Năng suất, sản lượng và hàm lượng côngnghệ trong sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tăng đáng kể; anninh lương thực quốc gia được đảm bảo; một số sản phẩm xuất khẩu chiếmđược vị
Trang 1Nguyễn Thị Hồng Gấm
Lớp Toán Kinh Tế 47
TÊN ĐỀ TÀI: NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT TRONG NGÀNH TRỒNG TRỌT Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Lời mở đầu
1 Đặt vấn đề:
Từ hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước trước, tổ tiên đã biết cách săn bắnhái lượm và biết trồng cây để lấy thức ăn Những hoạt động săn bắt, trồngtrọt, hái lượm ấy có thể gọi là những hoạt động sơ khai của nông nghiệp.Cùng với thời gian, xã hội con người ngày càng phát triển tiến bộ nhưng vẫnkhông thể thiếu được các hoạt động nông nghiệp Từ khi thực hiện chính sách
Đổi Mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, làm thayđổi diện mạo đất nước Tổng sản phẩm trong nước tăng nhanh, tốc độ tăngtrưởng của năm sau cao hơn năm trước, giai đoạn 2001 – 2005 tổng sảnphẩm trong nước tăng bình quân 7,5% năm Cơ cấu nền kinh tế dịch chuyểntheo định hướng đề ra, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷtrọng ngành nông nghiệp Ngành nông nghiệp tuy giảm về tỷ trọng trongtổng sản phẩm cả nước nhưng vẫn tăng về giá trị sản phẩm, đạt mức tăngtrưởng khá Theo báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IXngày 10 tháng 4 năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ pháp triển kinh tế –
xã hội 5 năm 2006 – 2010: “Nông nghiệp tiếp tục phát triển khá; giá trị sảnxuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,4%/năm (kế hoạch 4,8%), giá trị
Trang 2tăng thêm tăng khoảng 3,8%/năm Năng suất, sản lượng và hàm lượng côngnghệ trong sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tăng đáng kể; anninh lương thực quốc gia được đảm bảo; một số sản phẩm xuất khẩu chiếmđược vị trí cao trên thị trường thế giới.”
Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp trên 20% tổng sản phẩmtrong nước nhưng lao động trong lĩnh vực này chiếm trên 50% tổng số laođộng của cả nước Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong tổng sảnphẩm trong nước năm 2000 là 24,53%; 2004 là 21,81%; tỷ trọng lao độngtrong lĩnh vực này năm 2000 là 65,1%; 2004 là 58,8% (1) Những con số nàycho thấy lao động nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ cao trong dân số và thunhập bình quân đầu người của họ thấp hơn rất nhiều so với lao động trongcác lĩnh vực khác Vì vậy, để nâng cao đời sống người dân, giảm chênh lệchtrong thu nhập của người lao động, việc nâng cao thu nhập bình quân đầungười của lao động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là cần thiết
Một trong những đặc điểm nổi bật của nền nông nghiệp nước ta là phân tán,qui mô nhỏ, chủ yếu ở qui mô hộ gia đình cho nên muốn tăng thu nhập laođộng nông nghiệp thì phải tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ nôngdân Từ trước đến nay đã có những nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụngđất của hộ gia đình trong trồng trọt nhưng có rất ít nghiên cứu sử dụngphương pháp kinh tế lượng đánh giá hiệu quả dụng đất của hộ gia đình trongtrồng trọt Để có thể sử dụng phương pháp kinh tế lượng đánh giá hiệu quả
sử dụng đất của hộ gia đình trong trồng trọt thì phải có các thông tin liênquan về hộ gia đình, điều này có nghĩa là phải tiến hành khảo sát hoạt độngsản xuất, kinh doanh của hộ gia đình Hiện nay Việt Nam đã có bốn cuộc
Trang 3khảo sát mức sống hộ gia đình được tiến hành vào các năm: 1992-1993,1997-1998, 2002, 2004; số liệu của bốn cuộc khảo sát này có thể kết nối lạivới nhau Thông qua các bộ số liệu này chúng ta có thể sử dụng phươngpháp kinh tế lượng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất của hộ gia đình trongtrồng trọt ở Việt Nam mà cụ thể là ở ba tỉnh ĐBSH là Hà Nội, Hải Phòng,Thái Bình.
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Thứ nhất, tìm hiểu và phát triển mô hình kinh tế lượng cho số liệu mảng trong ngành trồng trọt
Thứ hai, phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng đất ttrong trồng trọtcủa hộ gia đình, phân tích thống kê mô tả các yếu tố tác động tới hiệuquả sử dụng đất của hộ gia đình cho trồng trọt
Thứ ba, xây dựng mô hình kinh tế lượng thực nghiệm để phân tích,đánh giá các yếu tố tác động tới hiệu quả sử dụng đất trong trồng trọtcủa hộ gia đình từ đó rút ra kết luận và kiến nghị chính sách
Trang 4Đối tượng nghiên cứu là hộ gia đình ở nông thôn, làm nghề trồng trọt ở batỉnh thuộc vùng ĐBSH là Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng Nghiên cứu đượctiến hành dựa trên cơ sở số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Namnăm 2002 kết hợp với số liệu năm 2004, nghĩa là sẽ có một bộ số liệu về hộgia đình trong cả nước trong hai năm 2002 và 2004 Đây là bộ số liệu mảngnên trong luận văn này sẽ sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hìnhtác động cố định, tác động ngẫu nhiên để phân tích.
