TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ ⁕⁕⁕ NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH GV HƯỚNG DẪN Ths Đào Thị Mộng Ngọc HỌC PHẦN Phương Pháp Luận Sử Học NHÓM THỰC HIỆN Nhóm 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁ[.]
Trang 1NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
GV HƯỚNG DẪN: Ths Đào Thị Mộng Ngọc
HỌC PHẦN: Phương Pháp Luận Sử Học
NHÓM THỰC HIỆN: Nhóm 5
Trang 24 Lê Ngọc Hải Yến 49.01.602.041
5 Nguyễn Trương Nhật Yến 49.01.602.042
Trang 3
MỤC LỤC
NỘI DUNG
I.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của Sử học thời Lý-Trần (Thế kỷ XI-XIV) ……… II.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của
Sử học thời Lê (Thế kỷ XV-XVII) ……… III.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của
Sử học thời Nguyễn……… IV.Trình bày những thành tựu và hạn chế chính (Tác giả, tác phẩm,
phương pháp nghiên cứu lịch sử) của Sử học nước ta từ 1975 – nay……….
Trang 4ngoài những định kiến và mục đích có trước Bên cạnh đó, sử học không chỉnghiên cứu về các sự kiện lịch sử mà còn nghiên cứu về nhiều khía cạnhkhác nhau của đời sống xã hội trong quá khứ từ kinh tế, chính trị, cả vănhóa, nghệ thuật…của một khu vực hoặc một quốc gia trong khoảng thờigian cụ thể Dưới đây là phần thuyết trình của nhóm 1 về những thành tựuchính, (tác giả, tác phẩm, quan điểm) của Sử học qua các thời kì được phâncông sau:
I.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của Sửhọc thời Lý-Trần (Thế kỷ XI-XIV)
II.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của Sửhọc thời Lê (Thế kỷ XV-XVII)
III.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của Sửhọc thời Nguyễn
IV.Trình bày những thành tựu và hạn chế chính (Tác giả, tác phẩm, phươngpháp nghiên cứu lịch sử) của Sử học nước ta từ 1975 – nay
Trang 5Triều đại Lý là một triều đại thịnh vượng và có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước, bao gồm việc dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, đặt quốc hiệu Đại Việt, đánh bại quân Tống xâm lược, phát triển kinh tế, văn hóa, nghệ thuật…Và triều đại chấm dứt khi Lý Chiêu Hoàng- lúc đó mới 7
tuổi, bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 Sựkiện này đánh dấu sự kết thúc của triều Lý và sự bắt đầu của triều Trần
b) Những thành tựu chính của sử học: Nhà Lý bắt đầu chăm lo mở mangviệc học tập và thi cử để đào tạo quan lại cho bộ máy chính quyền; làm nơi học tập cho con em quý tộc và quan lại Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn miếu ở kinh thành Thăng Long Năm 1075, Nhà Lý mở khoa thi
đầu tiên để chọn nhân tài đó là “Minh Kinh Bác Học” và “Nho học tamtrường”
+Nội dung học tập và chế độ thi cử vẫn dựa vào các Tứ thư, Ngũ kinh vàthêm Bắc sử (Lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc)
Lịch sử dân tộc chưa được biên soạn và đưa vào nội dung học tập và thi cử.Tuy vậy, ở thời Lý đã có các Sử quan chuyên ghi chép những sự kiện xảy ratrong triều đình và trong nhân dân
2.Thời Trần (1226-1400)
a) Bối cảnh lịch sử: Nhà Trần là một triều đại quân chủ phong kiến trong
lịch sử Việt Nam, trị vì 175 năm với 12 vị vua Đây là triều đại được lưu
danh với những chiến công hiển hách và là một thời đại hưng thịnh của
dân tộc đặc biệt quân dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân xâm lược Mông Triều đại nhà Trần bắt đầu suy yếu từ cuối thế kỷ XIV Năm 1400, HồQuý Ly, một đại thần nhà Trần đã cướp ngôi, lập ra nhà Hồ Nhà Trần là mộttriều đại có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử Việt Nam
Trang 6Nguyên-Triều đại này đã để lại nhiều dấu ấn đậm nét trong nền văn hóa, xã hội và
quân sự của dân tộc Đây là thời kỳ nền sử học Đại Việt có bước tiến mới so
với sử học thời Lý với sự xuất hiện lần đầu tiên có cơ quan chép sử là
“Quốc Sử Viện”.
b) Những thành tựu chính của sử học thời Trần
-Sử học tiến thêm một bước Thể hiện:
+Trong bộ máy nhà nước đã có Quốc Sử Viện, là cơ quan quốc gia chuyên
lo việc sưu tầm và biên soạn lịch sử dân tộc
+Nhiều nhà sử học xuất hiện, tiêu biểu là Lê Văn Hưu, Hồ Tông Thốc.
