1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận công nghệ sản xuất protein (axit amin) từ vi sinh vật

47 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nghệ Sản Xuất Protein (Axit Amin) Từ Vi Sinh Vật
Tác giả Nguyễn Thừa Ngọc Châu
Người hướng dẫn Th.s Trần Quốc Huy
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm Tp.HCM
Chuyên ngành Công Nghệ Sinh Học Thực Phẩm
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2015
Thành phố Tp.HCM
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Protein đơn bào Protein đơn bào Single-cell protein – SCP là thuật ngữ thường dùng để chỉ phầnprotein thu được trong sinh khối khô của các tế bào hoặc tổng lượng protein tách chiếtđược t

Trang 1

(AXIT AMIN) TỪ VI SINH VẬT

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.s TRẦN QUỐC HUY

Trang 2

(AXIT AMIN) TỪ VI SINH VẬT

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.s TRẦN QUỐC HUY Thành viên nhóm:

Nguyễn Thừa Ngọc Châu 2008120150

Trang 3

1.3 Các nhóm vi sinh vật được sử dụng để sản xuất protein đơn bào 7

1.3.1 Yêu cầu đối với các chủng vi sinh vật sử dụng trong sản xuất. _7 1.3.2 Các nhóm vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào. 8

1.4 Các nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất protein đơn bào 10

1.4.1 Các sản phẩm thải trong nông nghiệp _10 1.4.2 Các sản phẩm phụ của các quá trình lên men công nghiệp. 11 1.4.3 Các sản phẩm, dịch chiết và dịch thủy phân từ nguyên liệu thực vật. 11 1.4.4 Các nguồn nhiên liệu có giá trị thương mại cao như khí đốt, methan, methanol và các n-alkan. _12

1.5 Quy trình sản xuất protein đơn bào 12 1.6 Chế biến protein đơn bào thành thực phẩm 13

1.6.1 Phá hủy thành tế bào: _13 1.6.2 Loại bỏ axit nucleic 14

1.7 Ưu nhược điểm của protein đơn bào. _14

1.7.1 Ưu điểm: 14 1.7.2 Nhược điểm: _15

PHẦN 2 MỘT SỐ QUY TRÌNH SẢN XUẤT PROTEIN ĐƠN BÀO 15

2.1 Sản xuất sinh khối nấm men từ nguồn nguyên liệu thông thường 15

2.1.1 Nguyên liệu và xử lý nguyên liệu _15 2.1.2 Rỉ đường 15 2.1.3 Các nguyên liệu khác: _17 2.1.4 Chủng nấm men: _18

2.2 Sản xuất sinh khối nấm men từ rỉ đường 18 2.3 Sản xuất sinh khối vi sinh vật từ nguyên lịêu chứa tinh bột hoặc xenluloza: 20 2.4 Sản xuất protein vi sinh vật từ dầu mỏ và khí đốt _20

2.4.1 Đặc điểm lịch sử: _20 2.4.2 Nguyên liệu _20 2.4.2.1 Dầu mỏ _20 2.4.2.2 Khí thiên nhiên _21 2.4.3 Các chủng vi sinh vật 22 2.4.3.1 Vi sinh vật phân giải cacbua hidro: _22 2.4.3.2 Vi sinh vật phân giải khí thiên nhiên: _22 2.4.4 Cơ chế chuyển hoá _22

2.5 Công nghệ sản xuất protein trên nguyên liệu polysacarit chưa thuỷ phân 23

Trang 4

2.5.2 Xử lý nguyên liệu và chuẩn bị môi trường 24 2.5.3 Nuôi cấy nhân giống _25 2.5.4 Các điều kiện kỹ thuật: _25 2.5.5 Thu hồi sinh khối: _25 2.5.6 Công nghệ sản xuất protein từ sắn không qua quá trình thuỷ phân ban đầu. 27 2.5.7 Sản xuất protein từ chuối: 27

2.6 Công nghệ sản xuất protein trên dịch thuỷ phân gổ. _28 2.7 Công nghệ sản xuất protein trên dịch thuỷ phân các nguyên liệu thực vật 28

2.7.1 Sản xuất protein trên nguyên liệu chiết ngô và nước chiết lúa mì. _28 2.7.1.1 Nguyên liệu: là nước chiết ngô và nước chiết lúa mì _28 2.7.1.2 Chủng nấm men: _29 2.7.1.3 Nuôi cấy nấm men: _29 2.7.2 Sản xuất sinh khối nấm men trên nguyên liệu nước chiết từ bã khoai tây _29 2.7.2.1 Nguyên liệu: _29 2.7.2.2 Hiệu suất tổng thu hồi. 30 2.7.2.3 Qui trình công nghệ: 30

2.8 Công nghệ sản xuất protein từ nguồn phê liệu xenluloza: _33

2.8.1 Phân lập vi khuẩn: 33 2.8.2 Qui trình công nghệ sản xuất protein vi khuẩn từ bả thải xenluloza 33

PHẦN 3 SẢN XUẤT AXIT AMIN 35

3.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN _35 3.2 CÁC AXIT AMIN SẢN XUẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG NGHIỆP _35 3.3 VI SINH VẬT TỔNG HỢP AXIT AMIN _36 3.4 CƠ CHẾ CHUNG SINH TỔNG HỢP CÁC AXIT AMIN _37 3.5 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CÁC AXIT AMIN _38

3.5.1 Sản xuất axit glutamic và bột ngọt. _38 3.5.1.1 Giống vi sinh vật 38 3.5.1.2 Cơ chế tạo thành axit glutamic. 39 3.5.1.3 Các vấn đề kỹ thuật _40 3.5.2 SẢN XUẤT L-LIZIN _41 3.5.2.1 Vi sinh vật dùng trong sản xuất 41 3.5.2.2 Cơ chế tổng hợp lizin 41 3.5.2.3 Các yếu tố kỹ thuật. _42

PHẦN 4 KẾT LUẬN _43

4.1 TÀI LIỆU THAM KHẢO: _43

Danh mục hình, bảng.

Bảng 1.1 Trung bình các thành phần trong tế bào ở các nhóm vi sinh vật chính (% khối lượng khô) theo

Miller and Litsky (1976) 8 Bảng 1.2 Một số loài vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào và nguồn carbon của chúng theo

Bhalla và cộng sự (2007) 9 Bảng 1.3 Một số loài vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào và nguồn carbon của chúng theo

Bhalla và cộng sự (2007) 10

Trang 5

Bảng 1.4 Một số loài vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào và nguồn carbon của chúng theo

Bhalla và cộng sự (2007) 10

Bảng 1.5 Một số phương pháp thường sử dụng để phá hủy thành tế bào vi sinh vật 14

Bảng 2.1 Thành phần của rỉ đường củ cải và rỉ đường mía chứa 75% chất khô 16

Hình 2.2 Quá trình chuẩn bị môi trường và nuôi cấy ở điều kiện vô trùng 26

Hình 2.3 Sơ đồ nuôi và thu sinh khối nấm men 27

Bảng 2.4 Thành phần nước chiết từ lúa mì và ngô 29

Hình 2.5 Sơ đồ kỹ thuật sản xuất nấm men chăn nuôi 31

Bảng 2.6 Quy trình nuôi cấy nấm men vô trùng 32

Hình 2.7 Sơ đồ quá trình sản xuất protein đơn bào từ bã thải xenluloza ( theo V.W.Han và cộng sự 1971) 34