5 Phương pháp nghiên cứu:
Ứng dụng mô hình kinh tế lượng cho số liệu mảng là mô hình tác động cáthể riêng biệt (dạng tuyến tính) vào phân tích các yếu tố tác động tới hiệuquả sử dụng đất trong ngành trồng trọt của hộ gia đình ở ba tỉnh ĐBSH
6 Kết cấu của đề tài:
+ Phần 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất trong ngành trồng trọt
I Khái niệm, đặc điểm, vai trò:
1 Khái niệm đất và đất nông nghiệp:
Trang 5- Khái niệm đất:
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia vì: “Mặc chonhững tiến bộ khoa học - kỹ thuật vĩ đại, con người hiện đại vẫn phải sốngdựa vào đất”( UNEP) ,là cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốcdân, là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt của sản xuất nông nghiệp,là mộttrong các yếu tố sản xuất quan trọng nhất và là địa bàn phân bố dân cư Ngoài ra, đất đai được dùng hầu hết vào các ngành sản xuất,các lĩnhvực của đời sống Theo từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực của đời sống, đấtđai được phân thành các loại khác nhau và gọi tên theo ngành và lĩnh vực sửdụng chúng
- Khái niệm đất nông nghiệp:
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào các ngành của sảnxuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sửdụng để nghiên cứu thí điểm về nông nghiệp Ngoài tên gọi đất nông nghiệp,đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp còn được gọi là ruộng đất Đất trồngtrọt là đất nông nghiệp được sử dụng vào mục đích trồng trọt các loại câytrồng như cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp lâunăm,…
- Khái niệm hiệu quả sử dụng đất:
Quan niệm hiệu quả sử dụng hợp lý đất nông nghiệp: phải nhận biết rõnhững nhân tố có lợi để khai thác phát huy, đồng thời nhận biết những yếu
tố bất lợi để phòng tránh khắc phục
Sử dụng hiệu quả hợp lý đất trồng trọt tức là:
Đưa hết số lượng đất nông nghiệp, lâm nghiệp của đất nước vào mụcđích nông nghiệp, lâm nghiệp
Trang 6 Bố trí các loại cây trồng vật nuôi trên từng vùng phù hợp với các điềukiện đất đai, thời tiết, khí hậu của vùng đó nhằm thu hồi được khốilượng sản phẩm lớn nhất trên mỗi ha đất đai.
Bố trí các loại cây trồng vật nuôi trên từng vùng cho vừa đảm bảođược hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ đất, chống xói mòn và rửa trôi đấtbảo vệ được môi trường sinh thái của vùng
Có những biện pháp hợp lý trong việc cải tạo đất(tưới, tiêu,thauchua,ửửa mặn, bón phân, luân canh, làm đất) nhằm nâng cao độ phìnhiêu của đất bảo đảm cho sức sản xuất của đất không ngừng tăng lên
2 Đặc điểm :
- Đặc điểm của đất nông nghiệp(ruộng đất):
+ Đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm laođộng của con người:
Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, xuất hiện vàtồn tại ngoài ý muốn của con người Đất là một thành phần cấu tạonên Trái Đất
Từ khi con người khai phá và sử dụng đất thì đất tạo ra các sản phẩmcho con người, ruông đất kết tinh sức lao động của con người và trởthành sản phẩm của con người Vì thế, trong quá trình sử dụng, conngười cần không ngừng cải tạo và bồi dưỡng ruộng đất cho đất ngàycàng màu mỡ hơn
+Đất nông nghiệp bị giới hạn về mặt không gian, nhưng sức sản xuấtcủa ruộng đất là không có giới hạn:
Trang 7Diện tích đất đai trên thế giới thuộc về từng vùng, từng lãnh thổ, từngquốc gia khác nhau trên thế giới là hữu hạn Diện tích đất đai dưa vàocanh tác trong trồng trọt lại càng nhỏ hơn nhiều so với tổng diện tíchđất Do đó, ruộng đất có giới hạn về mặt không gian Tuy nhiên, nếunhư đầi tư vào đất đai vốn, sức lao động để cải tạo chất lượng đất thìsản phẩm ròng thu được sẽ ngày càng gia tăng Như vậy, có thể nói,sức sản xuất của ruộng đất là không có giới hạn.
Do đặc tính này của ruộng đất nên phải biết sử dụng hợp lý đất đai,hạn chế việc chuyển đổi ruộng đất sang mục đích sử dụng khác
+Đất nông nghiệp có vị trí cố định, chất lượng không đồng đều:
Ruộng đất không thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác giống nhưnhững tư liệu sản xuất(TLSX) khác vì nó có vị trí cố dịnh, gắn liềnvới điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng Nó không thế tựtìm đến với những TLSX khác mà ngược lại, các TLSX khác phải tìmđến nó để tiến hành các hoạt động sản xuất Tuy nhiên, chất lượng đất
ở từng vùng không đều nhau Nguyên nhân là do kết quả của sự hànhthành của tự nhiên, dẫn đến loại đất, độ màu mỡ khác nhau, quantrọng không kém cũng là do quá trình cải tạo đất canh tác của ngườilao động đã làm thay đổi độ màu mỡ vốn có của đất đai
+Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn vàđào thải tron g quá trình sản xuất và nếu được sử dụng hợp lý thì nóngày càng tốt lên:
Tất cả các TLSX đều có sự hao mòn sau một thời gian sử dụng, tấtyếu sẽ được thay bằng TLSX mới, cho năng suất cao hơn và giá thấphơn Nhưng điều này không đúng với TLSX là ruộng đất Ruộng đất
Trang 8có đặc điểm là TLSX hữu hạn, do vậy không thể đào thải nó ra khỏiquá trình sản xuất mà ta chỉ có thể cải tạo đất để nâng cao chất lượngđất, nâng câo năng suất sản xuất của đất Điều này đòi hỏi nhiều vàotính hợp lý trong sử dụng đất của con người.
