Quân đội tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng các khu vực quôc phòng và an ninh trên địa bàn chiến lược, biên giới, ven biển đang được triển khai tích cực, góp
Trang 1Chương 4
CÔNG TÁC QUÁN LÝ, BÀO VỆ BIÊN GIỜI QUỐC GIA
4.1 MỌT SỐ ĐẠC ĐIÉM VÊ BIẺN GIỜI
4.1.1 Đặc điểm về dịa hình, (hòi tiết, khi hậu
Đường biên giới đất liền Việt Nam dài 4.610km tiếp giáp với ba nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà dân chú nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia Bờ biến nước ta dài 3.260km với vùng biển rộng khoảng ] triệu km vùng đặc quyền kinh tế lớn gấp 3 lần diện tích lục địa
Địa hình vùng biên giới phần lớn là rừng núi hiềm trờ, nhiều sông suối, khe vực, kênh rạch, sình lầy Giao thông đi lại rất khó khăn, nhất là mùa mưa, cơ sở hạ tầng chưa phát triển (65 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm)
Khi hậu, thời tiết khắc nghiệt, nhất là vùng cao biên giới Khí hậu chia làm 2 mùa rỏ rệt: Mùa mưa bào xảy ra lũ quét, nước dâng cao, sạt núi, trôi đường, sập cầu cống, làm giao thông
bị chia cắt, ách tắc Mùa khô hanh thường kéo theo hạn hán, cháy rừng, thiếu nước sinh hoạt, nước tưới tiêu sàn xuất, gây khó khăn cho việc quy hoạch ồn định dân cư biên giới; vùng biên giới nhiều nơi sương mù dày đặc, tuyết phù, sương muối Tuyến biên giới Tây Nam mùa mưa
lũ là mùa ngập nước Tuyến biển - đào thường xuyên bị tác động ảnh hường cùa thiên tai, bão
lũ, sóng thần, triều cường gây nhiều hậu quả thiên tai nặng nề, khó khăn cho các hoạt động quàn lý, bào vệ biên giới, hạn chế việc cơ động lực lượng, phương tiện đối phó với các tình huống đột xuất xảy ra
4.1.2 Đặc điếm về dân cư, chinh trị
a) Đặc điểm về dân cư
Khu vực biên giới, vùng biến, đảo nước ta có 1.029 xã, phường, thị trấn, thuộc 203 huyện, 44 tình (thành phô) cỏ biền gìờì vởì 1,7 triệu hộ, khoảng 7,2 triệu người quy tụ 42 dân tộc thiêu số và dân tộc kinh sinh sống
Trên các vùng biên giới dân cư phân bố không đồng đều, đại bộ phận là đồng bào các dân tộc thiểu số sống xen kẽ với nhau Đất rộng, người thưa, phần lớn có quan hệ dân tộc, thân tộc dòng họ với cư dân bên kia biên giới Sự chênh lệch về mức sống vật chất tinh thân cùa đồng bào giữa các vùng, các dân tộc, đặc biệt là vùng cao biên giới vẫn còn khoảng cách lớn Tình trạng đói nghèo ờ vùng dân tộc và miền núi còn chiếm tỷ lệ cao, mặt băng dân trí thấp, còn nhiều hù tục lạc hậu, có vùng người mù chữ và không biết tiếng phổ thông chiếm tới 70%, cơ sờ y tế còn yếu kém, thiếu nước sạch, tỳ lệ suy dinh dưỡng tré em trên 40%, mức hướng thụ văn hoá thấp
b) Đặc điểm về chính trị
Cơ sờ chinh trị ở một số địa bàn biên giới còn yếu kém, nội bộ mất đoàn kết, quàn lý điều hành kém hiệu quả, một số cán bộ bị tha hoá, biến chất, tham nhũng, buôn lậu, hoặc tiếp
Trang 2tay cho buôn lậu làm mất lòng tin của nhân dân Đội ngũ cán bộ dân tộc vừa thiếu, vừa yếu nên hạn chế về lãnh đạo, điều hành ảnh hường đến quàn lý, bào vệ chủ quyền an ninh biên giới, cá biệt một số nơi bị địch lợi dụng khống chế Do nhiều tác động, khó khăn về đời sống, việc ihực hiện chính sách cùa Đảng và Nhà nước kém hiệu quả, những sai phạm, sơ hờ của ta
bị địch lợi dụng phá hoại nên chính trị chưa thật ồn định, lòng dân chưa yên, "thế trận lòng dân" chưa vững chấc, còn tiềm ẩn nhiều nhân tố mất ổn định
Các dân tộc trong đại gia đinh các dân tộc Việt Nam, ngày nay đã trớ thành những thành viên trong cộng đồng người Việt Nam, bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng làm chủ đất nước Các dân tộc có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm bào vệ Tổ quốc, cần cù lao động, xây dụng quê hương đất nước Sự đan xen gấn bp giữa các dân tộc người Việt Nam rất sâu sắc, không có vấn đề về phân chia lãnh thố, tộc người rõ rệt như các nước khác Đó là yếu tố rất cơ bàn, là truyền thống để bảo đàm đoàn kết dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ cùa Tồ quốc Việt Nam
