Hoạt động sư phạm của giáo viên mầm nonHoạt động sự phạm của GVMN có đặc điểm riêng, khác biệt hẳn với hoạt động sư phạm của GV của các bậc học khác vì đối tượng của hoạt động sư phạm c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
MÔN: NGHỀ GIÁO VIÊN MẦM NON
Đề tài: Đặc thù của nghề
Giáo viên Mầm non
Trang 2d) Sản phẩm lao động e) Thời gian và
không gian lao động g) Đặc thù của lao động
Đặc thù hoạt động sư
phạm của giáo viên
mầm non
Trang 3Khái niệm về hoạt động
Hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối
quan hệ giữa mình với thế giới xung quanh
Quan hệ giữa mình với
- Hiểu biết và có ứng xử đúng với chính bản thân mình
- …
Trang 4Khái niệm về hoạt động sư phạm
Hoạt động sư phạm là:
Giáo viên trẻ
Chủ thể của hoạt động dạy
Chủ thể của hoạt động học
Trang 5Hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non
Hoạt động sự phạm của GVMN có đặc điểm riêng, khác biệt hẳn với hoạt động sư phạm của GV của các bậc học khác vì
đối tượng của hoạt động sư phạm của GVMN là trẻ em rất nhỏ mới hình thành và phát triển những phẩm chất ban đầu của
nhân cách, đặc điểm trẻ ở lứa tuổi mầm non:
- Trẻ học qua phương thức bắt chước
- Trẻ học qua thực hành, hành động, thí nghiệm, trải nghiệm, trò chơi,…
- Trẻ học qua chia sẻ, trau dồi, thảo luận, trò chuyện,…
- Trẻ học qua suy nghĩ, suy luận và liên tưởng để đưa ra nhận xét, nhận định hay kết luận
Trang 6Hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non
- Tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục Đưa ra những lời
khuyên cho cha mẹ về cách chăm sóc, giáo trẻ trẻ tại gia đình
- Xây dựng môi trường học tập tích cực và lập kế hoạch dạy
học, giáo dục
- Giám sát trẻ trong hoạt động chơi và hoạt động sáng tạo GV
đưa ra những cơ hội học tập qua hoạt động chăm sóc, giáo dục
- Cung cấp các bữa ăn đủ dinh dưỡng Hình thành thói quen ăn
uống, vệ sinh cho trẻ Quan sát, phát hiện những thay đổi về sức khỏe, tinh thần của trẻ
- Thiết kế và phát triển các hoạt động hằng ngày.
- Thực hiện những đánh giá, báo cáo những công việc cá nhân
và nhóm lớp
Trang 7a) Mục đích hoạt động sư phạm của giáo viên mầm
non:
- Theo điều 2 Luật Giáo dục: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
=> Đây là định hướng quan trọng của nền giáo dục Việt
Nam và lao động sư phạm của người giáo viên ở bất kì
bậc học nào, cấp học nào đều phụ thuộc theo mục tiêu đó.
Trang 8- Mục đích giáo dục thường quy định cách thức tổ chức,
phương pháp giáo dục và các mối quan hệ trong giáo dục
- Là nhằm giáo dục thế hệ trẻ thành những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực mà xã hội yêu cầu ( Vì vậy, nếu mục đích giáo dục là đào tạo học sinh trở thành những
người sẵn sàng tuân thủ, phục tùng vô điều kiện thì công tác giáo dục sẽ là áp đặt, … còn nếu mục đích giáo dục là đào tạo ra những người năng động sáng tạo thì nội dung giáo dục phải gắn liền với cuộc sống và phương pháp
giáo dục là tôn trọng nhân cách của người được giáo dục
và phải hình thành ở họ tính tích cực, chủ động, tự giác
và sáng tạo.)
Trang 9- Lao động sư phạm của giáo viên mầm non là loại hình lao động có ý nghĩa, là một yếu tố xã hội góp phần “ sáng tạo ra con người”, góp
phần tái sản xuất sức lao động xã hội đào tạo
và bồi dưỡng liên tục những thế hệ trẻ cho
đời sau, bước khởi đầu cải biến con người tự nhiên thành con người xã hội – đáp ứng yêu cầu của tời đại mới
Trang 10b) Đối tượng hoạt động sư phạm cuả giáo viên
mầm non.