3 Vai trò:
- Vai trò của đất nông nghiệp:
+ Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp vì nó
có vai trò quyết định tạo ra các loại nông sản phẩm Nếu không có đấtthì không thể tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp được thìcũng không thể có nông sản được
+ Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nó cũng là tài sản của quốcgia(thuộc sở hữu toàn dân), nó tham gia vào mọi quá trình sản xuấtcủa xã hội và trỏ thành TLSX chung của mọi ngành Tùy từng ngànhsản xuất kác nhau mà vai trò của đất cũng bểu hiện khác nhau
Trong công nghiệp và các ngành kinh tế khác đất đai chỉ là nơi cư trú,
là địa bàn để xây dựng nhà xưởng và bố trí sản xuất Nhưng trongnong nghiệp và đặc biệt là trồng trọt thì đất được sử dụng vào mụcđích sản xuất, tham gia vào quá trình tạo nên nông sản với tư các làyếu tố sản xuất tích cực và chủ yếu
+ Đất đai la tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được vì:
Đất đai là TLSX đặc biệt và nếu như biết khai thác cải tạo và sử dụngmột cách hợp lý thì độ phì của đất càng tăng Nó cũng là TLSX khôngđồng nhất do các yếu tố cấu thành nên nó
Đất đai là sản phẩm tự nhiên có trước lao động, nhưng nó cũng là sảnphẩm lao động của con người
Trang 9Đất đai là nguồn dự trữ và cung cấp chất dinh dưỡng để phát triển câytrồng qua độ phì nhiêu của đất, độ phì nhiêu là thuộc tính quan trọngnhất trong sản xuất nông nghiệp(đặc biệt là trồng trọt), đất có nhiềuloại nên độ phì nhiêu của chúng cũng khác nhau.
Độ phì nhiêu của đất hình thành là do kết quả của quá trình hình thành
và phát triển của đất gắn liền với sự tác động của yếu tố tự nhiên, là
cơ sở để sinh ra năng suất tự nhiên
II Một số quy luật tác động đến hiệu quả sử dụng đất trong nông
nghiệp:
1 Quy luật khan hiếm:
Đất đai là nguồn lực có hạn, Trái Đất chỉ có ¼ là đất, hơn nữa cùngvới xu thế nóng lên ở toàn cầu làm băng ở 2 cực Trái Đất tan ra, mựcnước biển dâng lên dẫn đến diện tích đất giảm đi Tốc độ gia tăng tựnhiên cao, làm cho mật độ dân số ngày càng tăng, các hoạt động sống củacon người tăng lên và mở rộng quy mô, diện tích đất ở và chuyên dùngngày càng tăng, diện tích rừng và đất sản xuất nông gnhiệp( đặc biệt làđất trồng) ngày càng giảm nhưng tổng diện tích đất thì không tăng lên
2 Đất đai có giới hạn và độ màu mỡ tự nhiên của đất ngày càng giảm:
Với sự khai thác và sử dụng đất của con người như hiện nay thì độmàu mỡ tự nhiên của đất ngày càng giảm sút Khi con người tiến hànhkhai thác và sử dụng đất bừa bãi đã làm cho đất bị xói mòn, bạc màu.Khoa học kỹ thuật phát triển cho phép con người khai thác triệt để độphì nhiêu màu mỡ của đất, làm thay đổi chất đất Nếu như giảm tác
Trang 10động của khoa học vào ruộng đất thì có thể sẽ làm giảm năng suất câytrồng so với ban đầu.
3 Luật Mathus:
Theo một số nhà kinh tế học cổ điển như Mathus, D.Ricardo đã lýluận rằng dân số tăng nhanh theo cấp số nhân, cứ 20 năm thì tăng lêngấp đôi Trong khi đó độ màu mỡ của đất đai giảm sút, năng suất tăngchậm chỉ theo cấp số cộng nên dẫn đến khan hiếm lương thực Đểkhắc phục tình trạng này cần phải giảm số lượng dân số bên cạnh cácbiện pháp phát triển công nghệ, kĩ thuật,…
4 Xu hướng đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm trong thời kỳ công nghiệp hóa:
Thời kỳ hiện nay khoa học công nghệ tiến bộ vượt bậc, ngành y tếphát triển mạnh, tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong giảm, tuổi thọ trung bìnhtăng cao, tốc độ tăng trưởng tự nhiên có xu hướng tăng Vì vậy,diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm đi là điều tấtyếu
Khi quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa càng mạnh, tốc độ đôthị hóa diễn ra nhanh chóng thì một bộ phận đất nông nghiệp cũng
bị chuyển sang làm đất xây dựng cơ sở hạ tầng cho các nhà máy xínghiệp, giao thông, xây dựng nhà ở Khi xã hội ngày càng pháttriển thì quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa là không thể tránhkhỏi, và ngày càng tăng lên Xu hướng đó cũng phản ánh sự tiến
bộ của sự phát triển xã hội
Cùng với sự giảm sút đất nông nghiệp thì lao động trong ngànhnày cũng có xu hướng giảm do sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề
Trang 11trong nền kinh tế lao động trong nông nghiệp chuyển dần sangkhu vực công nghiệp và dịch vụ, phản ánh sự tiến bộ của nền kinhtế.