Lê Văn Hưu (1230-1322)
-Nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ “Đại Việt sử ký”, bộ quốc sử đầu tiên
của Việt Nam,quê ở Phủ Lý(Ninh Bình ngày nay).Đại Việt sử ký được biên
soạn xong vào năm 1272,gồm 30 quyển chép từ đời Triệu Võ Đế (Triệu Đà)đến năm đầu của Lý Chiêu Hoàng (1225)
-Bộ sách này không còn nữa, nhưng nội dung chủ yếu của nó đã được cácnhà sử học thời Lê là Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Lê Hy chép lại trong bộ ĐạiViệt sử ký toàn thư Vì vậy, ngày nay chúng ta có thể hình dung khá đầy đủ
về bộ sách có giá trị đầu tiên về lịch sử dân tộc
Quan điểm của Lê Văn Hưu:
-Về phương pháp chép sử: Ông theo phương pháp thực tế, đi xem phong
thủy các nơi, chỉnh lý các tài liệu lịch sử
Trang 7-Về nội dung: Theo ông, những truyền thuyết về Hùng Vương, Âu lạc là
chuyện hoang đường, không đáng tin cậy Điều này thể hiện rằng ông đã
loại bỏ những truyền thuyết hoang đường, không đáng tin cậy, tập trung vàonhững sự kiện lịch sử có thật Điều này đã góp phần nâng cao tính khoa học vàchính xác
-Về lịch sử nhà Lý:Lê Văn Hưu đã có những đóng góp quan trọng trong việcghi chép lịch sử nhà Lý Ông đã ghi chép lại những thành tựu của nhà Lý trongcác lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên, ông cũng có những
hạn chế trong việc chỉ chú trọng đến đời sống và hoạt động của vua quan Điều này đã khiến cho bộ sử chưa thể phản ánh đầy đủ và toàn diện lịch sử
nhà Lý (Đây có thể coi là hạn chế của ông, cũng là hạn chế chung của các
sử gia phong kiến).
Mặc dù có những hạn chế, Đại Việt sử ký là bộ sử đầu tiên của nước ta và
Lê Văn Hưu là người đặt nền móng đầu tiên cho nền sử học dân tộc, xứng
đáng là “Người cha của nền sử học Việt Nam”.
Hồ Tông Thốc (không rõ năm sinh năm mất)
-Quê ở Yên Thành (Nghệ An ngày nay), đỗ Trạng Nguyên vào những năm1370-1372
-Một vị quan, nhà sử học vào thời vua Trần Nghệ Tông Ông đã tham gia
biên soạn nhiều bộ sách sử, trong đó có bộ “Việt Nam thế chí”, “Việt Nam
sử cương mục”.
Quan điểm của Hồ Tông Thốc:
Trang 8-Về phương pháp chép sử: -Hồ Tông Thốc đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu
khác nhau, bao gồm các bộ sử của Việt Nam, Trung Quốc, các truyền thuyết,
thần thoại…
-Ông cũng đã sử dụng phương pháp phê phán, đối chiếu để xác minh tính xác
thực của các sự kiện lịch sử
-Về nội dung: -Hồ Tông Thốc có quan điểm yêu nước và tự hào dân tộc sâu
sắc: Ông đã viết trong Việt Nam thế chí: "Đại Việt là một quốc gia có chủ quyền, có lịch sử lâu đời và văn hóa phong phú." Quan điểm này thể hiện
tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc của Hồ Tông Thốc
-Ông đã ghi chép lại những thành tựu của dân tộc trong quá khứ, thể hiện niềm
tự hào về sức mạnh và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam
-Về lịch sử nhà Trần: -Hồ Tông Thốc đã có những đóng góp quan trọng trongviệc ghi chép lịch sử nhà Trần
-Ông đã ghi chép lại những chiến thắng của nhà Trần trước các thế lực xâm
lược, thể hiện tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc của người Việt Nam.