• Bất cứ loại hình lao động nào cũng có đối tượng tác động Hoạt động lao động sư phạm của giáo viên mầm non có đối tượng tác động rất đặc biệt là trẻ tuổi từ 3 tháng đến 6 tháng tuổi, độ tuổi phát triển mãnh liệt cả về tâm lý lẫn sinh lý cho nên giáo viên mầm non không những dạy trẻ, giáo dục trẻ mà còn phải chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ trong mọi hoạt động của trẻ ở trường mầm non Nhân cách của trẻ trong tương lai như thế nào sẽ phụ thuộc rất lớn vào công lao dạy dỗ của ngươi giáo viên mầm non Trẻ càng nhỏ thì nhân cách của người giáo viên mầm non càng có ảnh hưởng sâu sắc đến trẻ
Trang 11-Để thực hiện tốt hoạt động sư phạm mầm non, vai trò của giáo viên mầm non thật không đơn giản Muốn đạt được hiểu quả dạy dỗ và giáo dục như mong muốn thì giáo viên mầm non phải dựa trên cơ sở những tri thức, kĩ năng chăm sóc, giáo dục trẻ nhỏ, nắm vững những thành tựu khoa học tâm lý giáo dục hiện đại về trẻ em mầm non, đồng thời
phải am hiểu đặc điểm và trình độ phát triển về mọi mặt của trẻ, phát huy tối đa tiềm năng của trẻ em lứa tuổi này.
Ví dụ:
- Cô đón trẻ ngồi chơi và trò chuyện với trẻ trước giờ ăn
sáng.Trong giờ hoạt động góc cô cùng chơi với trẻ đồng thời bao quát lớp, tạo tình huống chơi cho trẻ.
Trang 12c) Công cụ lạo động sư phạm của GVMN
• Công cụ lao động sư phạm của người giáo viên mầm non chính là nhân cách của người giáo viên.Người
giáo viên phải lấy toàn bộ phẩm chất và năng lực vốn
có của mình làm công cụ lao động chủ yếu để giáo dục và đào tạo người học.
• Giáo viên có công công cụ đặc biệt là trí tuệ và phẩm chất của mình Nhân cách của người giáo viên như là một công cụ thực sự, nó sẽ phát huy tac dụng mạnh
mẽ khi giáo viên có sức thuyết phục lớn đối với trẻ và mọi người xung quanh.
Trang 13• Phẩm chất đạo đức tốt, tư tưởng chính trị
vững vàng
• Kiến thức khoa học về chuyên môn, sư phạm phải sâu, rộng, không ngừng nâng cao trình độ của bản thân
• Đảm bảo có sức khỏe tốt
Trang 14• Có phương pháp tổ chức giảng dạy, giáo dục tốt, tìm hiểu các phương pháp dạy học hiện
đại
Giáo viên thu hút được sự chú ý của trẻ vào trong tiết học
( nhờ kỹ năng đã được học)
Trang 15d) Sản phẩm lao động của giáo viên mầm non
• Các loại hình lao động khác khi kết thúc quá trình lao động thì thu được sản phẩm, còn quá trình lao động của người giáo viên chưa thể kết thúc khi sản phẩm của họ ra đời (thông tin bên ngoài)
• Sản phẩm lao động sư phạm của người giáo
viên mầm non là những nền tảng ban đầu về
nhân cách cho trẻ
• Thể hiện qua 5 mặt như sau :
Trang 16* Phát triển thể
chất
- Trẻ khỏe
mạnh ,phát triển cân đối về cân nặng và chiều cao
- Thực hiện được các vận động cơ
bản,đúng tư thế
Trang 17- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động,vận động nhịp nhàng,biết định
hướng trong không gian
Trẻ thực hiện đúng các vận động trèo lên, xuống thang và bò chui qua cổng
Trang 18vụ và bảo vệ bản thân.
