhất là sau sự kiện 11-9-2001 vừa quangười ta lại dự đoán rằng nền kinh tế một số nước châu Á khó bề vươn dậy vì
đã dựa quá nhiều vào xuất khẩu, không tranh thủ thời cơ tiến hành những cảicách trong nước nhằm đảm bảo sự ổn định trong nền kinh tế của mình Rồinữa, nợ nần và những hậu quả nghiêm trọng bất ổn chính trị, lật đổ, đảochính, chiến tranh giữa các phe phăi, đặc biệt nạn đói luôn đe doạ mạng sốnghàng triệu người là minh chứng cho thấy chỉ biết sống dựa vào bên ngoài,phụ thuộc hẳn vào bên ngoài thì sẽ chẳng bao giờ phát triển được nền kinh tếđất nước
Qua những số liệu tổng kết ở trên chúng ta thấy rằng nếu một quốc giakhông tự mình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ mà chỉ phụ thuộc vào cácphe phái mạnh hơn hoặc phụ thuộc vào một nước lớn hơn sẽ dẫn đến hậu quảnghiêm trọng làm cho nền kinh tế của quốc gia đó luôn chịu sự ảnh hưởng đốivới từng biến động của nền kinh tế quốc gia khác và sẽ không tự mình đứng
Trang 8dậy được khi có sự biến kinh tế xảy ra Như vậy nền kinh tế của quốc gia đó
sẽ luôn lạc hậu và chậm tiến Đó chính là lý do vì sao trong quá trình hội nhậpkinh tế phải gắn liền với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Như vậy xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc
tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ và tác động lẫn nhau cùng điđến mục đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển nền kinh tế của quốc gia đó.Đồng thời giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc
tế còn là mối quan hệ bên trong và bên ngoài Mối quan hệ bên trong là xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ và mối quan hệ bên ngoài là hội nhập kinh tếquốc tế Và cả hai mối quan hệ này đều tác động trực tiếp đến sự phát triểnđất nước trong đó xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là yếu tố quyết địnhđến vận mệnh của đất nước còn hội nhập kinh tế quốc tế là nhân tố thúc đẩy,tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ Bởi chỉ có xây dựng đượcmột nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta mới có đầy đủ tư cách và thực lực đểchủ động hội nhập đúng hướng và hiệu quả kinh tế quốc tế và ngược lại, chỉ
có chủ động hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta mới nhanh chóng bổ xung sứcmạnh nội lực còn khiếm khuyết, thiếu hụt, rút ngắn con đường phát triểnnhằm không ngừng tự hoàn thiện mình để giữ vững hơn nữa độc lập tự chủ.Hơn nữa, muốn chủ động hội nhập kinh tế quốc tế một cách đúng đắn vàmạnh mẽ không thể không bắt đầu từ nền tảng sức mạnh tổng thể của một nềnkinh tế độc lập tự chủ Nếu vấn đề thứ nhất là tiền đề là điều kiện đảm bảo chovấn đề thứ hai thì đến lượt nó, vấn đề thứ hai lại là hệ quả, là động lực, là môitrường phát triển mới của vấn đề thứ nhất Đó là một quá trình biện chứng
2 Thực trạng của nước ta khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.Những kết quả đạt được khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Một là, đó đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xó hội, kinh tế
tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống củacác tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện
Trang 9Từ năm 1996 đến năm 2000 đất nước đó đạt được nhịp độ tăng trưởngcao Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của 10 năm (1990-2000) đạt 7,5%;năm 2000 so với năm 1990, GDP tăng hơn 2 lần Trong 5 năm (2001-2005)của nhiệm kỳ Đại hội IX, GDP bình quân tăng gần 7,5%; cơ cấu kinh tế có sựchuyển dịch đáng kể, nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế đóđược huy động khá hơn; nhiều lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đóđược phát huy Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện
Hai là, thực hiện cú kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần Để nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Đảng đó quan tâm
lãnh đạo đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước LuậtDoanh nghiệp nhà nước năm 2003 tạo khung pháp lý, có tác dụng giải phónglực lượng sản xuất, phục vụ cho việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanhnghiệp nhà nước Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới mộtbước quan trọng theo hướng xoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huyquyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh, giảm thiểu
sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp; đó tập trung chỉ đạo sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệuquả của doanh nghiệp nhà nước Qua sắp xếp, đổi mới và cổ phần hoá, sốdoanh nghiệp nhà nước giảm đi (năm 1990 là 12.084, đến tháng 6 năm 2005cũn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước), ngoài ra cũn cú 670 cụng ty cổphần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều lệ Nhờ đổi mới như vậy màcác doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn Năm 2005 các doanhnghiệp đó đóng góp 39% GDP, 50% tổng ngân sách nhà nước Kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã, đã được đổi mới từng bướctheo Luật Hợp tác xó và các chính sách của Đảng và Nhà nước Các hợp tác
đó chứng tỏ được Từ hơn vai trò, vị trí đối với kinh tế hộ trong sản xuất hànghóa, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đóng góp vào tổng sảnphẩm trong nước của khu vực hợp tác xã giảm nhanh, nhưng bắt đầu có chiềuhướng phục hồi Năm 2005, kinh tế tập thể đóng góp 8% GDP
Kinh tế tư nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng
Trang 10trong nhân dân, nhất là từ sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 Sau gần 5năm, cả nước có gần 108.300 doanh nghiệp mới đăng ký, đưa tổng số doanhnghiệp đăng ký lờn khoảng 150.000, tăng gấp gần 2 lần so với 9 năm trướcđây (1991-1999); tổng số vốn đăng ký đạt hơn 302.250 tỷ đồng (tương đương
18 tỷ usd, cao hơn số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong cùng thời kỳ) Đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của kinh tế tư nhân là tạo việc làm vàgóp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xó hội Năm 2004, số lao động làmviệc trực tiếp trong các doanh nghiệp tư nhân đó gần bằng tổng số lao độngtrong các doanh nghiệp nhà nước, giải quyết khoảng 1,6 đến 2 triệu việc làm.Riêng số doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 96% tổng số doanh nghiệp ngoàinhà nước) đó thu hút 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, khoảng 25-26% lực lượng lao động cả nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng có bước phát triển quan trọng.Tính đến tháng 6 -2004, có 4.575 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấpgiấy phép và cũn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt trên 43 tỷ usd Năm 2005,khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách, trên 17,1%tổng vốn đầu tư xó hội, trờn 23% kim ngạch xuất khẩu , đạt trên 35% giá trị sảnxuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động
Ba là, cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá Về cơ cấu ngành kinh tế: từ năm 1988 đếnnay, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng nhanh và liên tục(năm 1988 là 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8%, năm 2003 là 40%, dự kiếnnăm 2005 chiếm 41% GDP) Ngành công nghiệp chế tác chiếm 80% giá trịsản lượng công nghiệp; công nghiệp xây dựng phát triển khá mạnh; sản phẩmcông nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm
1988 là 46,3%, năm 2003 cũn 21,8%; năm 2005 là 20,5% Tỷ trọng khu vựcdịch vụ trong GDP đó tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,2% năm 2003, 38,5%năm 2005 Các ngành dịch vụ đó phát triển đa dạng hơn, đáp ứng tốt hơn nhucầu của sản xuất và đời sống Ngành bưu chính - viễn thông và du lịch phát
Trang 11triển nhanh Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước pháttriển khá
Bốn là, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở cả ba
cấp độ: song phương, đa phương và toàn cầu; đa dạng hóa, đa phương hóaquan hệ kinh tế đối ngoại, gắn kết kinh tế nước ta với kinh tế khu vực và thếgiới; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đẩy nhanh tốc độ và nâng caochất lượng phát triển kinh tế - xó hội.Thông qua việc thực hiện chủ trươngxây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, lấylợi ích phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế đất nước làmmục tiêu; kiên trì nguyên tắc bình đẳng, tự chủ, cùng có lợi trong quan hệkinh tế quốc tế, Việt Nam đó đạt được những thành tựu mới, rất quan trọng.Hiện nay nước ta đó cú quan hệ kinh tế, thương mại với 221 và vùng lãnh thổ;
ký kết 90 hiệp định thương mại song phương, nổi bật là Hiệp định Thươngmại Việt Nam - Hoa Kỳ; thực hiện các cam kết đa phương AFTA, APEC;đang đàm phán những cam kết cuối cùng để gia nhập WTO; đó thiết lập quan
hệ tớn dụng với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế như Ngân hàng Thế giới(WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).Những việc làm đó đó góp phần tạo ra một bước phát triển quan trọng về kinh
tế đối ngoại, mở cửa hội nhập, nhất là giao lưu hàng hóa với nước ngoài.Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng nhanh, trong 5 năm 2001-
2005, đạt trên 109 tỷ USD, chiếm trên 50% GDP, bình quân mỗi năm tăng16%, vượt mục tiêu đề ra Trong đó, xuất khẩu bình quân đầu người đó tăng