5 Các yếu tố sản xuất như vốn, lao động, đất đai đều trở thành hàng hóa trong nền kinh tế thị trường:
Từ thời công xã nguyên thủy đến nay xã hội loài người đã trải quahai kiểu tổ chức kinh tế xã hội là kinh tế tự nhiên và kinh tế hànghóa
Kinh tế tự nhiên hay là kinh tế tự cung tự cấp là kiểu tổ chức sảnxuất mà sản phẩm được tiêu dùng chỉ bởi người tạo ra nó, xuấthiện cùng với sự xuất hiện của loài người Đặc trưng của kiểu sảnxuất này là kiểu tổ chức khép kín trong hộ gia đình, bộ lạc hay làcông xã Trong hình thức sản xuất này, nông nghiệp đóng vai tròchủ yếu và quyết định trong sản xuất, va chủ yếu là dựa vào kinhnghiệm, sản xuất thủ công
Khi mà sản xuất không những phục vụ đầy đủ nhu cầu của ngườisản xuất ra sản phẩm đó thì phát sinh nhu cầu trao đổi: lấy nhữngsản phẩm mình có hoặc dư thừa để đổi lấy những vật phẩm mìnhchưa có hoặc vẫn còn thiếu Vì thế, kinh tế hàng hóa ra đời
Kinh tế hàng hóa phát triển qua hai giai đoạn là nền kinh tế hànghóa giản đơn và kinh tế thị trường
Kinh tế hàng hóa giản đơn(KTHHGĐ)là kinh tế hàng hóa củanhững người nông dân, thợ thủ công, những cá thể nhỏ lẻ dựa trênnhững tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân người sản
Trang 12xuất.Thị trường của KTHHGĐ chỉ yếu là lương thực thực phẩm,các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Kinh tế thị trường (KTTT) là giai đoạn phát triển cao hơn của kinh
tế hàng hóa giản đơn Trong điều kiện KTTT thì thị trường của nó
là mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều có thểtrở thành hàng hóa Bản chất của nền KTTT là sự trao đổi mua bánhàng hóa tới tay người cần nó Trong thị trường đầu ra người tamua những sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, tậpthể Còn trong thị trường đấu vào người ta mua bán những tư liệusản xuất cho quá trình sản xuất như đất đai, lao động, máy móc,thiết bị sản xuất,……
6 Sự tập trung ruộng đất ngày càng tăng lên theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hóa:
Tập trung ruộng đất là việc sáp nhập hoặc hợp nhất ruộng đất củanhững chủ sở hữu khác nhau vào mọtt chủ sở hữu hoặc hình thànhnên một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn Hiểu theonghĩa này thì tập trung ruộng đất diễn ra theo hai con đường:
Thứ nhất: Hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơnthành một chủ sở hữu cá biệt lớn hơn
Thứ hai: Sáp nhập ruộng đất của các chử sở hữu nhỏ cho một chủ sởhữu lớn hơn để tạo ra quy mô lớn hơn
Trang 13III Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất trong trồng
trọt:
1 Điều kiện tự nhiên:
a Vị trí địa lý, địa hình:
b Chất lượng đất:
Sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên đất tốt mới có hiệu
quả Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho canh
tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạnnăm Vì vậy, mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp nóichung và đất cho trồng trọt nói riêng cần cân nhắc kỹ để không rơivào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt mà làm không chú ý đếnmục tiêu phát triển trong tương lai
c Khí hậu - thời tiết:
Điều kiện kinh tế
xã hội
chất , kỹ thuật Hiệu quả sử dụng đất
đai trong nông nghiệp
Trang 14Thời tiết là trạng thái khí quyển đặc trưng bởi một tập hợp các yếu tốkhí tượng quan trắc được trong một thời điểm hoặc 1 khoảng thời gianngắn nhất định Sự kết hợp các trị số của các yếu tố khí tượng rất khácnhau, ngoài ra nó biến thiên liên tục và đột ngột theo thời gian Vìvậy, nhìn chung thời tiết biểu hiện muôn hình muôn vẻ.
Việt Nam nằm trên vòng cung Châu Á- Thái Bình Dương, là nơi gặp
gỡ của các luồng gió mùa với gió tín phong tây Thái Bình Dương nêntính chất gió mùa thể hiện rõ rệt: khắp trong nước có 2 mùa , mùamưa có lượng mưa chiếm 80-85% lượng mưa cả năm, mùa khô thủytriều xâm nhập sâu vào châu thổ nên đất bị nhiễm mặn, gây khó khăncho hoạt động sản xuất nông nghiệp Điều này cũng ảnh hưởng lớnđến việc lựa chọn giống cây trồng phù hợp với từng miền, từng vùnglãnh thổ,theo từng mùa khác nhau Mặc dù các mùa lặp đi lặp lại theotừng năm nhưng cũng có những biến đổi thất thường không giốngnhau cũng làm ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng Nếu thời tiếtthuận lợi, mưa nắng điều hòa thì làm cho năng suất chất lượng củanông sản thu hoạch tăng và ngược lại
Một số hiện tượng thời tiết gây bất lợi cho sản xuất của ngành trồngtrọt:
- Hiện tượng bão: Khi thời tiết chuyển từ mùa đông lạnh sang mùa hè
và mùa hè là thời gian thường có những trận mưa lớn kèm theonhững trận gió xoáy, gió lốc gây thiệt hại không nhỏ cả về conngười lẫn vật chất như các công trình xây dựng nơi cơn bão đi qua,vật nuôi chết, các loại cây lương thực có thể sẽ không cho thuhoạch hoặc thu hoạch rất ít
Trang 15- Rét đậm rét hại và sương muối: Mùa đông lạnh còn kèm theo làsương muối, đây là hiện tượng thời tiết phổ biến ở trung du miềnnúi phía Bắc Rét đậm rét hại và sương muối khiến cho các loại câylương thực dễ bị chết, nhất là mạ mới cấy, năng suất các cây ăn quảgiảm.
d Hệ thống thuỷ lợi:
Trong hoat động nông nghiệp, nhất là trong hoạt động trồng trọt ,nước là tài nguyên vô cùng quan trọng và không thể thiếu Cây trồngcần phải được tưới lượng nước phù hợp mới đảm bảo được các quátrình sinh trưởng phát triển diễn ra tốt Vì vậy, cần có một hệ thốngtưới tiêu với các kênh, mương,… phù hợp sao cho dẫn nước được tớitừng khu vực, đảm bảo lượng nước cần thiết cho cây trồng
Nước ta có hệ thống sông ngòi dầy đặc, từ Bắc đến Nam, lại là lưu vựccủa nhiều con sông lớn nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
2 Điều kiện kinh tế xã hội:
a Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư cho nông nghiệp là điều kiện không thể thiếu được để thựchiện quá trình sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp vì vậy,vai trò của vốn đầu tư là rất quan trọng đối với sự phát triển nôngnghiệp,cũng như là đối với hiệu quả sử dụng đất, nó thể hiện:
+ Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.Ngành nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tựnhiên, có tính rủi ro cao Trong điều kiện nền kinh tế thi trường,người sảnxuất sẽ tập trung vào đầu tư các ngành có lợi nhuận cao Ngành nôngnghiệp là ngành có lợi nhuận thấp rủi ro cao sẽ khó được chú ý phát triển
Trang 16Bởi thế, muốn cho ngành nông nghiệp phát triển nhanh cần có sự đầu tưhợp lý vào ngành này.