Trang 19- Có một số hiểu biết ban đầu về bản
thân,môi trường tự nhiên và xã hội
Trang 20* Phát triển ngôn ngữ:
- Nghe và hiểu được lời nói trong giao tiếp
- Có khả năng diễn đạt bằng lời rõ ràng thể hiện ý muốn ,cảm xúc,
- Có biểu tượng về việc đọc và viết
Trang 22*Phát triển tình cảm - xã hội
- Mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin, lễ phép trong
giao tiếp
- Nhận ra một số trạng thái cảm xúc và thể hiện cảm xúc phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể
- Có ý thức tự phục vụ, thực hiện một số quy
định đơn giản trong sinh hoạt Có ý thức tự phục
vụ, kiên trì thực hiện công việc được giao
Trang 23• Yêu quý gia đình, trường lớp mầm non và nơi sinh
Trang 24e) Thời gian và không gian lao động của GVMN
• Về mặt pháp lí, thời gian lao động sư phạm của giáo viên
mầm non được quy định trong các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Đó chính là thời gian lao động bắt buộc tùy thuộc theo từng cấp học, bậc học
• Thời gian làm việc của giáo viên mầm non là khỏng thời gian giáo viên gắn với nhiệm vụ chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục trẻ
ở trường mầm non Thời gian làm việc ngoaì giờ của giáo
viên mầm non: soạn giáo án/ kế hoạch bài học; làm đồ dùng,
đồ chơi và tạo môi trường giáo dục thân thiện; tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; tham gia các phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao hay các hoạt động xã hội khác.
Trang 26-Không gian lao động :
Không gian lao động của người
giáo viên mầm non tiến hành ở hai phạm vi trong nhà trường và ngoài nhà trường Xuất phát từ không
gian và các loại hoạt động ở
trường mầm non, chúng ta có thể tiến xây dựng sơ đồ hoạt động như sau:
Trang 27Các hoạt động liên quan đến nghề nghiệp của giáo viên mầm non.
Các hoạt động liên quan đến nghề nghiệp của giáo viên mầm non.
Hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Hoạt động phát triển nghề nghiệp của giáo viên mầm non
Hoạt động phát triển nghề nghiệp của giáo viên mầm non
Các hoạt động ngoài trường mầm non.
Các hoạt động xã hội khác
Các hoạt động xã hội khác
Các hoạt động học tập nâng cao trình
độ bản thân
Các hoạt động học tập nâng cao trình
Hoạt động giáo dục
Hoạt động giáo dục:
tham quan, xem xiếc, hội thi…
Hoạt động giáo dục:
tham quan, xem xiếc, hội thi…
Hoạt động nghệ thuật, văn hóa, thể dục thể thao.
Hoạt động nghệ thuật, văn hóa, thể dục thể thao.
Học tập theo các lớp đào tạo nâng cao trình
độ chuyên môn
Học tập theo các lớp đào tạo nâng cao trình
độ chuyên môn
Học tập theo lớp bôi dưỡng chuyên
đề, bồi dưỡng thường xuyên…
Học tập theo lớp bôi dưỡng chuyên
đề, bồi dưỡng thường xuyên…
Tự học tập bồi dưỡng chuyên môn theo kế hoạch các nhân.
Tự học tập bồi dưỡng chuyên môn theo kế hoạch các nhân.
Trang 28rõ rệt trong quá trình giáo dục và phát triển.
Trang 29• Nói chung, GVMN là người tổ chức các hoạt động giáo dục cho tất cả trẻ, còn trẻ em tham gia các hoạt động tích cực, hào hứng và có ý nghĩa Mỗi trẻ có đặc điểm phát triển riêng, vốn kinh nghiệm cá nhân đa dạng, trẻ có đặc điểm học khác biệt so với độ tuổi lớn Ngoài
ra, mỗi trẻ có thiên hướng và năng lực riêng cần được cô phát hiện và khuyến khích phát triển
Trang 30• Nhân cách của trẻ trong tương lai phụ thuộc rất
lớn vào công lao chăm sóc , nuôi dưỡng , giáo dục của GVMN Để giúp trẻ phát triển tốt , hài hòa các mặt GV phải có một số năng lực chuyên biệt như : khả năng múa hát, đánh đàn , vẽ,… thể hiện tính nghệ thuật trong lao động sư phạm của GVMN
Bàn về nhân cách , trước hết chúng ta cần tìm hiểu đặc thù lao động của người giáo viên Hai khái
niệm trong đặc thù lao động có liên quan đến nhân cách : “ Mẫu dưỡng” và “ Mẫu giáo”
.