từ 187 USD năm 2000 lên trên 370 USD năm 2005 Năm 2005 tổng kimngạch xuất khẩu ước đạt khoảng 32,5 tỷ USD, gấp trên 60 lần so với trướcthời kỳ đổi mới
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có nhiều tiến bộ, tỷ trọng mặt hàng khoángsản từ 37,2% năm 2000 giảm xuống cũn 31,9% năm 2005; tương tự hàngnông, lâm, hải sản giảm từ 29% xuống cũn 27%
Trang 12Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụ có bước đột phá quan trọng, 5 năm2001-2005 ước đạt 21 tỷ USD, tăng bình quân mỗi năm 15,7%, bằng khoảng19% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi mức trung bình của thế giới là 20%một số ngành dịch vụ cú kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng nhanh, như hàngkhông, bưu chính - viễn thông, hàng hải, tài chính, ngân hàng, du lịch.Thị trường xuất khẩu tiếp tục mở rộng ở một số nước và khu vực, trong khi
đó một số thị trường truyền thống được khôi phục và phát triển Xuất khẩusang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU tăng nhanh về số lượng,quy mô và chất lượng hàng hoá Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tiếp tụctăng trưởng trong 5 năm 2001-2005, đạt khoảng 129,6 tỷ USD, bình quân mỗinăm tăng khoảng 18,5% Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu có đổi mới, nhómmáy móc, thiết bị, phụ tùng chiếm khoảng 32%, nhóm nguyên liệu, nhiênliệu, vật liệu chiếm khoảng 61%, nhóm hàng tiêu dùng chiếm 7% Tổng kimngạch nhập khẩu dịch vụ, một yếu tố quan trọng trong 5 năm ước đạt trên 21
tỷ USD, bình quân mỗi năm tăng khoảng 10,3% Điều đáng quan tâm là nhậpsiêu 5 năm 2001-2005 khoảng 20,6 tỷ USD, bằng 18,8% tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng hóa Nhập siêu chủ yếu cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vẫncũn trong tầm kiểm soát, nhưng không thể xem thường Đây cũng là xuhướng chung của các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hoá.Trong 5 năm 2001-2005, tổng giá trị các hiệp định đó ký kết về vốn đạtkhoảng 15 tỷ USD, trong đó đó giải ngân được khoảng 8 tỷ USD, đạt 80% kếhoạch đó đề ra là từ 10-11 tỷ USD Việc sử dụng nguồn vốn ODA cú tiến bộ,tập trung chủ yếu cho những dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội,đào tạo nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, tăng cường thể chế, bảo vệ môitrường bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.Nguồn vốn FDI, đạt khoảng 17,9 tỷ USD, bao gồm cả vốn đăng lý của các dự
án mới được giấy phép đầu tư và vốn bổ sung của các dự án đó đi vào hoạtđộng Như vậy nguồn vốn FDI trong 5 năm vượt trên 19% so với mục tiêu kếhoạch, trong đó thực hiện được khoảng 13,6 tỷ USD, vượt 23% so với mục
Trang 13tiêu kế hoạch Theo báo cáo đầu tư thế giới năm 2005, Việt Nam nằm trongtốp 10 nước hàng đầu châu Á về thu hút FDI Năm 2005, các doanh nghiệpFDI đóng góp khoảng 15,5% GDP, chiếm trên 33% tổng kim ngạch xuấtkhẩu, kể cả dầu khí thỡ đạt tới khoảng 50%; đóng góp trên 10% tổng ngânsách Nhà nước, kể cả dầu khí thô tới gần 34%; tạo việc làm cho khoảng 83 vạnlao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp Doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Cùng với việc tranh thủ ODA, thu hút FDI, đến nay các doanh nghiệpViệt Nam đó cú 113 dự ỏn đầu tư ra nước ngoài với tổng số đăng ký là 125triệu USD, chưa kể các dự án dầu khí đang được tăng cường Các thị trườngđầu tư là Nga, Lào, Campuchia, Hoa Kỳ
2.2 Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Cơ bản nền kinh tế Việt Nam hiện nay lạc hậu về khoa học kỹ thuậtnhiều chục năm so với các nước công nghiệp phát triển Sản xuất, xuất khẩucủa ta chủ yếu gồm các nông khoáng sản thô và các mặt hàng công nghiệp thứcấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và vật tư phụ tùng, nông nghiệp lệthuộc vào phân bón, xăng dầu, thuốc sâu, nông cơ; công nghiệp lệ thuộc vàomáy vật tư, linh kiện rời Các nông khoáng sản thô như gạo, cao su, cà phê,hàng thuỷ sản, than đá - dầu thô, và các mặt hàng thứ cấp khác: hàng maymặc và giầy dép là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Việt Nam vấp phải sựcạnh tranh rất mạnh của các nước kém mở mang khác, các hạn định quotanhập khẩu của nước ngoài, giá cả bấp bênh và có khuynh hướng giảm, thịtrường hạn chế Trong nhiều năm, gạo, cà phê, cao su, hàng may mặc củaViệt Nam không xuất khẩu được hết trên thị trường thế giới, khiến cho giá sụt
và làm giảm thu nhập của công nhân, nông dân trong các ngành liên quan.Trong khi đó, nhập khẩu lại hướng về máy, các vật tư, linh kiện rời giá đắt vàcác hàng tiêu dùng cao cấp giá rất đắt