Bảng 3.1 Sản lượng, phương pháp sản xuất và khả năng ứng dụng các axit amin 36

Hình 3.2 Cơ chế sinh tổng hợp các axit amin từ đường glucoza 38

Hình 3.3 Sự sản xuất thừa và sự tiết axit glutamic ở Corynebacterium glutamicum 39

Trang 6

PHẦN 1 TỔNG QUAN

1.1 Vai trò của protein đối với con người:

Cơ thể người và động vật thường xuyên đòi hỏi cung cấp các chất dinh dưỡng cótrong thức ăn để có thể tiến hành trao đổi chất, trước hết nhằm duy trì sự sống, tăng cườngsinh trưởng và phát triển

Thức ăn, ngoài nước còn gồm những nhóm chất: protein, chất béo, gluxit, vitamin,muối khoáng, các chất gia vị, trong đó phần lớn là protein

Protein là nguồn nitơ duy nhất cho người và động vật Trong quá trình tiêu hoá củangười và động vật, protein phân giải thành khoảng 20 axit amin thành phần, trong đó có 8axit amin không thay thế (hoặc 9 đối với trẻ em, 10 đối với lợn và 11 đối với gia cầm) cầnphải có sẵn trong thức ăn Nếu không nhận được các axit amin này cơ thể sẽ bị bệnh hoặcchết

Thiếu protein sẽ dẫn đến nhiều bệnh tật hết sức hiểm nghèo:

- Bệnh thiếu protein lần đầu tiên được phát hiện ở Châu Phi, có tên gọi quốc tế làKwashiokor, hiện này là bệnh phổ biến ở nhiều vùng trên thế giới Trẻ em mắc bệnh nàychậm lớn, còi cọc, kém phát triển về trí tuệ Bệnh này có thể điều trị bằng cách thêm vàokhẩu phần bệnh nhân một lượng thích đáng các loại protein có phẩm chất tốt như cazein.Tuy nhiên nhiều tài liệu cho thấy sự kém phát triển về trí tuệ vì bệnh này không phục hồiđược và ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc đời của bệnh nhân

- Về mặt sinh lý, thiếu protein dẫn đến giảm thể trọng Hàng ngày cơ thể ngườitrưởng thành có tới 100 tỉ tế bào chết và cần thay thế Thiếu protein thì trước hết proteincủa gan, máu và chất nhày niêm mạc, ruột được huy động để bù đắp Và như vậy sẽ dẫnđến suy gan, số lượng kháng thể trong máu giảm đi, sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh

bị yếu

Về nhu cầu protein của người, nhiều nhà nghiên cứu cho biết dao động trong khoảng

80 – 120g/ngày

1.2 Các khái niệm chung

1.2.1 Protein đơn bào

Protein đơn bào (Single-cell protein – SCP) là thuật ngữ thường dùng để chỉ phầnprotein thu được trong sinh khối khô của các tế bào hoặc tổng lượng protein tách chiếtđược từ môi trường nuôi cấy vi sinh vật, được sử dụng làm nguồn thức ăn cho con ngườihay nguồn thức ăn chăn nuôi

Thuật ngữ “protein đơn bào” được GS C.L.Wilson đưa ra vào năm 1966, được dùngthích hợp hơn đối với hầu hết các vi sinh vật đơn bào hoặc cá thể dạng sợi

Các protein đơn bào có thành phần protein cao (60-80% khối lượng khô của tế bào),chất béo, carbohydrate, axit nucleic, vitamin và chất khoáng Chúng cũng chứa nhiều cácaxit amin thiết yếu như Lysin và Methionine

1.2.2 Công nghệ sản xuất protein đơn bào

Công nghệ sản xuất protein đơn bào là công nghệ nuôi cấy và thu sinh khối các vi

Trang 7

sinh vật Nó ra đời được coi là một phương pháp hứa hẹn có thể giải quyết được vấn đềthiếu protein trên toàn thế giới Công nghệ sản xuất protein đơn bào bao gồm cả các quátrình chuyển vị sinh học, biến đổi các sản phẩm phụ ít giá trị và chi phí thấp, thường làcác chất thải, trở thành sản phẩm với giá trị dinh dưỡng và giá trị thị trường cao hơn.

Sản xuất protein đơn bào đòi hỏi phải vận dụng các kiến thức về lên men, công nghệsản xuất sinh khối, nuôi cấy vi sinh vật

Đầu thế kỉ 20, sự áp dụng rộng rãi các chương trình phát triển nông nghiệp đã làmcho các nguồn thức ăn thực vật, như đậu nành, ngô, lúa mì và gạo luôn ở trong tình trạngsẵn có Ngoài ra, sự phát triển về chính trị và kinh tế đã thay đổi trật tự thế giới từ một hệthống các khối nước trở nên toàn cầu hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở cửa giaodịch các sản phẩm nông nghiệp Các sản phẩm nông nghiệp này vượt trội so với proteinđơn bào trên cơ sở giá cả sản xuất thấp hơn Tuy nhiên, sự kết hợp giữa việc sản xuấtphức tạp với các công nghệ chế biến thực phẩm đã mang lại một thế hệ sản phẩm proteinđơn bào mới, có thể sử dụng để thay thế các loại thịt hay dùng làm chất tăng cường hương

vị Các ứng dụng trong tương lai của việc biểu hiện protein dị hợp thể có thể phát triểnhơn nữa tiềm năng của dạng thực phẩm này, tạo ra các sản phẩm phù hợp với yêu cầu củachế độ ăn uống hay tạo thành các dòng sản phẩm có giá trị cao

Sản xuất protein đơn bào ở quy mô công nghệp có một số đặc điểm như sau:

- Sử dụng đa dạng các phương pháp, loại nguyên liệu thô và loại vi sinh vật khácnhau

- Có hiệu quả biến đổi cơ chất ban đầu cao

- Năng suất cao nhờ vào tốc độ tăng trưởng nhanh của các vi sinh vật

- Không phụ thuộc vào các yếu tố mùa hay thời tiết

1.2.3 Đặc điểm của sản xuất Protein đơn bào:

Chi phí lao động ít hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp

Có thể sản xuất ở bất kỳ địa điểm nào trên trái đất, không chịu ảnh hưởng của khí hậuthời tiết,các quá trình công nghiệp , dễ cơ khí hoá và tự động hoá

Năng suất cao: vi sinh vật có tốc độ sinh sản mạnh, khả năng tăng trưởng nhanh Chỉtrong một thời gian ngắn có thể thu nhận được một khối lượng sinh khối rất lớn; thời giannày được tính bằng giờ, còn ở động vật và thực vật, tính bằng tháng hoặc hàng chục năm