4.1.3 Đặc điếm về kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh
Trên các tuyến biên giới có 21 cứa khấu quốc tế, 17 cứa khấu chinh, 141 cửa khẩu phụ, 2 cửa khâu dường sắt liên vận quốc tế, 25 cứa khau cảng biển Ngoài ra, còn hàng trăm đường tiều ngạch qua lại biên giới và các cứa khẩu sông, cửa lạch, đó là những thuận lợi rất cơ bàn để mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội, khai thác tiềm nảng kinh tế biển
Kinh tế chậm phát triển, đời sống khó khăn, có 308 xã đặc biệt khó khăn thuộc địa bàn vùng núi biên giới, bờ biển, hải đảo Tỷ lệ đói nghèo 30% (cá biệt có nơi hơn 70%) trong đó còn nhiều hộ chưa có điện tháp sáng và nước sạch để sinh hoạt Trong những năm qua, nhất là
từ khi Đảng, Nhà nước có chủ trương đổi mới, bộ mặt kinh tế, văn hoá - xã hội ờ các vùng dân tộc, miền núi biên giới nước ta đã có nhiều tiến bộ và có những biến đổi toàn diện, sâu sác; nhiều công trình được đầu tư vào vùng đân tộc thiểu số, vùng núi biên giới như: Giao thông, thuỷ lợi, nước sạch, điện, đường, trường, trạm y tế, chợ biên giới, phát thanh truyền hình, các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm là điều kiện vật chất quan trọng làm cho nhiều vùng trước đây còn là vùng xa xôi hẻo lánh (Mường Tè, Phong Thổ hay Đồng Văn, Mèo Vạc, Mường Lát, Sa Thầy), thi nay những địa danh ấy đã tiếp cận với những trung tâm của đất nước một cách dễ dàng Nhiều vùng đồng bào thực hiện định canh, định cư, chuyển đồi cơ càu sán xuất từ canh tác du canh, du cư, thuần nông, tự túc, lự cấp sang sàn xuất theo hướng định canh, thâm canh, phát triển kinh tế hàng hoá và dịch vụ
Quân đội tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng các khu vực quôc phòng và an ninh trên địa bàn chiến lược, biên giới, ven biển đang được triển khai tích cực, góp phân giải quyết việc làm, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đời song đồng bào từng bước được cài thiện; kết hợp bào đảm quốc phòng và an ninh ở địa bàn chiến lược biên giới trên cơ sở bố tri lại dân cư theo quy hoạch cùa sản xuất và mục tiêu lâu dài cùa quốc phòng và an ninh, hình thành nên các làng, xã biên giới, tạo nên vành đai biên giới trong thế trận biên phòng và quốc phòng toàn dân báo vệ Tổ quốc
Tinh hinh an ninh, trật tự xã hội, nối lên là di cư tự do còn đang diễn ra phức tạp, đồng bào ở các vùng biên giới phía Bác di cư tự do vào phía Nam, nhiều vùng biên giới còn bỏ trông, không có dân Một bộ phận dân di chuyền đến phía Tây tiếp giáp với Lào làm tăng thêm phức tạp cho an ninh biên giới
Trang 3Tinh hình phát triển dạo Tin lành ờ các tinh miền núi phía Bẩc và Tây Nguyên, một số tà đạo cùng thâm nhập vào vùng dán tộc, những phẩn tứ xấu lợi dụng vấn đê dân tộc, tôn giáo nhàm mục tiêu "tôn giáo hoá vùng dân tộc ít người", thù đoạn hoạt động cùa chúng là tuyên truyền, kích động gây mất ồn định xã hội Chúng câu kết chặt chẽ giữa bọn phàn động trong nước và ngoài nước phát triển đạo Tin lành vào địa bàn Tây Nguyên cùng với mưu đồ lập nhà nước "Đề Cìa tự trị", phát triển đạo Tin lành Vàng Chứ vào vùng biên giới phía Bắc cùng với mục tiêu chinh là thành lập "Vương quốc người H'Mông" những phần tử cực đoan người Khơmc ờ Campuchia vu cáo Việt Nam xâm chiếm đất đai, xuyên tạc lịch sử, kích động thành lập Nhà nước Khơme Crôm tự trị ờ Nam Bộ nhằm chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dần tộc, phá hoại quan hộ hữu nghị tôt đẹp giữa hai nước Việt Nam và Campuchia.
