Nằm tại một vị trí tự nhiên hiếm có, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng,Việt Nam được ưu đãi với hệ thống sinh thái phong phú, đa dạng về chủng loại các cây dược liệu với hơn 12 ngh
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
****************
Tinh dầu và dược liệu có tiềm năng
khai thác tinh dầu ở Việt Nam
Học Viên: Nguyễn Thị Hằng
Mã học viên: 1411029
Lớp: Cao học 19
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 2
Phần I Đại cương về tinh dầu 3
1 Định nghĩa
2 Thành phần cấu tạo
3 Chế tạo tinh dầu
4 Tác dụng sinh học và ứng dụng của tinh dầu trong y học 4
Phần II Một số dược liệu chứa tinh dầu có tiềm năng khai thác ở Việt Nam 5
1 Cây quế Việt Nam 5
2 Cây Hồi 7
3 Cây Dó bầu 9
4 Cây Tràm gió 13
5 Cây Gừng 14
6 Cây sả chanh 15
Phần III Kết luận và đề xuất 17
1 Kết luận 17
2 Đề xuất 17
Tài liệu tham khảo 18
Lời mở đầu
Trang 3Nằm tại một vị trí tự nhiên hiếm có, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng,
Việt Nam được ưu đãi với hệ thống sinh thái phong phú, đa dạng về chủng loại các
cây dược liệu với hơn 12 nghìn loài thực vật, trong đó có gần 4 nghìn loài có công
dụng làm thuốc được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới như: Sâm ngọc linh, Sâm
vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng
liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú… Theo số liệu thống kê được từ năm
2001, số loài có chứa tinh dầu trong hệ thực vật nước ta gồm 657 loài thuộc 357 chi
và 114 họ (chiếm 6,3% tổng số loài, 15,8% tổng số chi, 37,8% tổng số họ) Do vậy
Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật chứa tinh dầu rất tiềm năng
Mặc dù tồn tại trong thực vật với hàm lượng rất ít nhưng do được sử dụng
rộng rãi trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, công nghệ sản xuất nước hoa…
nên tinh dầu có giá trị kinh tế khá lớn Ở nhiều địa phương, do đặc điểm hệ thực vật
mà việc trồng và chiết xuất tinh dầu cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước
trở thành tiềm lực phát triển kinh tế chủ đạo Tuy nhiên, hiện nay một số khu vực
có tiềm năng
Bài tiểu luận xin được đề cập đến 2 vấn đề chính như sau:
- Đại cương về tinh dầu
- Những dược liệu có tiềm năng khai thác tinh dầu ở Việt Nam
Phần I Đại cương về tinh dầu
Trang 41 Định nghĩa
Tinh dầu là một hỗn hợp của nhiều thành phần, thường có mùi thơm, không tan
trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ, bay hơi được ở nhiệt độ thường và có
thể điều chế từ thảo mộc bằng phương pháp cất kéo hơi nước
2 Phân loại tinh dầu theo cấu trúc hóa học
Theo cấu trúc hóa học, có thể chia làm 4 loại tinh dầu:
- Các dẫn chất của monoterpen: Myrcen, lymonen, α- pinen, β-pinen, geraniol,
linanol, nerol…
- Các dẫn chất của sesquiterpen: zingiberen, curcumen, nerolidol,…
- Các dẫn chất có nhân thơm: eugenol, p-cymen, thymol…
- Các hợp chất có chứa nitơ (N) và lưu huỳnh (S): mythyl isothiocyanat, alicin…
3 Các phương pháp thu tinh dầu
- Phương pháp cất kéo hơi nước
- Phương pháp chiết xuất bằng dung môi
- Phương pháp ướp
- Phương pháp ép
4 Tính chất lý hóa của tinh dầu
* Thể chất: Đa số là chất lỏng ở nhiệt độ thường, một số thành phần ở thể rắn:
Menthol, borneol, camphor, vanilin, heliotropin
* Màu sắc: Không màu hoặc vàng nhạt Do hiện tượng oxy hóa màu có thể sẫm lại
Một số có màu đặc biệt: Các hợp chất azulen có màu xanh mực
* Mùi: Đặc biệt, đa số có mùi thơm dễ chịu, một só có mùi hắc, khó chịu (tinh dầu
giun)
* Vị: cay, một số có vị ngọt: Tinh dầu quế, hồi
* Bay hơi được ở nhiệt độ thường
* Tỷ trọng: Đa số nhỏ hơn 1 Một số lớn hơn 1: Quế, đinh hương, hương nhu
Trang 5Tỷ lệ thành phần chính (aldehyd cinnamic, eugenol) quyết định tỷ trọng tinh dầu.