Sử dụng các nguồn nguyên liệu rẻ tiền và hiệu suất chuyển hoá cao Các nguyên liệuthường là phế phẩm, phụ phẩm của các ngành khác như rỉ đường, dịch kiềm sufit, parafindầu mỏ v v , thậm chí cả nước thải của một quá trình sản xuất nào đó Hiệu suất chuyểnhoá cao: hidrat cacbon được chuyển hoá tới 50%, cacbuahidro tới 100% thành chất khôcủa tế bào

Hàm lượng protein trong tế bào rất cao: ở vi khuẩn là 60 -70%, ở nấm men là 40-50%chất khô v v… Hàm lượng này còn phụ thuộc vào loài và chịu nhiều ảnh hưởng của điềukiện nuôi cấy Cần chú ý rằng hàm lượng protein ở đây chỉ bao hàm protein chứ khônggồm cả thành phần nitơ phi protein khi xác định theo phương pháp nitơ tổng số củaKjeldal, như axit nucleic, các peptit của thành phần tế bào

Trang 8

Chất lượng protein cao: Nhiều axit amin có trong vi sinh vật với hàm lượng cao,giống như trong sản phẩm của thịt, sữa và hơn hẳn protein của thực vật Protein vi sinhvật đặc biệt giàu lizin, là một lợi thế lớn khi bổ sung thức ăn và chăn nuôi, vì trong thức

ăn thường thiếu axit amin này Trái lại, hàm lượng các axit amin chứa lưu huỳnh lại thấp.Khả năng tiêu hoá của protein: có phần hạn chế bởi thành phần phi protein như axitnucleic, peptit của thành tế bào, hơn nữa, chính thành và vỏ tế bào vi sinh vật khó cho cácenzim tiêu hoá đi qua

An toàn về mặt độc tố: Trong sản xuất protien đơn bào không dùng vi sinh vật gâybệnh cũng như loài chứa thành phần độc hoặc nghi ngờ Vì vậy đến nay hầu như SCP chỉdùng trong dinh dưỡng động vật

Những vấn đề kỹ thuật: Sinh khối vi sinh vật phải để tách và xử lý Vấn đề này phụthuộc chủ yếu vào kích thước tế bào Sinh khối nấm men dễ tách bằng li tâm hơn vikhuẩn Ngoài ra, vi sinh vật nào có khả năng sinh trưởng ở mật độ cao sẽ cho năng suấtcao, sinh trưởng tốt ở nhiệt độ cao (có tính chất ưa nhiệt và chịu nhiệt) sẽ giảm chi phí vềlàm nguội trong sản xuất, ít mẫn cảm với tạp nhiễm v v sử dụng các nguồn cacbon rẻtiền, chuyển hoá càng nhiều càng tốt thì sẽ được dùng trong sản xuất Vì vậy nấm menđược sử dụng chủ yếu trong sản xuất protein đơn bào

Như vậy ưu điểm của sản xuất protein đơn bào là có thể phân lập và lựa chọn cácchủng vi sinh vật có ích và thích hợp cho các qui trình công nghệ, cho từng nguyên liệu 1cách tương đối nhanh và dễ dàng

1.2.4 Lịch sử nghiên cứu và sản xuất protein đơn bào

Người tiên phong nghiên cứu và xây dựng công nghệ này là nhà khoa học người

Đức Max Delbruck và các cộng sự của ông cách đây gần 1 thế kỉ Họ là người đầu

tiên chú ý đến giá trị của các nấm men rượu dư thừa trong việc tạo nguồn thức ăn

cho vật nuôi

Trong chiến tranh Thế giới thứ nhất, người Đức đã thay thế phần nửa nguồn

protein quan trọng bằng nấm men Vì các nấm men rượu từ công nghiệp sản xuất bia

không đủ số lượng để đáp ứng nhu cầu protein thức ăn, một tỉ lệ rất lớn sinh khối

nấm men được sản xuất trong điều kiện hiếu khí trong môi trường bán tổng hợp

chứa nguồn nitơ là các muối ammonium Phương pháp này hiệu quả hơn so với lên

men, nhưng vẫn có hiện tượng lên men một số chất trong nguồn cacbon, đồng thời

năng suất sinh khối thu được là không tối ưu

Vào năm 1919, Sak (Đan Mạch) và Hayduck (Đức) đã phát minh ra một quy

trình mới, đưa dung dịch đường vào dịch huyền phù chứa nấm men thay vì đưa thêm

nấm men vào một dung dịch đường đã pha loãng Công nghệ này đến ngày nay vẫn

được sử dụng

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, sự quan tâm của người Đức đến

nấm men đã giảm xuống, nhưng đến 1936, người ta tiếp tục sử dụng nấm men rượu

Trang 9

và một số loài nấm men khác, đặc biệt là các loài được nuôi cấy với số lượng lớn để

làm thức ăn bổ sung cho con người và động vật Kể từ đó, ưu điểm của việc nuôi cấy

nấm men trong môi trường giàu dinh dưỡng và điều kiện hiếu khí đã được nhận ra

một cách đầy đủ và nhanh chóng trở thành một phương tiện để sản xuất thức ăn trên

quy mô công nghiệp

Vào thời điểm bắt đầu Chiến tranh thế giới thứ II, nấm men được sử dụng trước

hết làm thức ăn trong quân đội, sau đó áp dụng cho tất cả các công dân Người ta đã

hi vọng có thể sản xuất được hơn 100,000 tấn mỗi năm, tuy nhiên trên thực tế, sản

lượng chưa bao giờ vượt quá 15,000 tấn, do việc sản xuất liên tục bị gián đoạn bởi

chiến tranh

Việc sử dụng nấm men làm thức ăn trong giai đoạn này bắt đầu từ Đức, sau đó

được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Phòng thí nghiệm các sản phầm

rừng của Sở nông nghiệp Hoa Kỳ đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm nuôi cấy nấm

men Candida utilis trên môi trường chứa sulfit là chất thải trong quá trình sản xuất

giấy

Sau chiến tranh, vấn đề sản xuất protein đơn bào ngày càng được chú trọng để

giải quyết các vấn đề của nhân loại trên quy mô toàn cầu Đầu những năm 60, một

số công ti đa quốc gia đã quyết định nghiên cứu sản xuất sinh khối vi sinh vật để

làm nguồn protein thức ăn Các cơ chế cơ bản quyết định sự tăng trưởng của các

sinh vật như nấm men và nấm sợi đã được lám sáng tỏ, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó

khăn trong ứng dụng các cơ chế trên trong công nghiệp, do đó người ta tiếp tục đẩy

mạnh nghiên cứu

Người ta tiếp tục tìm kiếm các loại cơ chất với giá thành thấp Các sản phẩm phụ

trong công nghiệp như sữa phomat, rỉ đường hay các cơ chất giá thành rẻ như tinh

bột, ethanol và methanol, sulfit từ quá trình sản xuất giấy đã được chọn để sử dụng

trong quá trình sản xuất protein đơn bào Lợi ích của việc sản xuất protein đơn bào

không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thêm nguồn thức ăn cho con người nữa mà còn

hạn chế sự lãng phí các sản phẩm phụ trong các quá trình sản xuất khác và bảo vệ

môi trường

Vào giữa thập niên 60, người ta đã sản xuất được hàng triệu tấn nấm men thực

phẩm ở các vùng khác nhau trên thế giới Liên bang Soviet đã lên kế hoạch sản xuất

thường niên 900,000 tấn kể từ năm 1970 để bù đắp lại sự thiếu hụt của protein nông

nghiệp Đến năm 1980, quá trình sản xuất protein đơn bào tiếp tục được mở rộng ở

các nước phát triển và được dự kiến tiến hành ở các quốc gia đang phát triển Từ đó

đến nay, quy trình sản xuất protein đơn bào được không ngừng nghiên cứu phát triển

hoàn thiện, tìm kiếm các cơ chất và các loài vi sinh vật phong phú hơn, phục vụ nhu

Trang 10

cầu của con người ở khắp các quốc gia trên thế giới.