i loạt động cùa bọn tội phạm như: Cướp vũ trang, buôn lậu trên biển, buôn lậu qua biên giới, buôn lậu ma tuý vũ khí buôn bán tiên giá buôn bán phụ nữ trẻ em, vượt biên trái phép, đánh cá bàng chất nô, kích điện, huý diệt môi trường; tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam đánh bát trộin hài sàn; các tệ nạn xã hội như: Mại dâm, tiêm chich, nghiện hút ma tuý ớ vùng biên giới đang trở thành van đề nóng bòng, ánh hướng nghiêm trọng đến việc báo vệ an ninh, Irật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, bờ biền
4.2 QUAN ĐIÉM CÚA ĐẢNG TA VẺ BIÊN GIỚI VÀ QUẢN LÝ, BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỔC GIA
4.2.1 Ọuãn lý báo vệ bicn giói quốc gia là nhiệm vụ chung cùa toàn Đáng, toàn dân, cùa các cấp, các ngành
Quan điềm này thê hiện tư tường nhât quán, quan trọng, xuyên suôt trong chì đạo và tô chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, bào vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng và bào vệ chù quyền an ninh biên giới nói riêng
- Nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia là nội dung quan trọng cùa chiến lược xây dựng, bào vệ Tồ quốc Việt Nam xã hội chú nghĩa Nhiệm vụ này rất toàn diện, không chi bào vệ vững chắc chù quyền lãnh thồ quốc gia trên biển, trên đất liền mà còn phải giữ vững an ninh chinh trị, trật tự xã hội, chống xâm nhập trái phép, chống buôn lậu qua biên giới, bào vệ tài nguyên môi trường, Đồng thời, phái xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác phát triển với các nước láng giềng
Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 08/8/199S của Bộ chính trị chi rô: "Xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia là nhiệm vụ chung cùa loàn Đảng, toàn dân, cùa tất cà các ngành, các cấp cùa Nhà nước và các đoàn thể" Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đàng đối với nền Biên phòng toàn dân là vấn đề có tính nguyên tắc Phải kết họp chặt chẽ giữa xây dụng với phát huy vai trò tố chức quản lý cùa cả hệ thống chính quyền các cấp, sự tham gia cùa nhân dân trong cà nước, má trực tiếp là đồng bào các dân tộc ờ khu vực biên giới Đó là cơ sờ phát huy sức mạnh tồng hợp cùa toàn dân, của cà hệ thống chinh trị xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập chù quyền và toàn vẹn lãnh thổ cùa Tổ quốc
- Để thực hiện tốt quan điểm này, cấp uỷ chính quyền địa phucmg các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng cẩn phái xây dựng mối quan hệ gẩn bó giữa các dân tộc, các dòng họ, giữa các tôn giáo với nhau thành một khối đại đoàn kết Động viên được sức mạnh của cộng đồng
Trang 4dân cư dưới sự lãnh đạo, chi đạo cùa cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương Xây dựng cơ sờ hạ tầng vững mạnh, tạo điều kiện cho nhân dân địa phương phát ưiển kinh tế - xã hội, phát triển sàn xuất, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí Đồng thời, làm tốt công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cho cấp uỷ, chính quyền địa phương thực hiện dự án đưa dân ra biên giới, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ biên giới Trước hết, chú trọng các địa bàn hiện nay chưa có dân, hoặc dân cư còn đang thưa thớt.
