1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp ở việt nam thực trạng và giải pháp

17 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ô Nhiễm Môi Trường Đô Thị Và Công Nghiệp Ở Việt Nam - Thực Trạng Và Giải Pháp
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 196,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận chứng lý do nêu vấn đề Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

II LUẬN CHỨNG LÝ DO NÊU VẤN ĐỀ……… 3

III PHÊ PHÁN MỘT SỐ SAI LẦM VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

TRONG ĐỊNH HƯỚNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………6

IV. XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN MỚI TRONG ĐỊNH HƯỚNG

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……….8 KẾT LUẬN……… 17

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Mục tiêu của Chính phủ Việt Nam là sẽ đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào năm 2020 và nâng mức thu nhập của người dân Việt Nam lên mức trung bình của thế giới Từ đó, Nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp, chính sách để đạt được mục tiêu này Tuy nhiên, để phát triển bền vững thì cùng với mục tiêu phát triển kinh tế, chúng ta cũng cần phải có những biện pháp, chính sách hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường bởi môi trường chính là yếu tố sống còn đối với mỗi quốc gia và toàn thế giới

Xác định đề tài bài Tiểu luận với chủ đề: “Ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” với mong muốn tổng hợp

các nguồn số liệu về thực trạng môi trường đô thị và công nghiệp ở nước ta Từ

đó, nêu lên những nguyên nhân và đề ra các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường

Do trình độ hiểu biết về vấn đề này có hạn và thời gian nghiên cứu ngắn nên chắc chắn bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo cùng các bạn để bài Tiểu luận được hoàn chỉnh hơn Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

I Phát biểu vấn đề

Làm thế nào để bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước?

II Luận chứng lý do nêu vấn đề

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay

là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lý, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội

Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề

và sinh hoạt tại các đô thị lớn Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép

Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 20/4/2008

cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đến hết năm 2008, cả nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp Ngoài ra, còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công

Trang 4

nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như

Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống

xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác

Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân

Trang 5

Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt

Bọt vàng chóe mặt sông Thị Vải (ảnh

chụp tại khu vực gần cảng Phú Mỹ,

sáng 6-4)

(Ống “hậu kiểm” nước thải xả lén của Veđan, Ảnh do Cục Cảnh sát môi

trường cung cấp)

Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2… thải ra trong quá trình sản xuất khá cao Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có 2.790 làng

Trang 6

nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên Các làng nghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Tây Bắc

bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Riêng ở Đồng bằng sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm 42,9% cả nước Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm,

ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém, bên cạnh

đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng trầm trọng và hiện nay đã ở mức “báo động đỏ” Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của

bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt

Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động Đó là các ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các

Trang 7

phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc Trong tổng số khoảng

34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày, thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm

2008 của Ngân hàng thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu á

về mức độ ô nhiễm bụi

III Phê phán một số sai lầm về phương pháp luận trong định hướng giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường.

Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Trong thời gian qua, Quốc Hội đã ban hành Luật số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Bảo vệ môi trường, kèm theo đó là các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường như: Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo

vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; …, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực: nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt … song vẫn còn nhiều mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn

Trang 8

Vì thế, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc

đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không đảm bảo Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng nông thôn, miền núi, các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường, đặt công tác bảo vệ môi trường trước những thách thức gay gắt

Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

1 Những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng Theo thống kê của

Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình

kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế trong việc bảo vệ môi trường

Qua nguyên nhân này, có thể thấy các nhà hoạch định chính sách khi nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trường đã không đặt vấn đề cần xem xét trong các mối liên hệ như: Mối liên hệ giữa môi trường và sự phát triển kinh tế nên một thời gian dài chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế mà không tính đến những

Trang 9

ảnh hưởng tới môi trường; mối liên hệ giữa các cấp, các ngành còn lỏng lẻo, đôi khi còn chồng chéo dẫm chân lên nhau

Thêm một lý do nữa, đó là các nhà hoạch định chính sách chưa tính được

xu hướng vận động của vấn đề ô nhiễm môi trường nên chưa lường hết được những hậu quả của việc ô nhiễm môi trường đem lại

Vì vậy, để khắc phục được nguyên nhân này thì những người thực hiện công tác hoạch định chính sách liên quan đến vấn đề về môi trường phải đánh giá được đúng hiện thực của môi trường để đề ra các biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường Mặt khác, phải lường được các khả năng có thể ảnh hưởng đến môi trường để có những biện pháp ngăn ngừa

2 Quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉ hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp chây ì nên cũng không có hiệu quả

Đây cũng là một nguyên nhân cơ bản không khắc phục được triệt để vấn

đề ô nhiễm môi trường do chưa đánh giá hết được hậu quả của nó nên “tội thì nặng mà phạt thì nhẹ”, chưa nâng cao thẩm quyền xử lý của lực lượng Cảnh sát môi trường Thậm chí, có thể nói việc xử lý ô nhiễm môi trường chỉ cương quyết trên giấy

3 Các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm

Trang 10

trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao

4 Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức,

cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường

Để công tác này, đạt được hiệu quả thì ngay nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền … phải gắn với tâm lý, thói quen của người dân Việt Nam Hơn nữa, đối với mỗi đối tượng gây ô nhiễm môi trường: hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn thì nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền cũng phải khác nhau cho phù hợp Tức là, biện pháp phải gắn với nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

5 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường

Có thể nói, vấn đề ô nhiễm môi trường hiện vẫn còn là vấn đề nan giải bởi chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận thức, trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc bảo vệ môi trường; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi

Ngày đăng: 28/11/2023, 15:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w