Nếu hàm lượng các thành phần chính thấp, những tinh dầu này có thể trở thành nhẹ
hơn nước
* Độ tan: Không tan, hay đúng hơn ít tan trong nước, tan trong alcol và các dung
môi hữu cơ khác
* Độ sôi: Phụ thuộc vào thành phần cấu tạo, có thể dùng phương pháp cất phân
đoạn để tách riêng từng thành phần trong tinh dầu
* Năng suất quay cực cao, tả tuyền hoặc hữu tuyền
* Chỉ số khúc xạ: 1,4500 - 1,5600
* Rất dễ oxy hoá, sự oxy hoá thường xảy ra cùng với sự trùng hiệp hoá, tinh dầu sẽ
chuyển thành chất nhựa
* Một số thành phần chính trong tinh dầu cho các phản ứng đặc hiệu của nhóm
chức, tạo thành các sản phẩm kết tinh hay cho màu, dựa vào đặc tính này để định
tính và định lượng các thành phần chính trong tinh dầu
5 Tác dụng sinh học và ứng dụng của tinh dầu trong y học
- Tác dụng trên đường tiêu hoá
- Tác dụng kháng khuẩn và diệt khuẩn
- Tác dụng kích thích thần kinh trung ương
- Tác dụng diệt ký sinh trùng: Trị giun, sán, diệt ký sinh trùng sốt rét
- Rất nhiều tinh dầu có tác dụng chống viêm, làm lành vết thương, sinh cơ v.v khi
sử dụng ngoài da
Ngoài ra tinh dầu còn được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền, qua các
bài thuốc từ rất lâu đời
Trang 6Phần II Những dược liệu có tiềm năng khai thác
tinh dầu ở Việt Nam
Do đặc trưng khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau, hệ thực vật ở Việt Nam phân
bố rất phong phú và đa dạng Trong đó, nhiều cây cho tinh dầu phân bố tập trung
theo vị trí địa lý như: Hồi (phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng núi phía Bắc như Lạng
Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng), quế (Yên Bái, …
Phần này, tôi xin trình bày một số dược liệu có tiềm năng khai thác tinh dầu ở
Việt Nam
1 Cây Quế Việt Nam
Tên khoa học: Cinnamomum cassia J S Presl, 1825, thuộc họ Long não –
Lauraceae.
* Đặc điểm thực vật: Cây gỗ, cao 10 – 20m Lá mọc so le có cuống ngắn, dài nhọn
hoặc hơi tù,có ba gân hình cung Hoa trắng Quả hạch hình trứng
* Phân bố:
Quế phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc
Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh
Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Bà
Rịa-Vũng Tàu Trong đó có 4 vùng trồng quế tập trung là: Yên Bái, Quảng Ninh,
Thanh Hoá - Nghệ An và Quảng Nam - Quảng Ngãi
Yên Bái là tỉnh có diện tích quế khá lớn, gần 30.000 ha, tập trung chủ yếu ở
một số huyện như Văn Yên (16.000 ha), Trấn Yên (6.600 ha), Văn Chấn (gần
5.000 ha) Định hướng đến năm 2015, diện tích quế toàn tỉnh đạt khoảng 40.000 ha,
được quy hoạch ở các huyện Văn Yên (24.700 ha), Trấn Yên (8.500 ha), Văn Chấn
(6.600 ha) Chất lượng tinh dầu quế Yên Bái thuộc loại tốt nhất cả nước
* Trồng trọt và khai thác: Trồng bằng hạt Thu hoạch vào hai vụ tháng 4-5 và 9-10
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có 08 nhà máy chiết xuất tinh dầu quế quy
mô lớn với tổng công suất 700 tấn/năm đặt ở các huyện có diện tích quế tập trung
như: Công ty TNHH Hương liệu Việt Trung đặt tại xã Quy Mông, huyện Trấn Yên
xây dựng bằng vốn nước ngoài, công suất 100 tấn sản phẩm/năm; Công ty TNHH
Thương mại Xuất nhập khẩu Đạt Thành có 02 nhà máy đặt tại xã Đông Cuông và