4.2.2 Q uăn lý, bảo vệ biên giới quốc gia phải dựa vào dân, trự c tiếp là đồng bào các dãn tộc ỡ khu vực biên giới
- Quan điểm dựa vào dân, nhất là đồng bào các dân tộc ờ khu vực biên giới tham gia quản lý, bảo vệ lãnh thổ biên giới quốc gia được bắt nguồn từ những kinh nghiệm quý báu cùa dân tộc qua các thế hệ nối tiếp nhau Nghiên cứu lịch sử và thực tiễn bào vệ biên giới quốc gia nước ta cho thấy, vấn đề cốt lõi, xuyên suốt trong kế sách giữ nước, bào vệ biên giới cùa ông cha ta là: Dựa vào dân, nhất là các dân cư ở khu vực biên giới V.I.Lênin cũng đã chi rõ: "Trong chiến tranh, ai
có nhiều lực lượng hậu bị hon, ai có nhiều nguồn lực lượng hơn, ai kiên tri đi sâu vào quẩn chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi" Chù tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Nhân dân có hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay chân Cho nên chúng ta phải dựa vào dân để hoạt động Khi tồ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được"
- Xuất phát từ vai trò to lớn đó cùa quần chúng, lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản
lý, bào vệ biên giới cần phải biết dựa vào dân, tuyên truyền, giáo dục tồ chức được nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ và giữ gìn an ninh trật tự ở khu vực biên giới Xây dựng được thế trận lòng dân ở các xã biên giới, nhất là trong đồng bào dân tộc, tôn giáo; xây dựng và cùng
cố trận địa chinh trị, tư tưởng trong nhân dân Quá trình tuyên truyền, vận động nhân dân cần chú ý: Lời nói là phái đi đôi với việc làm, nói ít làm nhiều, cầm tay chi việc Đây chính là vấn
đề mấu chốt có ý nghĩa chiến lược lâu dài
- Phát huy sức mạnh tổng hợp cùa các lực lượng, của hệ thống chính trị, tồ chức xã hội tham gia bào vệ biên giới Xây đựng nền biên phòng toàn dân cũng như xây dựng, bảo vệ biên giới quốc gia có nhiều lực lượng tham gia Mỗi lực lượng được Đảng, Nhà nước quy định rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể khác nhau, song cùng chung một mục đích là góp phần xây dựng và bảo vệ vững chác Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát huy sức mạnh tồng hợp cùa các lực lượng, các ban ngành ở khu vực biên giới là yêu cầu tất yếu khách quan, là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác biên phòng trong thời bình cũng như khi cá chiến tranh xảy ra
Nghị quyết Đại hội Đảng VIII khẳng định: "Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước, xây dựng vũng chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang, bảo
vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước"
4.2.3 Q uản lý, bảo vệ bicn giới phải xây dựng lực lirọng vũ trang nòng cốt, chuyên trách thực sự vững m ạnh
- Ngày 19/11/1958 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đàng khoá u đã ra nghị quyết số 58/NQ-TW, Chính phủ ban hành nghị định số 100-TTg ngày 03/3/1959 quyết định
Trang 5thành lập lục lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) là lực lượng chuyêi trách, làm nòng cốt trong quàn lý hào vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.
- Từ dó đến nay đà có nhiều nghị quyết cùa Đàng và các văn bản quy phạm pháp luật cùa Nhá rước vè xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bào vệ biên giới quốc gia, thê hiện rì quan điểm, tư tường chi đạo, chù trương, biện pháp, chiến lược với tinh thần cơ bản xuyên suốt lả xây dựng lực lượna Bộ đội Biên phòng vững mạnh về mọi mặt, tổ chức lãnh đạo, chi huy tập trmg thống nhất từ Trung ương đến cơ sờ Đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ công tác biên phòng trong từng thời kỳ, đù sức để Bộ đội Biên phòng hoàn thành nhiệm cụ trong tinh hình mới Phù hcp với tinh chất riêng cùa lực lượng là quốc phòng, an ninh và đối ngoại
4.3 NGUYÊN TÁC, NỌI DUNG, HÌNH THỨC QUẢN LÝ, BẢO VỆ BIỀN GIỞI4.3.1 Nguyên lắc quàn lý, bào vệ biên giói
a) Quàn lý lập trung thống nhất dưới sự lãnh đạo cùa Đàng và A'hà nước
- V trí: Là nguyên tác chù đạo kháng định vai trò lành đạo cùa đàng và sự chi đạo tập trung