*Có một số ý kiến cho rằng Hồ Tông Thốc đã phê phán và chỉnh sửa lịch sử dân tộc một cách tùy tiện Những ý kiến này dựa trên một số lập luận sau:
Hồ Tông Thốc đã phê phán những truyền thuyết và hiện hoang đường trong
sử sách.: Điều này khiến một số người cho rằng ông đã quá cứng nhắc và không
Trang 9Hồ Tông Thốc sống trong thời kỳ mà các tư liệu lịch sử còn nhiều thiếu sót và thiếu chính xác Do đó, ông đã có những phê phán và chỉnh sửa nhất định đối với
các truyền thuyết và hiện hoang đường trong sử sách
Hồ Tông Thốc là một nhà sử học có quan điểm tiến bộ và nhân văn Ông đã cốgắng ghi chép lại lịch sử một cách chính xác và khách quan, nhưng ông cũng muốnphê phán những hiện tượng tiêu cực trong lịch sử
Có thể nói, quan điểm của Hồ Tông Thốc về sử học là một quan điểm tiến bộ vànhân văn Tuy nhiên, cách thể hiện quan điểm của ông đôi khi có thể khiến một sốngười hiểu lầm
3 Tổng kết:
Sử học thời Lý - Trần có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử Việt Nam, góp phần:
-Xây dựng ý thức dân tộc: Các tác phẩm sử học thời Lý - Trần đã khẳng định chủ quyền và ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
-Tạo nên sức mạnh đánh bại quân Mông - Nguyên xâm lược: Các tác phẩm sử học thời Lý - Trần đã cổ vũ, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, góp phần tạo nên sức mạnh đánh bại quân Mông - Nguyên xâm lược.
Đặt nền móng cho nền sử học Việt Nam về sau: Các tác phẩm sử học thời Lý Trần đã đặt nền móng cho nền sử học Việt Nam về sau, với sự phát triển về thể
-loại, nội dung và phương pháp
*Tuy nhiên, sử học thời Lý - Trần vẫn còn một số hạn chế, do chưa vượt qua
khuôn khổ thời đại Cụ thể, các tác phẩm sử học thời Lý - Trần vẫn mang nặng
tư tưởng phong kiến, đề cao vai trò của vua chúa và giai cấp thống trị Ngoài ra,các tác phẩm sử học thời Lý - Trần cũng chưa có sự phân tích, đánh giá sâu sắc vềcác sự kiện lịch sử
Dù vậy, những thành tựu của sử học thời Lý - Trần là rất đáng trân trọng, góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền sử học Việt Nam.
II.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của
Sử học thời Lê (Thế kỷ XV-XVII).
Trang 101 Bối cảnh lịch sử: Sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi lên ngôivua, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, mang lại nền độc lập lâu dài cho đất nước, bắt đầu xây dựng một kỉ nguyên mới Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, thời Lê Sơ là thời kì độc tôn Nho giáo Việc sử dụng sử học làm vũ khí
tinh thần để củng cố và động viên tinh thần dân tộc trong quần chúng nhân dân làtruyền thống hình thành từ lâu đời của Nho giáo
2.Những thành tựu chính của Sử học: Thời Lê Sơ, dưới sự lãnh đạo của các
vị vua yêu nước, sử học được coi trọng và phát triển Nhiều bộ sử lớn được biên
soạn, trong đó nổi tiếng nhất là “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên Bộ
sử này có giá trị to lớn trong việc ghi chép và lưu giữ các sự kiện lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho nhân dân.
Ngoài ra, thời Lê Sơ còn xuất hiện nhiều tác phẩm sử học khác, như Lam Sơn thực lục, Đại Việt thông giám Các tác phẩm này cũng góp phần quan trọng
trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, củng cố và động viên tinh thần dân tộc
Đại Việt sử ký toàn thư (hay còn gọi tắt là Toàn thư): Là bộ quốc sử viết
bằng Hán văn, đây là một quốc sử danh tiếng, di sản quý báu của dân tộc ViệtNam ĐVSKTT là công trình có sự góp công của nhiều nhà sử học nổi tiếngnhư: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Phạm Công Trứ, Lê Hy…
Lịch sử ra đời: Bộ sử bắt đầu từ Ngô Sĩ Liên, một vị sử quan làm việc trong Sử quán dưới thời vua Lê Thánh Tông, biên soạn dựa trên sự chỉnh lý và bổ sung hai
bộ quốc sử Việt Nam trước đó mang tên “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu và
“Đại Việt sử ký tục biên” của Phan Phu Tiên.