Hoàng Thắng, huyện Văn Yên, tổng công suất 100 tấn/năm; Công ty cổ phần Nông
Trang 7lâm sản thực phẩm Yên Bái đặt nhà máy tại xã Sơn Lương, công suất 60 tấn/năm;
Công ty TNHH Trường An có 02 nhà máy đặt tại xã Phong Du Hạ, công suất 170
tấn/năm, Ngoài ra còn có hơn 200 cơ sở chưng cất tinh dầu quế quy mô nhỏ lẻ hộ
gia đình, sản lượng mỗi năm từ 300 - 800 kg/01 cơ sở
Ảnh 1 Thu hoạch Quế ở Yên Bái
* Thành phần hoá học:
Hàm lượng tinh dầu trong vỏ quế khá cao (1,0-4,0%), còn trong lá và cành non
thường thấp (0,3-0,8%) Tinh dầu từ vỏ có màu vàng nâu nhạt, sánh, vị cay, thơm,
ngọt, nóng, nặng hơn nước; với thành phần chính là (E)-cinnamaldehyd (70-95%);
ngoài ra còn khoảng 100 hợp chất khác Tinh dầu từ lá quế thường có màu nâu đậm
và thành phần chủ yếu cũng là cinnamaldehyd (60-90%) Hàm lượng
(E)-cinnamaldehyd quyết định chất lượng của tinh dầu quế Tinh dầu quế thương phẩm
trên thị trường thế giới đòi hỏi hàm lượng (E)-cinnamaldehyd trong khoảng
75-95% (ISO: >80% (E)-cinnamaldehyd) Ngoài tinh dầu, trong vỏ quế còn chứa
tanin, chất nhựa, đường, calci oxalat, coumarin và chất nhầy…
* Công dụng của tinh dầu quế:
• Giảm lượng đường trong máu và điều trị bệnh tiểu đường loại 2
• Giảm cholesterol
Trang 8• Trợ giúp tiêu hóa.
• Điều trị tiêu chảy
• Chữa cảm lạnh thông thường
• Giảm đau viêm khớp
• Tăng cường trí nhớ và chức năng nhận thức
• Điều trị đau răng
• Loại bỏ hơi thở hôi
• Chữa đau đầu và chứng đau nửa đầu
Theo số liệu khảo sát của Hoàng Cầu (2005) về 75 hộ gia đình trồng quế tại bản
Khe Lơ (xã Yên Sơn – Văn Yên – Yên Bái), trong thời gian từ 1993-1994 thu nhập
trung bình từ quế đạt 10 triệu đồng/hộ/năm (bình quân hộ thu nhập cao: 20 triệu
đồng/năm, bình quân hộ thu nhập thấp: 6 triệu đồng/năm)
Đến năm 1998, diện tích rừng quế ở nước ta đạt khoảng 61.820 ha (trong đó có
19.743 ha có thể khai thác) với trữ lượng ước tính khoảng 29.000-30.000 tấn vỏ
Cũng năm 1998, sản lượng quế vỏ đã khai thác đạt 2.867 tấn Hàng năm Việt Nam
xuất khẩu khoảng 1.500-2.000 tấn vỏ và 5-7 tấn tinh dầu quế
Cây quế không những có giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo vệ thiên
nhiên, môi trường sinh thái, giữ đất, giữ nước ở những vùng đồi núi dốc, bảo tồn và
phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý của cây bản địa, đồng thời góp phần quan
trọng giúp nhiều hộ nông dân xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu
2 Cây Hồi
* Tên khoa học: Illicium verum Họ Hồi: Illiciaceae
* Đặc điểm thực vật: cây cao 6 –
10m Cành mọc thẳng tạo cho cây
dạng thon gọn và tán lá hẹp Lá
mọc sole nhưng thường mọc sít
vào nhau tạo vòng giả, từ 4 – 6 lá
Lá thon dài hoặc hình bầu dục
Hoa có thể nhiều màu: trắng, trắng
hồng, hồng, tím hồng Quả đại,
thường có 8 đại dính vào một trục
và tỏa tròn thành hình sao
*
Phân bố: Hồi được coi là đặc sản
của tỉnh Lạng Sơn Ngoài ra còn
Ảnh 2 Cây hồi
Trang 9trồng ở Bắc Kan, Quảng Ninh, Lào
Cai…
* Trồng trọt và thu hái: Hồi được
trồng bằng hạt, được khi thác 2 vụ:
vụ chính vào tháng 8-9, vụ phụ từ
tháng 11 đến tháng 2 năm sau Sản
lượng khoảng 5000 – 6000 tấn Hồi
khô/năm
Ảnh 3 Hoa hồi khô
* Thành phần hóa học:
- Quả có chứa tinh dầu 8 -9% Quả mới thu hoạch có thể chứa 10 – 15%.