thống nhít cùa Nhà nước trong quán lý, bào vệ biên giới Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện nhiệm
vụ quàn ý, bào vệ biên giới quốc gia, trong đó Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, trực tiếp phải đặt Jưới sự lãnh đạo cùa Đảng uý Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương)
- Cơ sớ: Biên giới quốc gia do các Nhà nước có chung biên giới xác lập dựa trên cơ sờ luật
pháp quóc tế, khẳng định chù quyền cùa Nhà nước đối với lãnh thổ quốc gia, là cả một quá trinh lâu dài điu tranh, bảo vệ cùa mỗi quốc gia, dân tộc
Quin lý, bào vệ biên giới quốc gia liên quan đến chù quyền toàn vẹn lãnh thổ, đến chính sách đối nội, đối ngoại, đến kinh tế, quốc phòng, an ninh
- hội dung:
+ Quàn lý, bảo v ệ biên giới quốc gia phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đàng, Nhà nước quàn
lý tập tring thống nhất, phân cấp cho chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ giữa trung ương vàđịa phương
Biéi giới quốc gia là vấn đề rất nhạy cảm nên phải đặt dưới sự lãnh đạo cùà Đảng, Nhà nước míi đảm bảo được sự ồn định biên giới, lãnh thổ, ổn định về chính trj - xă hội và bảo đàm chc sự phát triển toàn diện trên tất cả cảc mặt
+ Biên giới quốc gia là thể thống nhất, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc giạ là nhiệm VI quan trọng đặc biệt cùa Nhà nước nên phài đảm bào sự tập trung thống nhất cùa Nhà nưcc bàng pháp luật trên tất cà các lĩnh vực đối với biên giới quốc gia, làm cho các chính sách, phíp luật về biên giới của Nhà nước được chấp hành nghiêm chinh và thống nhất.Nhi nước 10 chức ra bộ máy và lực lưựng chuyên trách làm nòng cốt để quản lý, bảo vệ biên giớ theo quy định của pháp luật
Nhi nước phân trách nhiệm, quyền hạn quản lý, bảo vệ biên giới cho chính quyền các cấp kết hợp ịiữa Trung irơng với địa phương, khắc phục tình trạng thiếu trách nhiệm, buông lòng quản lý,sơ hờ kém hiệu quả hoặc tuỳ tiện đặt ra các quy định trái với pháp luật của Nhà nước về quàn lý,bảo vệ biên giới gây tổn hại đến an ninh quốc gia, lợi ích kinh tế, gây khó khăn cho các hoạt độn; quản lý, bảo vệ biên giới của các ngành, các lực lượng
Trang 6b) Phát huy sức mạnh tống hợp xâv dựng với quản lý, bào vệ
- Và tri: Là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt chỉ rõ trách nhiệm cùa toàn Đàng, toàn dân, toàn
quân, cùa các ngành, các cấp trong quản lý, bảo vệ biên giới
- Cơ sở: Cách mạng là sự nghiệp cùa dân, do dân và vì dân Vì vậy, bảo vệ biên giới
cũng phải dựa vào dân, trực tiếp là nhân dân các dân tộc ở khu vực biên giới Quán lý bảo vệ biên giới là nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích mọi mặt và thành quà của quốc gia
- Nội dung: Phát huy sức mạnh tổng hợp cùa cả nước trong quàn lý, bào vệ biên giới
phài dựa vào nhân dân và vai trò tham mưu của lực lượng nòng cốt, chuyên trách, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và quản lý, bảo vệ biên giới
Địa bàn biên giới là nơi có nhiều khó khăn phức tạp, là nơi cư trú cùa hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số Do kinh tế chậm phát triển, đời sống cùa đồng bào các dân tộc trên biên giới gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu nên dễ bị kẻ địch và các phần từ xấu lợi dụng mua chuộc, sử dụng vào các hoạt động chống phá ta, gây mất ổn định về
an ninh trật tự ờ khu vực biên giới Cơ sở chính quyền các xã, bản ở khu vực biên giới còn nhiều hạn chế Vì vậy, muốn dựa vào dân đề quản lý, bào vệ biên giới, Nhà nước phải có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội ờ địa bàn biên giới, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cùa đồng bào các dân tộc Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật cùa Nhà nước cho đồng bào các dân tộc, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho nhân dân, trên cơ sở đó tồ chức hướng dẫn cho nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ biên giới
c) Bảo vệ chủ quyền gắn liền với bào vệ lợi ích quốc gia
- Vị tri: Là nguyên tấc quan trọng thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa quàn lý bảo vệ chủ