1.3 Các nhóm vi sinh vật được sử dụng để sản xuất protein đơn bào

1.3.1 Yêu cầu đối với các chủng vi sinh vật sử dụng trong sản xuất.

 Thời gian sinh trưởng ngắn

 Có khả năng tạo thành lượng protein lớn, từ 40-70% sinh khối khô của tế bào

 Có khả năng tận dụng được tối đa các chất dinh dưỡng trong môi trường

nuôi cấy

 Không có độc tố, không có khả năng gây bệnh

 Có sức bền cao, ít bị nhiễm trong quá trình nuôi cấy, dễ tách khỏi dịch nuôicấy

Ngoài ra, phần trăm axit nucleic của tế bào vi sinh vật cũng là một yếu tố quan

trọng cần xem xét Quá trình hấp thụ axit nucleic quá mức có thể dẫn đến lắng đọng

axit uric, gây ra một số bệnh như gout hay hình thành sỏi thận, nên đối với người thì

thành phần axit nucleic này phải giảm xuống dưới 2% Do đó, người ta đã áp dụng

một vài kĩ thuật để giảm thành phần axit nucleic trong tế bào vi sinh vật, bao gồm cả

quy trình về hóa học và enzyme

1.3.2 Các nhóm vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào.

Người ta sử dụng nhiều nhóm vi sinh vật khác nhau để sản xuất protein đơn bào,

bao gồm:

- Các nhóm vi khuẩn: Cellulomonas, Alcaligenes,…

- Nấm men: Candida, Saccharomyces,…

- Nấm sợi: Trichoderma, Fusarium, Rhizopus,…

- Các nhóm tảo: Spirulina, Chlorella,…

Giá trị dinh dưỡng của chúng được trình bày trong Bảng 1 [1]:

Thành phần Nấm Tảo Nấm men Vi khuẩn

Protein 30-45 40-60 45-55 50-65

Chất béo 2-8 7-20 2-6 1-3

Các chất vô cơ 9-14 8-10 5-10 3-7

Axit nucleic 7-10 3-8 6-12 8-12

Bảng 1.1 Trung bình các thành phần trong tế bào ở các nhóm vi sinh vật chính (%

khối lượng khô) theo Miller and Litsky (1976)

Trang 11

Người ta đã ước tính rằng, 100 pound nấm men có thể sản xuất ra 250 tấn

protein trong vòng 24h Đối với tảo nuôi cấy trong ao thì năng suất protein thu được là

20 tấn sinh khối khô/acre/năm Vi khuẩn thì cho lượng protein cao, có thể lên đến 80%

và có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, tuy nhiên lại có nhiều nhược điểm

Nấm men là loài có nhiều ưu điểm, ví dụ như kích thước lớn, dễ thu sinh khối,

hàm lượng axit nucleic trong tế bào thấp, hàm lượng lysine cao, có khả năng sinh

trưởng ở pH axit Tuy nhiên, đặc điểm quan trọng nhất là nó rất phổ biến và được chấp

nhận rộng rãi vì đã được sử dụng từ rất lâu trong công nghệ lên men truyền thống

Nhược điểm của nấm men bao gồm tốc độ sinh sản chậm, hàm lượng protein cũng như

methionine thấp hơn so với vi khuẩn Nấm sợi cũng có những ưu điểm tương tự, dễ thu

hoạch, tuy nhiên hạn chế về tốc độ sinh trưởng, hàm lượng protein và ít được chấp

nhận hơn so với nấm men

Một nhóm vi sinh vật khác là tảo thì lại có nhược điểm là thành tế bào cấu tạo từ

cellulose – loại phân tử mà con người không tiêu hóa được, bên cạnh đó nó còn chứa

nhiều kim loại nặng Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằn, vì lý do kĩ thuật và kinh tế thì người

ta thường thu cả sinh khối tảo chứ không tách riêng protein của nó, do vậy đôi lúc thuật

ngữ protein đơn bào ở đây chưa hoàn toàn chính xác Protein của tảo thường có chất

lượng cao, có thể sánh được với protein từ thực vật

Sản xuất protein đơn bào từ các vi sinh vật khác nhau, cụ thể là từ nấm và vi

khuẩn đã nhận được sự quan tâm đáng kể, ngược lại nghiên cứu sản xuất và sử dụng

thành công protein trên tảo hiện nay còn chưa nhiều, do giá thành sản xuất cao hơn và

khó khăn hơn về mặt kĩ thuật

Một vài loài tảo, nấm sợi, nấm men và vi khuẩn được sử dụng làm protein đơn

bào và hiện đang được sản xuất thương mại, cùng với nguồn carbon của nó được thể

hiện trong Bảng:

Chondrus crispus, Scenedesmus sp,

Spirulina sp., Porphyrium sp, Chlorella

pyrenoidosa, Chlorella sorokiana.

CO2 dùng cho quang hợp

Bảng 1.2 Một số loài vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào và nguồn

carbon của chúng theo Bhalla và cộng sự (2007)

Trang 12

Bảng 1.3 Một số loài vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào và nguồn

carbon của chúng theo Bhalla và cộng sự (2007)

Bảng 1.4 Một số loài vi sinh vật sử dụng trong sản xuất protein đơn bào và nguồn

carbon của chúng theo Bhalla và cộng sự (2007) 1.4 Các nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất protein đơn bào

Scytalidium aciduphlium, Thricoderma

viridae,Thricoderma alba Cellulose, pentose

Rhizopus chinensis Glucose, maltose

Penicillium cyclopium Glucose, lactose,

Galactose

Aspergillus niger, A.oryzae,Cephalosporium

eichhorniae, Chaetomium cellulolyticum Cellulose, hemicellulose

Aspergillus fumigatus Maltose, glucose

Saccharomyces cereviciae Lactose, pentose, maltose

Candida intermedia

Lactose

Candida novellas n-alkan

Candida utilis Glucose

Candida tropicalis Maltose, glucose

Amoco torula Ethanol

Trang 13

Các nguồn nguyên liệu hiện đang được sử dụng để sản xuất protein đơn bào rất

phong phú và đa dạng, có thể liệt kê một số loại chính như sau:

1.4.1 Các sản phẩm thải trong nông nghiệp

Cellulose từ nguồn nông nghiệp và lâm nghiệp là nguồn nhiên liệu tái tạo nhiều

nhất trên hành tinh này, đồng thời là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho sản xuất

protein đơn bào Trong tự nhiên, cellulose thường ở dạng phức hợp với lignin,

hemicellulose, tinh bột và có cấu tạo phức tạp, do vậy, để sử dụng dưới dạng cơ chất

nó phải được xử lý hóa học (phân giải bằng axit hay kiềm) hoặc bằng các enzyme

(cellulase) để phân giải cellulose thành các đường mà tế bào vi sinh vật sử dụng

được

Lignocellulose là nguồn nguyên liệu từ gỗ, đòi hỏi phải xử lý trước khi sử dụng

làm cơ chất cho sản xuất protein đơn bào Có nhiều cách xử lý khác nhau, ví dụ như

phân giải bằng axit hay kiềm, bằng hơi nước hay thậm chí dùng phóng xạ tia X [2]

Người ta có thể nấu gỗ trong dung dịch chứa Canxi sulfit Đến ngày nay, để tận

dụng các nguồn lignocellulose là sản phẩm thải người ta dùng các nhóm nấm, trong

đó được biết rõ nhất là Agaricus bisporus và một số các nhóm khác chứa enzyme

phân giải lignocellulose

1.4.2 Các sản phẩm phụ của các quá trình lên men công nghiệp.

Dịch kiềm sulfit – sản phẩm phụ của quá trình sản xuất giấy đã được sử dụng

làm cơ chất để lên men kể từ nawmg 1909 ở Thụy Điển và sau đó ở nhiều nơi trên

thế giới Dạng vi sinh vật đầu tiên được sử dụng trong quá trình này là

Saccharomyces cerevisiae, mặc dù loài vi sinh vât này không có khả năng chuyển

háo pentose – loại hợp chất có mặt với lượng lớn trong sản phẩm thải này Sau đó,

người ta tìm ra các loài vi sinh vật thích hợp hơn như Candida tropicalis hay

Candida utilis.

Rỉ đường là một sản phẩm phụ của quá trình lên men đường Dịch đường nồng

độ cao thu được từ quá trình xay xát mía hay củ cải đường được làm lạnh để đường

kêt tinh Khi đường không kết tinh nữa thì người ta thu được phần dung dịch còn lại,

đó là rỉ đường Đối với 100kg thực vật có thể thu được 3.5 đến 4.5 kg rỉ đường Bên

cạnh nồng độ đường cao, rỉ đường còn chứa các chất khoáng, các hợp chất hữu

cơ và vitamin có giá trị cao trong công nghiệp lên men Tuy nhiên, sản xuất sinh

khối vi sinh vật từ rỉ đường đòi hỏi phải bổ sung thêm nguồn nitơ và photpho phù

hợp Nguồn nitơ truyền thống là các muối amonium, nguồn photpho thêm vào

thường ở dạng muối

Trang 14

1.4.3 Các sản phẩm, dịch chiết và dịch thủy phân từ nguyên liệu thực vật.

Tinh bột thu được từ các loài thực vật có củ ở các nước nhiệt đới và ôn đới, từ

gạo, ngô và ngũ cốc là nguồn nguyên liệu để sản xuất protein đơn bào Ở các nước

nhiệt đới, người ta còn sử dụng sắn như một nguồn nguyên liệu sản xuất protein đơn

bào Quy trình sản xuất này sử dụng một số loài vi sinh vật có enzyme amylase như

Endomycosis fibuligira, sau đó đưa dịch nuôi cấy sau khi phân hủy tinh bột qua nồi

lên men có chứa một loại vi sinh vật có tốc độ sinh trưởng nhanh như Candida utilis.

Dịch chiết của một số loại quả như đủ đủ, dứa, chuối cũng là nguồn cơ chất để

tổng hợp protein đơn bào Dịch chiết đu đủ có hàm lượng chất dinh dưỡng cao:

saccharride chiếm 9.6%, protein, protein chiếm 0.2%, đường hòa tan chiếm khoảng

7%; đường hòa tan trong đu đủ ở dạng glucose, fructose và sucrose, đồng thời đây là

loài thực vật có năng suất cao, sinh trưởng tương đối nhanh Một loại quả khác là

chuối cũng là nguyên liệu để sản xuất protein đơn bào Điều này có rất có ích trong

việc tận dụng nguồn sản phẩm dư thừa do không đủ chất lượng xuất khẩu ở các quốc

gia có trồng nhiều loại cây ăn quả này

1.4.4 Các nguồn nhiên liệu có giá trị thương mại cao như khí đốt, methan,

methanol và các n-alkan.

Các vi sinh vật liên quan đến quá trình sản xuất protein đơn bào từ nguồn cơ

chất trên chủ yếu là các vi khuẩn và nấm men Nhiều quá trình hiện nay đang trong

giai đoạn nghiên cứu Việc sử dụng nguồn hợp chất nhiên liệu trên để sản xuất thức

ăn từ lâu đã được nhiều nhà khoa học đặt ra Công ti dầu mỏ của Anh đã sử dụng hai

loại nấm men Candida lipolytica và C tropicalis với nguồn cơ chất là các alkan có

mạch Carbon từ 12 đến 20 nguyên tử có trong phần dẻo của khí gas Một vài loại

dầu thô có chứa phần này chiếm khoảng 15% Sản phẩm thu được từ quá trình này

còn gọi là TOPRINA, đã được kiểm tra độc tính và khả năng gây ung thư trong vòng

12 năm, sau đó đã được sử dụng làm nguồn thức ăn thay thế có hàm lượng protein

cao cho cá hoặc dùng làm bột sữa không béo Tuy nhiên, do giá dầu mỏ ngày càng

cao, nhiều nước đã ngừng sử dụng nguồn nguyên liệu này để sản xuất protein đơn

bào Thay vào đó, người ta tăng cường nghiên cứu sử dụng methane làm nguồn cơ

chất Vi sinh vật phù hợp với nguồn cơ chất này mà đã được nghiên cứu kĩ là

Methylomonas methanica, nuôi cấy trong môi trường có chứa muối nitrat hay muối

ammonium làm nguồn nitơ

Mặt khác, methanol cũng là một nguồn chất được quan tâm Lên men trên quy

mô lớn để thu sinh khối của Methylophilus methtlotrophus từ nguồn cơ chất là

methanol là phương pháp được xây dựng để sản xuất protein đơn bào từ nguồn này,

và sản phẩm của quy trình này được sử dụng làm thức ăn cho vật nuôi Methanol với

vai trò là nguồn carbon để sản xuất protein đơn bào có nhiều ưu điểm vượt trội hơn

Trang 15

so với n-paraffin, khí metan hay thậm chí một số hợp chất carbohydrate.