- Tinh dầu quả Hồi, tên thương phẩm Star anis oil, là chất lỏng màu vàng nhạt, có
mùi đặc biệt, vị ngọt Thành phần chính chủ yếu là trans anethol (85-90%)
- Lá có chứa tinh dầu 0,56-1,73% Tinh dầu lá có hàm lượng anethol xấp xỉ tinh
dầu quả
- Hạt chứa chất béo
* Công dụng:
- Quả Hồi có tác dụng giúp tiêu hóa, lợi sữa, giảm đau, giảm có bóp nhu động ruột,
dùng để trị ỉa chảy, nôn mửa…
- Tinh dầu Hồi có tác dụng tương tự như dược liệu Ngoài ra tinh dầu còn dùng để
tổng hợp hormone estrogen
- Dùng làm gia vị và hương liệu cho rất nhiều sản phẩm trong kỹ nghệ thực phẩm
màu
- Hiện nay tinh dầu Hồi còn được sử dụng để chiết xuất acid Shikimic là nguyên
liệu để tổng hợp Tamiflu, là thuốc đặc trị các bệnh cúm, nhất là cúm A/H1N1,
H5N1, H3N2; Chế biến các loại thuốc xoa bóp, nội tiết, tiêu hóa
Hồi là một trong những cây đặc sản có giá trị kinh tế cao của tỉnh Lạng Sơn
Cây Hồi phân bố trong một vùng sinh thái hẹp của thế giới, chỉ trồng được ở một
phần diện tích của tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam của Trung Quốc và một
phần diện tích của tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh của Việt Nam
Hồi ở Lạng Sơn có chất lượng tinh dầu tốt nhất thế giới và nổi tiếng với tên gọi
“Hồi xứ Lạng” Lạng Sơn đã trồng được 33.400 ha rừng Hồi chiếm 71% tổng diện
tích rừng Hồi của cả nước Sản lượng quả Hồi (hoa Hồi) khô đạt trên 6.500 tấn
Trang 10trong năm 2010, đem lại giá trị xuất khẩu khoảng 600 - 650 tỷ đồng/năm, đây là
một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh Lạng Sơn
Người dân trồng Hồi luôn ý thức được giá trị kinh tế của cây Hồi hơn hẳn
nhiều cây trồng khác Giá của 1 kg hoa Hồi hiện nay gấp khoảng 10 lần gạo và gấp
15 lần ngô Mặt khác, vốn đầu tư ít, chỉ phải trồng một lần nhưng thu hoạch cả trăm
năm, ít bị sâu bệnh phá hoại, người dân có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng,
chăm sóc, thu hái và bảo quản Hồi
Sở Khoa học và Công nghệ Lạng Sơn đã hợp tác với Viện Khoa học lâm
nghiệp Quảng Tây - Trung Quốc trong 3 năm (2010 - 2012) để nghiên cứu và
chuyển giao khoa học kỹ thuật nhằm nâng sản lượng hoa hồi của tỉnh Lạng Sơn lên
gấp 3 lần sản lượng hiện nay
3 Cây Dó bầu
Những năm trước đây, người dân không rõ hiệu quả kinh tế từ cây dó bầu
(cây dó) như thế nào, chỉ thấy nhiều lái buôn thường về một số địa phương để thu
mua vỏ cây với giá rẻ từ 5.000 đồng đến 7.000 đồng/kg để xuất bán sang Trung
Quốc Việc bà con khai thác ồ ạt đã làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, diện
tích cây dó giảm sút Sau khi công nghệ chiết xuất tinh dầu từ cây dó bầu được
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất
thử nghiệm ở một số tỉnh, cùng với sự phổ biến, tuyên truyền rộng rãi việc phát
triển cây dó theo chủ trương của Chính phủ, người dân đã dần hiểu ra giá trị kinh tế
của cây dó Từ đó, trên khắp các tỉnh, người dân đã đầu tư trồng và khôi phục diện
tích cây dó Cây dó có nhiều tác dụng như: tạo trầm; chiết suất tinh dầu; làm đồ gỗ
mỹ nghệ, phong thủy; lá cây làm trà Trong đó, việc chiết xuất tinh dầu là cho hiệu
quả kinh tế cao và thiết thực nhất
Trang 11Ảnh 4 Cây dó bầu non.