Trải qua gần 425 năm, sách mới được hoàn thành và là một kho sử liệu tiêu
biểu của nền sử học nước ta Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép lịch sử Việt Nam
từ truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê
*Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phần tiền biên (Từ năm 2879 TCN đến năm 1258) của
bộ sử này, ghi chép lịch sử Việt Nam từ truyền thuyết đến năm 1258, được biên
soạn dựa trên các nguồn sử liệu của Trung Quốc, do đó có nhiều điểm chưa
chính xác Phần chính biên (Từ năm 1258 đến năm 1675) của bộ sử này được
biên soạn dựa trên các nguồn sử liệu của Việt Nam, do đó có độ chính xác cao hơn.
Về quan điểm của Ngô Sĩ Liên qua Đại việt sử kí toàn thư:
Trang 11Về quan điểm của ĐVSKTT: Tư tưởng Nho giáo được quán triệt trong biên soạn nhằm làm cho người đọc tuân thủ những tiêu chuẩn đạo đức phong kiến, phục vụ việc bảo vệ và củng cố quyền lực của các vương triều
Về mặt tư liệu: Trong ĐVSKTT có hệ thống sử liệu gốc cơ bản nhất, xưa nhất
của sử học Việt Nam, trải qua những lần chỉnh lí và bổ sung cho đến thời điểm hiện tại không thể không công nhận, Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử học vĩ đại, bao quát nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam Một công trình lịch sử mang hơi thở của một thời đại, phán ánh tương đối cụ thể và đầy đủ về những giai
đoạn hào hùng của Đất nước Và một điều không thể phủ nhận rằng, Đại Việt sử
kí toàn thư là kho tư liệu phong phú không những cần thiết cho ngành sử học
mà còn giúp ích cho nhiều ngành khoa học xã hội khác.
Về mặt nội dung: Nét nổi bật về nội dung trong ĐVSKTT là tinh thần dân tộc,
ý thức độc lập dân tộc về lãnh thổ thống nhất, toàn vẹn Bộ sử thể hiện quan điểm đúng đắn về nguồn gốc, giống nòi, niềm tự hào chính đáng về quá khứ vẻ
vang của dân tộc Bộ sử đã tích góp những sự kiện, con người trong lịch sử, đặc
biệt là các anh hùng dân tộc, các chiến thắng chống ngoại xâm; nhận định xác đáng về sự thất bại nhục nhã của kẻ thù xâm lược và thân phận bi đát của những kẻ làm tay sai cho giặc…
Song, do hạn chế của quan điểm giai cấp, thời đại mà bộ sử đã có một số hạn
chế như: ít đề cập đến đời sống của nhân dân, chủ yếu nói về cảnh sinh hoạt trong cung đình và hành động của vua quan.
Tóm lại, ĐVSKTT đã đánh dấu bước phát triển của Sử học Việt Nam, thể hiện
đầy đủ quan điểm chép sử của các sử gia PK Việt Nam trong gần 5 thế kỷ (từ
thế kỷ XIII-XVII) Tác phẩm thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ, vừa có giá
trị sử học lại vừa có giá trị văn học (cách kể chuyện sinh động, hấp dẫn, đặc
biệt chú ý ghi chép đến tâm lí, hành động, tính cách của các nhân vật lịch sử )
Bên cạnh đó, ta không thể không biết đến nhà sử học lớn, một nhà tư tưởng lớn
của dân tộc Việt khi ở thời Hậu Lê là: Lê Quý Đôn (1726-1783).
-Người Diên Hà (nay thuộc Thái Bình) Ông là một nhà bác học, nhà văn hóa lớn
của Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học, sử học, địa lý,
khoa học
Tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn là “Đại Việt thông sử” (hay còn gọi là Lê triều thông sử), một bộ sử ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời Lê Thái Tổ đến thời
Trang 12Lê Cung Hoàng Bộ sử này được biên soạn theo thể kỷ truyện (tức là lối chí
truyện) ghi chép các sự kiện lịch sử theo từng loại, từng điều một cách hệ thống.
Ngoài ra, Lê Quý Đôn còn có nhiều tác phẩm khác như: Phủ biên tạp lục, Bắc sử thông lục… trong đó có một số tác phẩm đã thất truyền.