+ Đầu tư cho nông nghiệp còn góp phần giải quyết các vấn đề của xã hộinhư: tạo công ăn viêc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nângcao hiệu quả các chính sách của nhà nước
Hoạt động đầu tư là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của sản xuấtnông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng Đầu tư cho trồngtrọt mua cây giống, phân bón góp phần làm tăng độ mầu mỡ của đất, theo
đó cũng tăng năng suất cây trồng
b Lao động:
Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xãhội Nguồn lao động trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động thamgia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chấtlượng người lao động
Số lượng người lao động trong ngành trồng trọt là số người thamgia vào tất cả các hoạt động sản xuất trong ngành trồng trọt bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi)
Chất lượng người lao động thể hiện trình độ học vấn của người laođộng Nếu như người lao động có trình độ sẽ dễ dàng tiếp thu nhữngtiến bộ khoa học hơn nhờ đó cũng sẽ làm co năng suất chất lượngnông sản tăng
c Thể chế đất đai:
Theo kết quả kiểm kê đất năm 2002, nước ta có tổng diện tích đất
tự nhiên là 32.929.722 ha, trong đó đất nông nghiệp là 9.406.783 hachiếm 28.57%
Trang 17d Chính sách khuyến nông của nhà nước:
Chính sách khuyến nông là những chính sách, biện pháp nhằmkhuyến khích nông nghiệp phát triển theo định hướng Hệ thống chínhsách nông nghiệp nhằm giúp đỡ cho phát triển sản xuất nông nghiệp,nâng cao đời sống và xây dựng nông thôn mới
Chính sách ruộng đất là một trong những chính sách quan trọng nhấttrong hệ thống các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn Thứ nhất, ruộng đất là nguồn lực chủ yếu va cơ bản của hoat động sảnxuất của ngành trồng trọt, là cơ sở tự nhiên để tạo ra các sản phẩm.Người nông dân coi ruộng đất là tài sản quý giá và thiêng liêng Tuynhiên, họ chỉ quý trọng ruộng đất khi nó là của chính họ Do vậy , họchỉ đầu tư vào cải ruộng đất, làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo đấtkhi mà họ làm chủ nó Bởi vậy, chính sách ruộng đất hợp lý là rất cầnthiết, nó sẽ làm cho việc sử dụng đất đai hợp lý hơn đồng thời cũnglàm tăng hiệu qua của các chính sách phát triển nông nghiệp khác do:Chính sách hợp lý tạo điều kiện cho việc sử dụng ruộng đất hợp lý cóhiệu quả; thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; cótác dụng trong quá trình chuyển nông nghiệp nông thôn sang sản xuấthàng hóa Ngoài ra, chính sách ruộng đất hợp lý cũng làm giảm bớtvấn đề tranh chấp ruộng đất
3 Điều kiện về các yếu tố về cơ sở vật chất, kỹ thuật:
a Hệ thống đê điều, thuỷ lợi, giao thông:
Nước ta có hệ thống sông ngòi chằng chịt, có mùa mưa và mùakhô phân rõ rệt mùa mưa có lượng mưa chiếm 80-85% lương mưatrong năm nên vào mùa mưa llưu lượng nước qua các con sông lớn
Trang 18nên thường xảy ra lũ lụt làm ngập úng các loại cây Do vậy, một hệthống đê kè kiên cố là rất cần thiết để bảo vệ mù màng Mỗi nămsắp đến mùa lũ đều phải kiểm tra độ chắc chắn của đê.
Hệ thống giao thông giúp cho nông sản đến được tay người tiêudùng Nó đóng vai trò không thể thiếu được trong việc lưu thôngsản phẩm, góp phần làm tăng thu nhập của người sản xuất
b Kỹ thuật canh tác:
+Kỹ thuật về giống cây trồng:
Vấn đề luôn được quan tâm của mọi nền sản xuất nông nghiệp làlàm sao để tạo ra được giống cây trồng mới có sản lượng chấtlượng cao, thích hợp ở nhiều điều kiện về đất đai khí hậu khácnhau Giống cây trồng tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất,giống tốt và thích hợp thì mới cho năng suất cao và chất lượngnông sản tốt, giá bán cao, tăng thu nhập của người sản xuất , làmtăng hiệu quả sử dụng đất
+ Trình độ của người lao động:
Người lao động có trình độ, tiếp thu tốt những kỹ thuật canh tác,tìm ra thị trường tiềm năng cho sản phẩm của mình, đồng thờicũng dễ dàng áp dụng được những loại máy móc sử dụng trongtrồng trọt: máy cày, máy tuốt lúa,…
+ Trình độ kỹ thuật được áp dụng trong canh tác:
Kỹ thuật canh tác của người lao động tiến tiến làm cho sản lượngcây trồng theo đó cũng tăng lên, chất lượng nông sản tăng Mặtkhác, kết hợp trồng cây xen vụ tăng vụ cũng làm tăng sản lương
Trang 19thu hoạc được trên đất sử dụng cũng là yếu tố tác động đến hiệuquả sử dụng đất.