* Tên khoa học: A agallocha Roxb Họ: Trầm - Thymelaeaceae
* Tên khác: Trầm, kỳ nam, rà hương
* Đặc điểm thực vật: Dó bầu là một loại cây gỗ thường xanh, cao 20 – 30 m, đường
kính thân đạt 60 – 80 cm, thân thường thẳng, đôi khi có rãnh dạng lòng máng; bạch
gốc cao tới 2 m; vỏ ngoài nhẵn, màu nâu xám, thịt vỏ màu trắng có nhiều chất xơ
(celluloz), nứt dọc lăn tăn, dễ bóc và tước ngược từ gốc lên; cành mảnh, cong queo,
màu nâu nhạt, có lông hoặc nhẵn, tán thưa Lá đơn, mọc cách (so le); cuống lá dài 4
– 6 mm; phiến lá hình trứng, bầu dục thuôn đến mác thuôn, kích thước 8 – 15 x 2,5
– 9 cm, mỏng như giấy hoặc dai gần như da, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt
hơn và có lông mịn; gốc lá thon nhọn dần hay tù
* Phân bố: Trầm hương sinh trưởng rải rác trong rừng thường xanh ẩm nhiệt đới,
nguyên sinh hoặc thứ sinh trên đỉnh dông, trên sườn núi hoặc trên đất bằng ở độ
cao 50 – 1.000 m (-1.200 m) so với mặt biển Ở nước ta, Trầm hương thường phân
bố rải rác trên sườn núi có độ dốc nhỏ, thoát nước Trong quần xã của Trầm hương
thường gặp các cây gỗ lớn: Táu (Hopeaspp.), Huỳnh (Tarrieta sp.), Gụ mật
(Sindora siamensis Teysm Ex Miq.)… Đôi khi cũng gặp Trầm hương mọc trong
rừng thứ sinh cùng các loài Thánh thất (Ailanthus triphysa (Dennst) Alst.), Mò
lưng bạc (Cryptocarya metcalfiana Allen), Bưởi bung (Acronychia
laurifolia Blume), Mít nài (Artocarpus asperula) và Ràng ràng (Ormosia sp.)…
* Trồng trọt và thu hái: Cho đến nay việc nhân giống vẫn chủ yếu bằng hạt Cây dó
bầu sau khi trồng khoảng 4 – 5 năm tuổi thì bắt đầu ra hoa kết trái Tùy vào điều
kiện thời tiết của mỗi vùng mà thời gian ra hoa có khác nhau Ở miền Trung
Việt Nam, cây bắt đầu ra hoa vào tháng 3 và trái chín vào tháng 7 dương lịch
Nhưng ở miền Nam, thời gian ra hoa là tháng 2, trái chín tháng 5 – 6 dương lịch
* Nguồn gốc tạo trầm hương từ cây dó bầu: Gỗ cây dó bầu có khả năng hình thành
một loại sản phẩm đặc biệt gọi là Trầm hương, do cây bị một loại bệnh gây ra bởi
tác động bên ngoài Loại gỗ này tỏa ra mùi thơm và khi thả xuống nước thì chìm vì
vậy mà có tên là trầm hương Vì “trầm” theo chữ Hán có nghĩa là chìm, còn
“hương” có nghĩa là mùi thơm
Căn cứ vào sự hóa nhựa nhiều hay ít mà có những sản phẩm như: Tóc,
Trầm hương và Kỳ nam
a./ Tóc: có nguồn gốc từ chữ “tok” của người Campuchia, đó là do sự biến
đổi chất gỗ bên ngoài, thường dùng để làm nhang
b./ Trầm hương: do sự phân hóa không trọn vẹn của các phần tử gỗ, gỗ ít
tẩm nhựa hơn, màu nâu hay có sọc đen, nhẹ, nổi được trong nước, dùng để chưng
cất tinh dầu