quyền biên giới phải gán liền với bảo vệ an ninh quốc gia
- Cơ sà: Công tác quản lý bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới phải gắn liền với bào vệ
an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xâ hội Sự gắn kết giữa các moi quan hệ đó tồn tại thống nhất, hữu cơ trong một Nhà nước độc lập, có chù quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Sự kết họp chặt chẽ giữa các nội dung đó là một tất yếu lịch sử trong thời kỳ mới Bời vì, mục đích của quản lý, bảo vệ chù quyền, an ninh biên giới phục vụ và gắn chặt với mục đích bảo vệ an ninh quốc gia Quản lý, bảo vệ chù quyền, an ninh biên giới có vị trí quan trọng chống lại nguy cơ xâm phạm an ninh quốc gia
- Nội dung: Quản lý, bảo vệ chù quyền, an ninh biên giới quốc gia gắn liền với bào vệ
an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia, tài nguyên, môi trường
Trong các giai đoạn mới, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh hoạt động "diễn biến hoà binh", bạo loạn, lật đổ hòng xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghTa ở Việt Nam xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bọn phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo lôi kéo quần chúng chống lại chính quyền cách mạng, kích động ly khai, tự trị, gây bạo loạn; bọn tội phạm trong, ngoài biên giới hoạt động xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tinh mạng tài sản cùa nhân dân Mặt trái của toàn cầu hoá đang gây tác hại tàn phá môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên; chínhsách chù quyền của Mỹ và các thế lực thù địch đang đe đoạ độc lập, chủ quyền cùa nuớc ta
Trang 7Giữ vững chú quyền, an ninh biên giới sẽ tạo ra sự ổn dịnh và phát triền trên tất cà các lĩnh vực cùa đới sống xã hội Ngược lại sự ổn định, phát triền toàn diện của cả nước sẽ tạo điêu kiện đê quan lý, bảo vệ chủ quyển an ninh biên giới chặt chẽ, an toàn hơn Đe thực hiện tốt mối quan hệ này, ngoai việc thực hiện tốt quyết tâm, kế hoạch bào vệ biên giới, phài thường xuyên xây dựng các phirưtig án kế hoạch phản gián, chông bạo loạn và thường xuyên tó chức luyện tập theo phương an Hiệp đồng chặt chẽ giữa Bộ đội Biên phòng với các lực lượng Công an trong nam tình hình quản lý địa bàn, đấu tranh chống tội phạm ờ khu vực biên giới Đồng thời, tham gia phát triẽn kinh tế, văn hoá, xã hội ớ địa phương, bào vệ lợi ích quốc gia ờ khu vực biên giới.
(!) PhúI huy ưu thế sức mạnh chính trị tinh thần, đoàn kết dân tộc
- Vị trí: Là nguyên tắc quan trọng thê hiện đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam,
nham phát huy ưu thế chính trị, tinh thần và sức mạnh đoản kết dân tộc trong quàn lý, báo vệ biên giới
Cơ sở: Biên giới quốc gia là thiêng liêng bất khá xâm phạm Vì vậy, cần phải giáo dục
động viên tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm cùa dân tộc; xây dựng, giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, gắn bó máu thịt giữa các lực lượng vũ trang với nhân dân các dân tộc để quàn lý, bào vệ biên giới Sức mạnh đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tiễn lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước cùa dân tộc; thể hiện và được chứng minh bằng đường lối quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam
- Nội dung: Trong quán lý, bảo vệ biên giới phải kết hợp chặt chẽ phát huy ưu the chinh
trị, tinh thần và sức mạnh đoàn kết dân tộc; nghĩa là phát huy ữuyền thống, phầm chất, ý chi của dân tộc Việt Nam, nêu cao chù nghĩa yêu nước để tạo nên sức mạnh tổng họp trong sự nghiệp bão vệ chủ quyền, an ninh biên giới Ket hợp các hình thức hoạt động và các biện pháp công tác biên phòng; kết hợp giữa tác chiến với địch vận (tuyên truyền đặc biệt) để đánh bại
kẻ thù Kêt hợp chặt chẽ giữa quàn lý bầng hành chính pháp luật, cưỡng chế với tuyên truyền thuyết phục làm cho mọi người có ý thức tự giác thấy rõ nhiệm vụ, quyền lợi và trách nhiệm chấp hành pháp luật, tham gia bảo vệ biên giới
4.3.2 Nội dung quăn lý bảo vệ biên giói
a) Quàn lý, báo vệ chù quyền biên giới trên đầt liền, trên biển, trên không và trong lòng đất