c Thay đổi công nghệ:
Tất cả các ngành sản xuất vật chất không riêng gì ngành nôngnghiệp nói chung và tiểu ngành trồng trọt nói riêng đều cần ápdụng các tiến bộ công nghệ vào quá trình sản xuất sản phẩm Cácnhà kinh tế tân cổ điển đã chứng minh rằng yếu tố quan trọng nhất
để tăng sản lượng là tiến bộ công nghệ Khi các yếu tố đầu vào củasản xuất khác: đất và các nguyên vật liệu thô là khan hiếm, laođộng và vốn đầu tư cũng có hạn thì công nghệ là yếu tố có thể tácđộng đến làm cho với cùng nguồn lực thì sản lượng chất lượng sảnphầm tăng lên hơn so với trước khi đổi mới công nghệ, mặt khácchi phí sản xuất giảm làm cho giá thành sản phẩm cũng giảm, dẫnđến tăng doanh thu từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiêntrước khi quyết định thay đổi công nghệ cũng cần lựa chọn côngnghệ thích hợp với điều kiện sản xuất
IV Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng đất trong trồng trọt:
1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sử dụng đất trong trồng trọt:
- Kết quả khai thác đất đai trong trồng trọt:
+Số diện tích đất đưa vào sản xuất trong trồng trọt trong tổng số quỹđất có thể tham gia vào sản xuất nông nghiệp
+Hệ số sử dụng đất: là hệ số giữa tổng diện tích gieo trồng tính trêntổng diện tích canh tác trong một năm
+Hao phí sức lao động, vốn tư liệu sản xuất cho một đơn vị diện tích
Trang 20- Giá trị sản lượng và giá trị sản phẩm hàng hoá trên một đơn vị diệntích canh tác
- Kết quả bảo vệ, bồi dưỡng , cải tạo đất
- Số diện tích đất hoang được đưa vào sản xuất
- Chất lượng đất đai
2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trong trồng trọt:
- Năng suất đất đai của ngành trồng trọt: là toàn bộ sản phẩm ngành trồngtrọt tính bình quân trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt( 1 ha)
Năng suất đất đai của ngành trồng trọt = Tổng sản lượng ngành trồngtrọt / Tổng diện tích đất trồng trọt
Năng suất đất phản ánh hiệuquả sử dụng đất trong trồng trọt, tổng hợpđánh giá trình độ thâm canh tăng năng suất cây trồng và tình hình bố trícây trồng Nâng cao năng suất cây trồng còn co ý nghiã vô cùng quantrọng đối với sự phát triển nông nghiệp của nước ta
Năng suất cây trồng tính cho từng loại cay trồng
Thu nhập từ trồng trọt= thu từ trồng trọt- chi cho trồng trọt
Thu nhập từ trồng trọt bình quân đầu người= Thu nhập từ trồng trọt/sốngười lao động
Thu nhập từ trồng trọt bình quân trên 1 ha đất canh tác = Thu nhập từtrồng trọt/tổng diện tích đất cach tác
Giấ trị sản phẩm trên một diện tích đất canh tác=(tổng sản phẩm thuhoạch được*giá của sản phẩm thu hoạch)/ tổng diện tích đất canh tác
Trang 21PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG ĐẤT TRONG NGÀNH TRỒNG TRỌT Ở ĐBSH
Hà Nam và Ninh Bình
- Diện tích tự nhiên: có khoảng 17,24 triệu dân, tổng diện tích tự nhiênkhoảng 1.478.000 ha, trong đó: đất nông nghiệp khoảng 857.515 ha,đất lâm nghiệp khoảng 119.102 ha
- Vùng giáp biển và có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông kinh tế vớicác vùng khác trong cả nước và với các nước khác trên thế giới
Nhiệt độ trung bình khoảng 230C, mùa đông lạnh nhiệt độ dưới 200C,
có thể trồng xen kẽ giữa cây xứ nóng và cây xứ lạnh
Lương mưa tương đối nhiều, bình quân 1700- 1800mm/năm, nhưngkhông phân bố đều
Trang 22Tuy nhiên ĐBSH cũng có những hiện tượng thời tiết bất lợi cho sảnxuất ngành trồng trọt: mùa hè bão lũ lụt gây ngập úng giảm năng suấtcủa cây trồng Mùa đông thường xảy ra hiện tương rét hại và sươngmuối là cho cây trồng kém phát triển Nếu sương muối đúng vào thờiđiểm gieo cấy mạ hoặc mới cấy lúa sẽ làm chết lúa và mạ.
4 Hệ thống sông ngòi, thủy lợi:
Vùng nằm ở hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình có nhiều chi lưunên mạng lưới sông tương đối dầy đặc Vùng ven biển lớn kéo dài từThủy Nguyên( Hải Phòng) đến Kim Sơn( Ninh Bình) thích hợp choviệc nuôi trồng thủy sản và giao thông trên biển
Cùng với những thuận lợi trên, vùng còn gặp phải những vấn đề khókhăn như:
- Đây là vùng tập trung nhiều dân cư, sự phát triển đô thị, công nghiệp,giao thông rất mạnh nên cơ cấu sản xuất trong vùng chuyển dịchnhiều, yêu cầu cấp nước và tiêu thoát tăng lên rất cao
- Công nghiệp hoá,đô thị và làng nghề phát triển nhanh, việc kiểm soátnước thải chưa tốt đang ảnh hưởng đến chất lượng các nguồn nước,nhất là sông Cầu, sông Nhuệ và các hệ thống thủy nông vùng venbiển
- Sự điều tiết của các hồ chứa thượng nguồn cũng gây ra một số tácđộng xấu cho hạ lưu: xói lở phức tạp, thời gian lũ trung bình kéo dài,chân triều nâng lên
- Nhiều đoạn đê sông, đê biển chưa đảm bảo mặt cắt thiết kế, đất đắpkhông đồng chất qua nhiều thời kỳ, nhiều đoạn đê nằm trên nền có độ
Trang 23thấm lớn, nhất là vùng biển tiến như ở Hải Hậu Một số cống dưới đêyếu, thân đê còn nhiều hang lỗ, tổ mối chưa phát hiện được.