Quan điểm của Lê Quý Điểm thông qua Đại Việt thông sử:
Đây là một bộ sử có giá trị, tư liệu được sưu tầm cẩn thận và biên soạn côngphu
Về nguồn tư liệu: Là từ chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên ) , các tập thực lục ( Lê triều thực lục, Lê trung hưng thực lục ), các sách,
liệt truyện (Lĩnh Nam chích quái, An Nam chí lược ), dã sử (Truyền thuyết, ca dao, tục ngữ…) các bài minh ở chuông, văn bia (bia Sùng Thiện Diên Linh, bia
Vĩnh Lăng…)….
Về bố cục sách: Mở đầu là một bài “Phàm”, tiếp theo là tập “Đế kỷ” chép từ
Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng, sau đó đến các “Chí” được chia theo từng loại
và cuối cùng là “Liệt truyện” viết về các hậu phi, tông thất (tôn thất), danh
nhân
Về nội dung: Nội dung phong phú và giá trị, sách ghi chép những điều mà Lê
Quý Đôn tâm đắc khi đọc sách, những điều mắt thấy tai nghe, kể cả ở trong vàngoài nước
Từ cách mà Lê Quý Đôn vận dụng các nguồn tư liệu, sự tỉ mẫn và lao động một cách nghiêm túc đã chúng tỏ Lê Quý Đôn là người:
+Có kiến thức sâu rộng: Lê Quý Đôn đã sử dụng rất nhiều nguồn tư liệu khác
nhau, bao gồm cả các nguồn tư liệu chính thống và phi chính thống Điều này
cho thấy ông có kiến thức sâu rộng về lịch sử, văn hóa, xã hội của Việt Nam
+Có tinh thần trách nhiệm cao: Lê Quý Đôn đã dành nhiều thời gian và công
sức để sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn Đại Việt thông sử Điều này cho thấy ông
có tinh thần trách nhiệm cao đối với việc ghi chép lịch sử của dân tộc
Trang 13+Có tư duy khoa học: Lê Quý Đôn đã sử dụng các nguồn tư liệu một cách khoa
học, khách quan, trung thực Điều này cho thấy ông có tư duy khoa học trong việcnghiên cứu lịch sử
Trong quá trình ghi chép các sự kiện thì Lê Quý Đôn cũng đã thể hiện tính khách quan và tư tưởng chính thống của Nho giáo Mặc dù ông coi nhà Mạc là “ngụy”
nhưng khi trình bày các sự kiện lịch sử từ lúc Mạc Đăng Dung giết Hoàng đế Xuân(Cung hoàng) và cướp ngôi vua của nhà Lê… thì ông đã trình bày các sự kiện
đúng như nó có Do đó qua Đại Việt thông sử, chúng ta thấy được các việc làm của nhà Mạc một cách tương đối rõ ràng
Đại Việt Thông Sử là một bộ sử có giá trị, giá trị này không chỉ thể hiện ở chỗ đây là lần đầu tiên có thể loại Kỷ truyện mà còn thể hiện ở chỗ chứa được nhiều nguồn tài liệu khác Đại Việt Thông Sử mặc dù không còn được nguyên vẹn
nhưng vẫn là một bộ sách có cho những người làm công tác nghiên cứu lịch sử dântộc
3 Kết luận: Sử học thời Lê tiếp tục phát triển lên một bước mới với sự đóng
góp của những nhà sử học lớn Nổi bật trong số các sử gia thời đó có Ngô Sĩ
Liên, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ… Nhờ đó, lịch sử dân tộc được ghi chép khá đầy
đủ, có hệ thống, thể hiện ý thức độc lập, tự cường và lòng yêu nước của nhân
dân
III.Trình bày những thành tựu chính (Tác giả, tác phẩm, quan điểm) của Sử học thời Nguyễn
1.Bối cảnh lịch sử:
-Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, tồn tại
từ năm 1802 đến năm 1945 Triều Nguyễn được thành lập sau khi Nguyễn Ánh(Gia Long) lên ngôi hoàng đế năm 1802 và kết thúc khi Bảo Đại thoái vị vào năm1945
-Có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử các triều đại phong kiến thị triều Nguyễn
đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thành sự nghiệp thống nhất lãnh thổ,
xây dựng một thiết kế quản lý nhà nước chạy dài từ suốt Mục Nam Quan đến đất
Hà Tiên