- Nhà nước thông qua các hoạt động thiết lập chù quyền đối với lãnh thổ, chù quyền, quyền chù quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển, quyền phân định biên giới lãnh thổ cùa minh với các quốc gia khác; quyền xác lập quy chế pháp lý trên các vùng lãnh thổ cùa mình Đồng thời, Nhà nước tổ chức ra các lực lượng để quản lý, bảo vệ chù quyền biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, vùng trời và lòng đất Nhà nước còn thông qua các hoạt động ngoại giao độc lập, tự chủ cùa minh trong quá trinh tham gia ký kết các điều ước quốc tế phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế và lợi ích của Việt Nam để báo vệ được chù quyền, lợi ích cùa dân tộc
- Hiến pháp 1992 khẳng định: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chù quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời” Điều đó, thể hiện trong Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày12/5/1977
Trang 8b) Quản lý, bào vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên khu vực biên giới
- Quàn lý, bảo vệ chù quyền biên giới gản liền với quản lý, bảo vệ an ninh chinh trị, trật
tự, an toàn xã hội trên khu vực biên giới
Bộ đội Biên phòng phối hợp với các lực lượng, các biện pháp nghiệp vụ an ninh biên phòng, cảnh sát đấu tranh chống bọn tình báo gián điệp phản động, bọn nội gián, bọn biến chất thái hóa, bọn cơ hội, xét lại hoạt động chống phá cách mạng, câu kết với kẻ địch bên ngoài gây bạo loạn, lật đố, làm mất ổn định chính trị; đấu tranh chống các loại tội phạm, giữ vững trật tự, an toàn xã hội
- Tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân đánh tháng chiến tranh xâm lược, xung đột vụ trang, can thiệp quân sự kết hợp bạo loạn, lật đổ giữ vững ổn định biên giới, bảo vệ Đảng bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân Ket họp chặt chẽ giữa an ninh biên phòng với an ninh nội địa, nắm chắc tinh hình ngoại biên, tình hình khu vực biên giới và tình hình an ninh nội địa, quản lý chắc đối tượng, địa bàn các biến động trên địa bàn biên giới, phối hợp giữa tình báo biên phòng với phàn gián, trinh sát kỹ thuật với điều tra hình sự, giữa nội biên với ngoại biên, giữa biên giới với nội địa để chù động nắm đánh địch, tấn công tội phạm, giữ vững an ninh chinh trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn biên giới, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh trong bào vệ biên giới
c) Quàn /ý, bảo vệ tài nguyên, môi trường và lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới và vùng biền quốc gia
- Tài nguyên, môi trường lợi ích quốc gia luôn gắn liền với chú quyền quốc gia Bộ đội Biên phòng kết hợp chặt chẽ với các lực lượng kiểm lâm, bộ khoa học - công nghệ, bộ tài nguyên và môi trường, bộ thuỷ sản, bộ công nghiệp và chính quyền địa phương tiến hành các hoạt động tuần tra, kiểm soát, điều tra để phát hiện, ngăn chặn, bảt giữ, xứ lý các vi phạm về tài nguyên, môi trường lợi ích quốc gia như bảo vệ rùng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nguồn nước, nguyên liệu, động vật hoang dã quý hiếm, quặng mỏ chống thải chất độc hại gây ô nhiễm môi trường nguồn nước trên các sông suối biên giới, vùng biển quốc gia
- Trong tuyên bố của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 khẳng định: “Nước cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ờ đáy biển và lòng đất dưới đáy biền thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”
- Căn cứ vào quy định của pháp luật, Bộ đội Biên phòng phối hợp với các lực lượng hải quân, cảnh sát biển và các cơ quan, bộ, ngành để bảo vệ quản lý tài nguyên, môi trường, lợi ích quốc gia trên biên giới và các vùng biển Việt Nam
d) Quản lý, báo vệ công trình quốc phòng trên khu vực biên giới, các công trình bảo
vệ biên giới
Quản lý, bảo vệ công trinh quốc phòng trên khu vực biên giới, để chủ động đối phó chiến tranh xâm lược, xung đột vũ trang trên biên giới, các công trinh chiến đấu, phòng thù và công trình phục vụ chiến đấu, công trinh phòng tránh được xây dựng từ thời bình; các công trình bảo vệ biên giới, công trình cố định đường biên giới để giữ vững ổn định biên giới quốc gia Các công trình quốc phòng trên khu vực biên giới có vị trí quan trọng trong nhiệm vụ phòng thù, bảo vệ vững chấc chủ quyển biên giới