1.5 Quy trình sản xuất protein đơn bào

Quá trình lên men tạo sinh khối yêu cầu lựa chọn loại vi sinh vật được có giai

đoạn sinh lý phù hợp, khử trùng môi trường nuôi cấy và các thiết bị dùng để giữ môi

trường nuôi ở trạng thái sẵn sàng, tách tế bào, thu các tế bào ở phần dịch nổi, tinh

chế và xử lý, bộ ổn nhiệt để điều hòa nhiệt độ, dụng cụ xác định pH và các thiết bị

điều khiến khác để điều hòa các yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng ở mức ổn định

Sau khi chuẩn bị, nuôi cấy vi sinh vật ở điều kiện thích hợp trong môi trường đã

chuẩn bị Quá trình này đòi hỏi phải kiểm soát nồng độ carbon ở mức thích hợp

cũng như cung cấp đủ oxy để duy trì điều kiện hiếu khí cần cho sự sinh trưởng của

vi sinh vật Vì đây là một quá trình phụ thuộc vào thời gian, nên việc biến đổi liên

tục các yếu tố của môi trường sẽ ảnh hưởng đến sinh lý của tế bào, trong đó nồng độ

cơ chất có ảnh hưởng lớn nhất Vì thế, người ta sử dụng phương pháp nuôi cấy liên

tục để có thể kiểm soát nguồn Carbon đưa vào môi trường, đồng thời lấy ra một

lượng vi sinh vật nhất định để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho lượng vi sinh vật ở

trong thùng nuôi cấy Các phương pháp thường được áp dụng bao gồm: lên men nổi,

lên men chìm và lên men trên pha rắn

Sau khi nuôi cấy, cần thu sinh khối vi sinh vật Hiện nay có nhiều phương pháp

để cô đặc dịch nuôi cấy như lọc, để lắng, li tâm và dùng các màng bán thấm Người

ta thường thu sinh khối nấm men bằng cách li tâm, còn đối với nấm sợi thường thu

bằng cách lọc Tuy nhiên, các thiết bị cần thiết tường đắt và không phù hợp với sản

xuất ở quy mô nhỏ cũng như mở rộng sản xuất Việc loại bỏ lượng nước là rất cần

thiết để giữ các chất ổn định để lưu trữ nhưng lại không dễ thực hiện Protein đơn

bào cần phải được sấy đến độ ẩm 10% hoặc phải làm cô đặc lại và biến tính để đề

phòng chúng bị hỏng

1.6 Chế biến protein đơn bào thành thực phẩm

Để sử dụng hiệu quả các protein vi sinh vật làm thức ăn cho người, cần các điều

kiện sau:

- Giải phóng protein tế bào bằng cách phá hủy hay phân hủy thành tế bào

- Làm giảm hàm lượng axit nucleic trong tế bào

1.6.1 Phá hủy thành tế bào:

Có thể phá hủy thành tế bào vi sinh vật bằng nhiều cách: ép, bẻ vụn, nghiền,

dùng áp lực hay phá hủy bằng sóng âm Ngoài ra người ta còn sử dụng các enzyme

hay hỗn hợp enzyme để phân hủy từng phần hoặc hoàn toàn thành tế bào Thủy phân

Trang 16

thành tế bào nhờ enzyme có hiệu quả cao hơn do tác động đặc hiệu Phương pháp

enzyme có thể dùng để thay thế phá hủy cơ học, đặc biệt là đối với các nguyên liệu

có thể bị bất hoạt do yếu tố cơ học, người ta sử dụng cả các enzyme nội bào và ngoại

bào do các vi sinh vật khác tiết ra Tuy nhiên, quá trình này diễn ra chậm hơn so với

dùng phương pháp cơ học hoặc hóa học, do vậy, người ta thường sử dụng phối hợp

nhiều phương pháp để có hiệu quả cao hơn

Phương pháp phi-cơ học Phương pháp cơ học

Xử lý hóa học: dùng axit, bazơ, các chất

hòa tan, chất tẩy rửa Dùng áp lực cao

Phân giải bằng enzyme: enzyme thủy phân,

dùng phage, tự phân hủy Nghiền ướt, sử dụng các hạt nghiền Dùngsóng âm để phá hủy tế bào Nén tế bào

Dùng các phương pháp vật lý: làm đông

lạnh-để tan, sốc thẩm thấu, dùng nhiệt và

sấy khô

Dùng áp suất cao ở nhiệt độ thấp

Bảng 1.5 Một số phương pháp thường sử dụng để phá hủy thành tế bào vi sinh vật

1.6.2 Loại bỏ axit nucleic

Các phương pháp dùng để loại bỏ axit nucleic trong tế bào bao gồm phương

pháp xử lý hóa học và xử lý bằng enzyme Mỗi phương pháp đều có nhược điểm là

giá thành đắt và có thể ảnh hưởng đến thành phần dinh dưỡng trong tế bào

Một số phương pháp:

- Tách axit nucleic bằng các rượu, muối, acid và kiềm

- Tách axit nucleic khỏi sinh khối vi sinh vật bằng kiềm ở nhiệt độ cao, tuy

nhiên phương pháp này có thể tạo ra các chất độc, ví dụ như lysinoalanine

- Xử lý bằng anhydrid để biến đổi cấu trúc nucleoprotein ở nấm men

Trang 17

- Sử dụng các enzyme nuclease để phân giải axit nucleic.

1.7 Ưu nhược điểm của protein đơn bào.

1.7.1 Ưu điểm:

- Vi sinh vật có tốc độ nhân đôi và tăng trưởng nhanh, thu sinh khối trong

thời gian ngắn

- Vi sinh vật có hàm lượng protein tương đối cao

- Các vi sinh vật có khả năng sử dụng một số lượng nguồn carbon phong phú đểtạo thành năng lượng, trong đó có một số nguyên liệu được tái sử dụng từ nguồn chất thảinông nghiệp hay công nghiệp

- Các chủng vi sinh vật với năng suất cao cũng như thành phần chất dinh dưỡngphù hợp có thể được chọn lọc và nuôi cấy với số lượng lớn trong điều kiện phòng thínghiệm, đồng thời cũng có tiềm năng áp dụng ở quy mô công nghiệp

- Sinh khối viinh vật dùng để thu protein đơn bào không phụ thuộc vào mùa cũngnhư biến đổi khí hậu

1.7.2 Nhược điểm:

Bên cạnh các ưu điểm trên, việc sử dụng các nguồn vi sinh vật hay sinh khối vi

sinh vật làm thức ăn hay sản xuất protein đơn bào cũng có nhiều nhược điểm cần

phải khắc phục, bao gồm:

- Nhiều loài vi sinh vật có thể tạo ra các chất gây độc cho cơ thể người và cơ thể

động vật, Vì vậy, khi chọn lựa một loài vi sinh vật để tiến hành sản xuất phải đảm

bảo nó không chứa bất kì chất độc nào

- Đôi khi sử dụng sinh khối vi sinh vật để làm nguồn thức ăn bổ sung có thể dẫn

đến khó tiêu hoặc không tiêu hóa được, thậm chí gây phản ứng dị ứng cho người

- Hàm lượng axit nucleic cao trong sinh khối khô của nhiều loài vi sinh vật cũng

là một yếu tố gây ảnh hưởng không mong muốn cho con người Đôi khi hàm lượng

axit nucleic cao này có thể dẫn đến sự hình thành sỏi thận hay bệnh gout

- Khả năng chứa các hợp chất gây độc hay gây ung thư cho con người

PHẦN 2 MỘT SỐ QUY TRÌNH SẢN XUẤT PROTEIN

ĐƠN BÀO

2.1 Sản xuất sinh khối nấm men từ nguồn nguyên liệu thông thường

2.1.1 Nguyên liệu và xử lý nguyên liệu

Các dạng nguyên liệu chứa hydrat cacbon thường là các phụ phẩm và phế phẩm sau:

- Các sản phẩm chứa sacaroza của công nghiệp chế biến đường (rỉ đường mía, rỉ

đường củ cải, bã mía, cặn rỉ đường, nước rửa thô )

Trang 18

- Nước thải của nhà máy sữa còn chứa nhiều lactoza

- Dịch kiềm sunfit có chứa nhiều pentoza, hexoza, dịch thuỷ phân gỗ

- Các nguyên liệu chứa tinh bột và xenluluza khác

Điểm chung nhất dễ nhận thấy ở các dạng nguyên liệu trên là ngoài đường, chúngcòn chứa nhiều axit hữu cơ, N.P,S và các chất khác Sự phức tạp này nảy sinh hiện tượngsinh trưởng kép làm cản trở sử dụng chúng trong nuôi cấy liên tục một giai đoạn

2.1.2 Rỉ đường

Về lý thuyết: Từ 1g C6H12O6 có thể thu được 0,5 g sinh khối nấm men khô (theonghiên cứu của A.J.Forage):

C6H12O6 (1g) + O2 (0,4g) CO2 (0,67g) + H2O (0,27g)

+ NH3 (0.05g) Q(1,25kcal) Sinh khối nấm men khô 0,5gHoặc theo nghiên cứu C.L Cooorey

C6H12O6 (2kg) + O2 (0,7g) Sinh khối nấm men khô (1kg)

+ N,P,K, Mg, S(0,1kg) + CO2 (1,1g) + H2O (0,7g)

Các nguyên liệu chứa sacaroza (rỉ đường ) là dạng nguyên liệu lý tưởng nhất đếnsản xuất protein đơn bào, vì các nguyên liệu này chứa nhiều yếu tố kích thích sinhtrưởng, khí,biotin và sản phẩm protein thu được hầu như sạch, không độc

Rỉ đường được dùng làm các cơ chất cho nhiều quá trình lên men vì:

- Giá thành rẻ hơn các nguyên liệu chứa đường khác

- Ngoài đường sacaroza, rỉ đường còn chứa một số chất vô cơ, hữu cơ và vitamin cógiá trị

Thành phần của rỉ đường mía và rỉ đường củ cải có sự khác nhau được ở bàng 2.1

cải

Rỉ đường mía

Đường tổng số % 48 – 52 48 – 56

Chất hữu cơ không phải đường

%

12 – 17 9 – 12Protein (Nx6,25) % 6 – 10 2 – 4

Trang 19

Sự khác biệt cơ bản giữa 2 loại nguyên liệu này là:

- Rỉ đường mía nói chung có pH thấp hơn (5,5 – 6,5) do sự có mặt của các axit béo

và pH thấp dùng trong quá trình làm trong

- Rỉ đường mía có màu tối hơn đường củ cải nên khi dùng không trộn với rỉ đường

củ cải thì nấm men thu được sẽ có màu tối hơn

- Rỉ đường củ cải chứa nhiều đường sacaroza hơn rỉ đường mía vì trong rỉ đường

củ cải hầu như không có một loại đường chuyển hoá nào (có khi chỉ có khoảng 1%)

trong khi rỉ đường mía có thể chứa tới 15-25% hidrat cacbon của nó dưới dạng đường

chuyển hoá

- Nói chung, rỉ đường củ cải chứa nitơ hữu cơ năm lần cao hơn rỉ đường mía,

nhưng một nửa là betain, một thành phần không được Saccharomyces đồng hoá, trong

khi đó betain không có mặt trong rỉ đường mía

- Sự khác biệt về hàm lượng vitamin trong rỉ đường mía và đưòng củ cải cũng là

tiêu chuẩn quan trọng:

+ Các chất sinh trưởng có mặt trong rỉ đường mía với hàm lượng lớn: rỉđường mía chứa khoảng 2,5 µg biotin/g gấp 20 lần hơn rỉ đường củ cải

+ Trong khi đó rỉ đường mía nghèo các chất khoáng và axit amin: rỉ đường

củ cải chứa axit pantothenic gấp 2-4 lần so với rỉ đường mía

Như vậy, rỉ đường dùng nuôi cấy nấm men không những là nguồn đường mà còn

cung cấp các hợp chất hữu cơ khác, các muối khoáng cần thiết và các nhân tố sinh

trưởng

Tuy nhiên, ngoài các thành phần có ích cho sự sinh trưởng của nấm men, rì đường

cũng có thể chứa các hợp chất có hại có thể làm hư hỏng quá trình lên men: Hàm

lượng canxi cao nói lên chất lượng thấp của rỉ đường và có thể gây nên những khó

khăn trong việc sản xuất nấm men Rỉ đường cũng có thể dễ dàng nhiễm các vi sinh

vật và gây nên những vấn đề không có lợi trong lên men

Xử lý rỉ đường:

Rỉ đường cần được xử lý chút ít trước khi nuôi cấy Thông thường nó được axit hoábằng axit sunfuric tới pH = 4 và đun nóng tới 120-1500C trong 1 phút để kết tủa một sốchất vô cơ và chất lơ lửng Cần phải loại bỏ một phần các chất sinh trưởng, đồng thời bổsung các muối khoáng cần thiết (như urê 0,15%, KH2PO4 0,35%, Mg, Ca) và có thểphải thêm hỗn hợp các axit amin dạng protein thủy phân (dịch nấm men tự phân, dịchthải trong sản xuất nước chấm, dịch bã rượu ở giai đoạn nhân giống)

Khi chuẩn bị phối trộn, rỉ đường củ cải và rỉ đường mía phải được xử lý tách biệttrong các khâu pha loãng, điều chỉnh pH, đun nóng, làm trong, khử trùng rồi mới đượcphối trộn Thường pha loãng đến nồng độ đường khoảng 5-6%

Sau khi chuẩn bị xong môi trường dinh dưỡng, tiến hành thanh trùng ở nhiệt độ 1200C

2.1.3 Các nguyên liệu khác:

Trang 20

Dịch kiềm sufit: Nước thải các nhà máy giấy xenluloza theo phương pháp sunfit gọi

là dịch kiềm sunfit (SWL-Sunfit Waste Liquors) cũng là nguồn nguyên liệu tốt để sảnxuất nấm men Thành phần hydrocacbon của nó chủ yếu là đường pentoza, một loạiđường chỉ có nấm men mới chuyển hoá tốt Ngoài ra còn có linhin, phi xenluloza, một sốaxit hữu cơ …

Khi sử dụng dịch kiềm sunfit cần phải được làm nóng và thông khí trước khi nuôinấm men để loại bảo các yếu tố kiềm hãm (SO2 và furfurol) Bổ sung chất dinh dưỡngvào dịch thải trên (như NH4+ và PO4 ), điều chỉnh pH về khoảng 5 sẽ được môi trườngnuôi cấy nấm men khá tốt và lượng sinh khối nấm men sinh ra sau quá trình lên

men có chất lượng đáng kể với các thành phần như sau: protein (46% chất khô), lipit(7-8%), photpho (1,8%), axit nucleic (10%)…