Trang 31* Mẫu dưỡng: Chăm sóc trẻ như mẹ chăm con ( Bế bồng, vuốt ve, cho ăn,…) tạo mối quan hệ
ruột thịt, âu yếm, yêu thương
Trang 32* Mẫu giáo: Dạy dỗ trẻ như mẹ dạy dỗ con Dạy trẻ những thói quen và kĩ năng sống gần gũi.
Trang 33Lao động của người GVMN có những đặc thù
riêng biệt, mang trách nhiệm thiết kế và tổ chức
các hoạt động bảo vệ, chăm sóc , nuôi dưỡng và
giáo dục trẻ, đặt nền móng vững chắc để hình
thành và phát triển nhân cách Cụ thể:
- Lao động của người GVMN là sự kết hợp của 3 loại người: nhà giáo, bác sĩ và nghệ sĩ.
• Có phẩm chất đạo đức, kiến thức, kĩ năng và
phương pháp tổ chức các hoạt động phù hợp với lứa tuổi
Trang 34• Có kiến thức tối thiểu về sinh lí học, phát hiện những tình huống bệnh tật, biết giải quyết các tình huống hợp lí, biết sử dụng các loại thuốc thông thường và sơ cứu, biết tổ chức đảm bảo an toàn
tính mạng của trẻ.
Hình 1: Giáo viên được tập huấn về công tác sơ cấp cứa cho trẻ MN Hình 2: Giáo viên tập cung cấp các kiến thức sức khỏe cho trẻ thông qua trò chơi bác sĩ
Trang 35• Có những năng lực chuyên biệt như : múa, hát, đàn ,
vẽ, đóng kịch, kể chuyện, đọc thơ,… Những năng lực này kích thích, hấp dẫn trẻ đên các hoạt động Đây chính là nghệ thuật trong giáo dục trẻ mầm non.
Trang 36- GVMN phải tạo được niềm tin và tình yêu ở trẻ, tạo được sự mạnh dạn tự tin trong quan hệ giao tiếp với cô , với bạn Toàn bộ hoạt động
sư phạm của GVMN phải làm trẻ cảm nhận được niềm hạnh phúc được chấp nhận như là một thành viên trong cộng đồng mà trẻ đang hòa nhập Giáo viên phải tạo được một môi
trường giáo dục gần gũi và thân thiện
Trang 37- Hoạt động lao động của GVMN đòi hỏi linh hoạt, nhạy bén , sáng tạo để phát hiện và đáp ứng những nhu cầu phát triển nhanh của trẻ em nói chung
và sự riêng biệt của từng cá nhân.
Tác động sư phạm phải luôn thay đổi phù hợp phát triển trong từng giai
đoạn của trẻ Phương tiện giáo dục
chủ yếu là đồ dùng, đồ chơi, môi
trường tự nhiên, môi trường xã hội
GV tận dụng những điều kiện và
phương tiện thích hợp để giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi, biết cách tổ chức các hoạt động phù hợp theo từng độ tuổi
Trang 38- Giai đoạn trẻ từ 3 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi ( 6 tuổi)
là thời kì xã hội hóa rất tích cực Do đó, bản thân các hành vi , thái độ, cách ứng xử và ngôn ngữ của
GVMN phải trở thành một nội dung , một phương tiện , đóng vai trò quan trọng trong giáo dục thường xuyên cho trẻ.
- Lao động của GVMN phải biết kết hợp chặt chẽ với
việc chăm sóc, giáo dục trong gia đình, cộng đồng ,
hòa nhập với chương trình phát triển văn hóa – xã hội GVMN còn là người tuyên truyền kiến thức nuôi dạy trẻ đến các bậc PH, các thành viên trong cộng đồng
Trang 39- Điều này phải được coi là một nhân tố, một động lực trong
hoạt động sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ, phát huy mọi tiềm năng, của cải vật chất cho công tác chăm sóc , giáo dục trẻ