Dưới đây là bảng giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, giá trị trung bình, độ lệchchuẩn của các chỉ tiêu: thu nhập từ trồng trọt(thu nhập), thu nhập từ trồngtrọt bình quân trên một lao động, thu nhập từ trồng trọt bình quân trên 1 hađất canh tác: (đơn vị: nghìn đồng)
Trang 24Năm 2002, giá trị trung bình của thu nhập từ trồng trọt của hộ gia đình của
Hà Nội là 2 490 800 đồng tuy nhiên độ dao động lớn, trong khi giá trị thuđược lớn nhất là 19850 000 đồng Ở Hải Phòng và Thái Bình tình trạng nàycũng diễn ra tương tự( Hải Phòng giá trị trung bình là 2 796 nghìn đồng, giátrị lớn nhất là 11980 nghìn đồng; Thái Bình giá trị trung bình là 3 542 900đồng và 12 535 nghìn đồng) Điều này cho thấy tổng thu nhập từ trồng trọtcủa các hộ gia đình ở ba tỉnh này mặc dù là có sự chênh lệch giữa các hộtương đối lớn, không đồng đều nhưng mức độ chênh lệch từ thu nhập ở TháiBình ít hơn so với Hà Nội và nhiều hơn so với Hải Phòng Giá trị trung bìnhcủa thu nhập ở Hải Phòng( là 2 706 000 đồng) nhìn chung lớn hơn so với HàNội(là là 2 490 800 đồng) nhưng lại nhỏ hơn so với Thái Bình(3 542 900
Trang 25đồng) Năm 2004, thu nhập từ trồng trọt của Hà Nội nhìn chung có giá trịtrung bình tăng(từ 2 490 800 đồng đến 2701700 đồng) nhưng Hải Phòng vaThái Bình thì thu nhập trung bình lại có xu hướng giảm(Hải Phòng từ 2 796nghìn đồng xuống còn 1 956 500 đồng; Thái Bình từ 3 542900 đồng xuốngcòn 3 296 nghìn đồng) độ chênh lệch giữa các hộ trong tỉnh cũng có xuhướng giảm so với năm 2002.
Với chỉ tiêu thu nhập bình quân từ ngành trồng trọt trên 1 lao động trongnghề trồng trọt của hộ gia đình(thu nhập/lao động), bình quân một lao động
ở Hà Nội tạo ra sản phẩm mang lại thu nhập cho họ nhiều hơn ở hai tỉnh cònlại Nếu ở Hà Nội một lao động bình quân thu được 1110.7 nghìn đồng(năm2002) thì ở Hải Phòng thu được 796 nghìn đồng(2002) còn ở Thái bình chỉthu được 815.4 nghìn đồng(2002) So với năm 2002 thì năm 2004 mặt bằngthu nhập bình quân của lao động trồng trọt có được cải thiện ở cả ba tỉnh:
ở Hải Phòng tăng lên từ 796 nghìn đồng lên 868.8 nghìn đồng, Thái Bìnhtăng lên từ 815.4 nghìn đồng lên 1296 nghìn đồng và Hà Nội tăng lên từ1110.7 nghìn đồng lên 1334.8 nghìn đồng Mức độ phân bổ thu nhập cho laođộng năm 2004 của Hà Nội tương đối đồng đều so với năm 2004, điều nàythể hiện ở độ lệch so với trung bình của thu nhập bình quân lao động của HàNội năm 2002 là 7198 nghìn đồng nhưng đến năm 2004 chỉ còn 1417.03nghìn đồng; nhưng ở hai tỉnh còn lại mức chênh lệch vẫn còn khá cao:củaHải Phòng năm 2002 là 63.54 nghìn đồng thì đến năm 2004 là 631.84 nghìnđồng;của Thái Bình năm 2002 là 673.9 nghìn đồng thì đến năm 2004 lên đến831.5 nghìn đồng
Thu nhập từ trồng trọt bình quân trên một ha đất canh tác là một chỉ tiêuđánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng trên cơ sở tính thu nhập mà một ha đất
Trang 26mang lại cho người lao động là bao nhiêu Đây là chỉ tiêu sử dụng thước đo
giá trị để đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng
Tỉnh Năm Giá trị lớn nhất Giá trị nhỏ nhất Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn
Nhìn chung thu nhập trên một ha đất canh tác tương đối thấp ở cả ba tỉnh và
trong cả hai năm 2002 và 2004 Điều này thể hiện ở giá trị bình quân cao
nhất cũng chỉ đạt 123.3 nghìn đồng ở Thái Bình trong năm 2004 Chỉ có một
dấu hiệu tich cực trong kết quả nhận được là năm 2004 thu nhập bình quân
giữa các ha đất canh tác có vẻ đồng đều và được cai thiện hơn trong năm
2002( độ dao động thấp:ở Hà Nội là 25.64, ở Hải Phònglà 4.29, ở Thái Bình
là 48.89)
Xem xét sự tương quan giữa các chỉ tiêu trên với trình độ học vấn của chủ
hộ, chương trình khuyến nông và tài sản dài hạn tham gia vào quá trình sản
xuất trồng trọt
Trình độ học vấn được xem xét với giả thiết nếu như chủ hộ được học hành
từ cấp 3 trở lên thì có làm cho thu nhập từ trồng trọt tăng lên hay không
Tương tự đối với chương trình khuyến nông và tài sản cố định
Hải Phòng:
Thu nhập Thu nhập bình quân / Thu nhập bình quân
Trang 270.4980.000
0.20.000
-0.116
Số lao động
chính
0.320.000
0.1790.083
-.3470.000
-0.3320.001
0.1620.000
-0.2550.013
PHẦN 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRONG TRỒNG TRỌT Ở VÙNG ĐBSH
I Đặt vấn đề:
Có nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trong trồng trọt với nhữngtiêu chí khác nhau Trong khuôn khổ chuyên đề thực tập này, ta sử dụng chỉtiêu thu nhập bình quân trên một ha đất canh tác để đánh giá hiệu quả sửdụng đất trong trồng trọt ở ba tỉnh ĐBSH là Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bìnhvới thước đo giá trị Sử dụng chỉ tiêu này có thuận lợi là quy hiệu quả sử
Trang 28dụng đất trồng trọt về giá trị, có thể so sánh định lượng giữa các năm vớinhau của một tỉnh và giữu các tỉnh với nhau trong cùng một năm Mặt khác,đánh giá sử dụng đất, đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệ quả sử dụngđất cuối cùng cũng nahừm mục đích nâng cao mức sống của người dân.