Người ta tính rằng khoảng 5 tấn bột xenluloza để sản xuất giấy sẽ thải ra một lượngdịch kiềm sunfit chứa tới 180 kg đường Dịch này hấp phụ nhiều O2 nên khi nuôi cấynấm men có thể giảm mức cung cấp oxi tới 60% so với bình thường

Các nguồn xenluloza thực vật (gỗ, rơm, rạ bã mía, lõi ngô ) được chú ý nhiều

trong sản xuất nấm men Trước hết cần phải thuỷ phân xenluloza bằng axit hoặc bằngenzim Nếu dùng gỗ thì thường phải thuỷ phân bằng axit sunfuric

Nước thải của nhà máy chế biến sữa, còn gọi là nhũ thanh (lactoserum): trong quá

trình lên men lactic để chế biến phomat, sau khi kết tủa cazein ra khỏi sữa, phần còn lại

gọi là nhủ thanh có chứa lactoza, protein, axit lactic, axit béo, một số vitamin và muốikhoáng Người ta chọn chủng nấm men thích hợp để có thể thuỷ phân được liên kết -galactozidaza và thu được sinh khối nấm men dạng khô có thành phần protein thô

khoảng 32%, lipit 4-5%, lacto khoảng 23% Chủng nấm men C.utilis và

C.pseudotropical rất thích hợp trong môi trường trên đây

Bột ngũ cốc: là nguồn sản xuất sinh khối nấm men rất tốt Bột hoặc tinh bột dùng

vào mục đích này trước tiên phải tiến hành thuỷ phân bằng axit hoặc bằng enzim củamầm mạ hoặc enzim của vi sinh vật để biến các polysacarit thành các dạng đường mànấm men có thể đồng hoá được

Trong trường hợp dùng nấm men Saccharomysces cerevisiae thì có thể kết hơp

chưng cất thu lấy cồn từ dịch thải sau khi tách sinh khối Như vậy trong dây chuyền côngnghệ cần phải trang bị thêm bộ phận chưng cất Dịch ly tâm được đưa vào hệ li tâm tách(separator) và dịch thải sau khi được tách ra được chuyển đến khâu chưng cất

2.1.4 Chủng nấm men:

Tuỳ theo từng loại nguyên liệu khác nhau, chúng ta có thể sử dụng những

chủng nấm men phù hợp để tạo sinh khối có hiệu quả nhất

Đối với nguyên liệu là rỉ đường, dung dịch đường, nấm men thường

dùng là Saccharomysces cerevisiae, Candidas tropicalis, Candidas utilis.

Đối với nguyên liệu tinh bột hay nước thải tinh bột, dùng chủng nấm men

tương ứng là Endomycopis fibuligera hoặc phối hợp giữa Endomycopis với

Candidas tropicalis.

Trang 21

Nếu nguyên liện là bã rượu, chủng nấm men là Candidas utilis.

Nếu sử dụng lactoserum (nhũ thanh sữa) thì chủng nấm men đặc chủng là

Torula cremoris, T lactosa.

Nguyên liệu là kiềm sunfit, chủng nấm men sử dụng là Cryptococus diffluens,

Candidas tropicalis, Candidas utilis.

Tuy nhiên trong trường hợp không có những chủng nấm men phù hợp, chúng

ta có thể thay thế một trong các chủng trên đây

2.2 Sản xuất sinh khối nấm men từ rỉ đường

Trang 22

Sản xuất sinh khối vi sinh vật từ nguyên lịêu chứa tinh bột hoặc xenluloza:

Trang 23

2.4 Sản xuất protein vi sinh vật từ dầu mỏ và khí đốt

2.4.1 Đặc điểm lịch sử:

Năm 1925, Tauson đã phát hiện khả năng phân giải cacbua hydro của vi

khuẩn

Năm 1940, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu sau về việc sử

dụng vi sinh vật trong thăm dò và khai thác dầu khí

Năm 1961, Fush đã nghiên cứu thống kê được 26 giống trong đó có 75 loài vi sinhvật có khả năng phân huỷ mạch vòng

Năm 1962, công trình đầu tiên về khả năng sử dụng dầu mỏ khí đốt để nuôi cấy visinh vật thu nhận sinh khối giàu protein cho gia súc đã được công bố tại Hội nghị dầu mỏquốc tế lần thứ 6

Sau đó nhiều nhà khoa học đã phân lập được 498 chủng nấm men có khả năng phângiải cacbua hidro Và từ đó có nhiều nhà máy đã sản xuất được sinh khối nấm men màsản phẩm chứa tới 60 – 70% protein

2.4.2 Nguyên liệu

2.4.2.1 Dầu mỏ

Chỉ những phần dầu mỏ nhất định mới được vi sinh vật đồng hoá như:

- Các alkan (paraphin) với chiều dài chuỗi C10 - C20

- Các alkin, anken, hydrocacbon thơm

- Các parafin chuỗi ngắn còn lại trong phần dầu mỏ có nhiệt độ nóng chảy thấp

Sử dụng n-parafin tinh khiết được tách từ mỏ dựa trên các nguyên tắc sàng phân tử

làm cơ chất có ưu điểm là nguồn C bị tiêu thụ hoàn toàn và không để lại những cacbua

Ngày đăng: 27/11/2023, 11:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Batch Production of Protein from Ethane and Ethane-Methane Mixtures - B.Volesky and J. E. Zajic Sách, tạp chí
Tiêu đề: B
7. Production of fungal single cell protein using Rhizopus oligosporus grown on fruit wastes - Mahnaaz Khan, Shaukat Saeed Khan, Zafar Ahmed and Arshiya Tanveer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rhizopus oligosporus "grownon fruit wastes -
8. Mixed cultivation of Euglena gracilis and Chlorella sorokiniana: a production method of algae biomass on a large scale. - Emmanuel T. Friday, Ejoba Rapheal, Nwalo F.O, Ayodele S.M Sách, tạp chí
Tiêu đề: Euglena gracilis "and "Chlorella sorokiniana": aproduction method of algae biomass on a large scale. -
9. Utilization of anaerobically digested distillery effluent for the production of Spirulina platensis (ARM 730) - Rajeev Kaushik, Radha Prasanna and H C Joshi 10. A review on culture, production and use of Spirulina as food for humansand feeds for domestic animals and fish- M. Ahsan B. Habib, Mashuda Parvin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spirulina platensis "(ARM 730) - "Rajeev Kaushik, Radha Prasanna and H C Joshi"10. A review on culture, production and use of Spirulina as food for humansand feeds for domestic animals and fish- M
13. Studies on mass cultivation of Chlorella vulgaris and effective harvesting of bio- mass by low-cost methods- N. Mohan, P. Hanumantha Rao, R. Ranjith Kumar, S. Sivasankaran and V. Sivasubramanian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chlorella vulgaris "and effective harvesting ofbio- mass by low-cost methods-
4. Production of Single Cell Protein from Yeast using Papaya Extract Medium – C. Maragatham and A. Panneerselvam Khác
5. Production of Single-Cell Protein from Ram Horn Hydrolysate – EsabÝ Baòaran KURBANOÚLU Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w