- Một số phương pháp phân tích trong kinh tế lượng nhằm phân tích bộ
tế xã hội cơ bản của xã/phường có tác động đến mức sống của người dân nơi
họ sinh sống Đối tượng điều tra gồm các hộ gia đình, các thành viên hộ giađình và các xã/phường Đơn vị điều tra gồm từng hộ gia đình và từngxã/phường được chọn điều tra Phạm vi điều tra bao gồm các hộ gia đình vàcác xã/phường được chọn điều tra của tất cả các tỉnh thành toàn quốc
Trang 29Khảo sát mức sống hộ gia đình 2001-2002 sử dụng phương phápphỏng vấn trực tiếp Điều tra viên đến hộ, gặp chủ hộ và những thành viêntrong hộ có liên quan để phỏng vấn và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn hộgia đình Để đảm bảo chất lượng thông tin thu thập, cuộc điều tra khôngchấp nhận phương pháp điều tra gián tiếp hoặc sao chép các thông tin khôngkiểm tra thực tế vào phiếu phỏng vấn.
Cuộc khảo sát năm 2004 cũng tương tự như cuộc khảo sát năm 2002.Bảng hỏi của năm 2004 có bổ sung một số câu hỏi mới đi sâu sát hơn nhưng
về cơ bản thì các biến số trong hai cuộc diều tra là tương đương nhau
Trong khuôn khổ của chuyên đề thực tập tốt nghiệp này, em sử dụng
bộ số liệu điều tra mức sống của hộ gia đình Việt Nam để đánh giá hiệu quả
sử dụng đất của 3 tỉnh thuộc vùng ĐBSH là: Hà Nội, Hải Phòng và TháiBình va so sánh sự khác nhau giữa 3 tỉnh này
+Ưu điểm của sử dụng số liệu mảng:
Ưu điểm lớn nhất của số liệu mảng là làm tăng độ chính xác trong ướclượng, vì hai lý do: thứ nhất là số quan sát tăng lên, thứ hai là quan sát kếtnối đối tượng nghiên cứu tại nhiều thời điểm khác nhau Tuy nhiên về mặtthống kê chúng ta cần kiểm soát các sai số do tương quan của mô hình hồiqui tuyến tính theo thời gian
Bằng các cách kết hợp quan sát ở các khu vực bảng biểu trong từngchuỗi thời gian, số liệu mảng làm cho dữ liệu mang nhiều thông tin hơn,giảm cộng tuyến giữa các biến, tăng hiệu quả của mô hình
Điều hấp dẫn thứ hai của số liệu mảng là khả năng ước lượng chínhxác mô hình tác động cố định (fixed effects model - FEM) Trong mô hìnhtác động cố định, những đặc tính không quan sát được của mỗi cá thể có thể
Trang 30tương quan với các biến giải thích Những đặc tính không quan sát được cóthể dẫn đến khuyết tật của mô hình là bỏ sót biến, về nguyên tắc khuyết tậtnày của mô hình có thể được khắc phục bằng phương pháp biến công cụ khi
sử dụng số liệu chéo, nhưng trong thực hành thì rất khó có thể tìm được mộtbiến công cụ thực sự giá trị Số liệu mảng với rất ít thời kỳ (giả sử có haithời kỳ) cho chúng ta cách để xử lý nếu tác động riêng biệt của cá thể khôngquan sát được và không thay đổi theo thời gian
Ngoại trừ kinh tế lượng vi mô (microeconometric), còn lại đa số quytắc trong thống kê ứng dụng coi đặc tính cá thể không quan sát được bất kỳ
có phân phối độc lập với các biến giải thích Với giả thiết này các tác độngđược gọi là tác động ngẫu nhiên, hay một thuật ngữ chuẩn mực hơn đó là tácđộng ngẫu nhiên thuần tuý So với mô hình tác động cố định, các giả thiếtmạnh hơn này cho phép thu được các ước lượng chính xác hơn đối với tất cảcác tham số, bao gồm cả các hệ số của các biến giải thích thay đổi theo thờigian Tuy nhiên, mô hình tác động ngẫu nhiên (random effects model –REM) và các ước lượng của chúng sẽ không chính xác nếu mô hình đúngphải là mô hình tác động cố định Các nhà kinh tế thường cho rằng các giảthiết của mô hình tác động ngẫu nhiên không được số liệu ủng hộ, hay nóimột cách khác rằng các số liệu thực tế thường không thoả mãn các giả thiếtcủa mô hình tác động ngẫu nhiên
Điều hấp dẫn thứ ba của số liệu mảng là khả năng tìm hiểu thêm vềtính năng động của hành vi con người nhiều hơn so với số liệu chéo Số liệuchéo có thể đưa ra tỷ lệ nghèo là 20% nhưng chúng ta cần số liệu mảng đểxác định có phải năm nào tỷ lệ nghèo cũng là 20% hay không
Trang 31II Mô hình:Kinh Tế Lượng:
1 Cơ sở lý thuyết cho mô hình:
Mô hình tác động cá thể riêng biệt cho phép mỗi đơn vị theo khônggian (mỗi cá thể, mỗi doanh nghiệp, hoặc mỗi quốc gia, ) có số hạng chặnkhác nhau mặc dù tất cả các hệ số góc là như nhau, cho nên:
2 (2)
trong đó có phân bố xác định và độc lập đối với và Hệ số là biếnngẫu nhiên thể hiện các đặc tính không quan sát được, trong phần nàychúng ta giả thiết nó là biến ngoại sinh
Giả thiết 1 : Mẫu được chọn ngẫu nhiên theo không gian
Giả thiết 2 : Kỳ vọng có điều kiện của sai số ngẫu nhiên theo biến giảithích tại mọi thời điểm và đặc tính không quan sát được bằng 0