Trang 9Bộ dội Biên phòng là thành viên Irong khu vực phòng thú tình biên giới, là lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong quản lý, bào vệ chù quyền biên giới Do đó, phái kết hợp chặt chẽ quàn lý địa bàn khu vực biên giới, quàn lý bào vệ đường biên, cột mốc với bào vệ các công trinh quốc phòng trên biên giới để tăng thêm tiềm lực quốc phòng trong phòng thú, bào
Đe quản lý bào vệ giữ vững chù quyền, an ninh, trật tự trên khu vực biên giới, Bộ đội Biên phòng là cơ quan chù trì và phối hợp với các lực lượng duy trì việc chấp hành pháp luật về biên giới, quy chế biên giới, các hiệp định về quy chế biên giới và điều ước quốc tế về biên giới đề giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới, lợi ích quốc gia
- Quản lý xuất, nhập cảnh, quá cánh tại các cửa khẩu biên giới và các cứa khấucàng biển
Dựa vào các văn bàn pháp luật cùa Nhà nước về xuất, nhập cành, các văn bản phápluật khác có liên quan đến xuất, nhập cành, vận dụng các biện pháp công tác biên phòng đểkiểm soát, quàn lý việc qua lại biên giới đối với người, phương tiện và phối hợp hải quan kiểm soát hàng hoá chống buôn lậu và gian lận thương mại, chống xâm nhập trái phép, vượt biên, vượt biển trái phép, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xâ hội, an toàn kinh
tế, giữ vững ổn định biên giới, tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác quốc tế và tham gia hội nhập kinh tế thế giới
- Quàn lý hoạt động đối ngoại biên phòng
Đồn biên phòng là cơ quan đại diện cho Nhà nước trên biên giới trong quan hệ với lực lượng bào vệ biên giới với nước láng giềng, cùng phối hợp báo vệ sự ổn định cùa đường biên giới theo Hiệp ước Biên giới giữa hai nước, phối hợp đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn biên giới, hợp tác giài quyết những vấn đề phức tạp, tranh chấp xảy ra trên biên giới theo Hiệp định Quy chế biên giới, góp phần xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị hợp tác phát triển giữa các nước
4.3.3 Hình thức quản lý, bào vệ biên giói
a) Quàn lý, bảo vệ biên giới thường xuyên
Khái niệm: Bào vệ biên giới thường xuyên là hình thức quản lý, bảo vệ biên giới cơ bản và pho biến nhất, được tiến hành trong tình hình hoạt động của địch và đối tượng ờ hai bên biên giới, vùng biển ờ mức độ bình thường; tình hình an ninh chính tri, xã hội trong địa bàn không có diễn biến đột xuất
Trường hợp áp dụng: Khi tình hình an ninh chinh trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới ốn định nhưng hoạt động của các đối tượng chống phá vẫn diễn ra thường xuyên, gay go, phức tạp; khi địch hoặc nước tiếp giáp chưa có dấu hiệu hoạt động xâm phạm độc lập chù quyền lãnh thồ quốc gia Cà nước hoạt động theo thời bình, lực lượng vũ trang ờ trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên
Trang 10Tổ chức thực hiện: Các đom vị tổ chức quàn lý, bảo vệ biên giới theo quyết tâm, kế hoạch đã đề ra Trong bảo vệ biên giới thường xuyên phái đàm bào đủ quân số, trực tiếp quản
lý, bào vệ biên giới theo chi lệnh sẵn sàng chiến đấu, quân số còn lại làm các nhiệm vụ khác như: Học tập, tập huấn, đi phép, đi công tác Các chế độ trực chì huy, trực ban, trực chiến; các chế độ sinh hoạt, học tập thực hiện theo quy định Các quy định quàn lý, bào vệ biên giới, vùng biển phải được duy trì nghiêm ngặt, sẵn sàng chù động đối phó với các tinh huống đột xuất xảy ra, không để bị động bất ngờ
b) Quản lý bảo vệ biên giới tăng cường
- Khái niệm: Quàn lý bảo vê biên giới tăng cường là hình thức quản lý, bào vệ biên
giới chặt chẽ, nghiêm mật với cường độ cao hơn bảo vệ biên giới thường xuyên
- Trường hợp áp dụng: Khi tình hình an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở một
hướng (địa phương) hay nhiều hướng (địa phương) diễn ra phức tạp; khi cỏ tin tức chính xác, cụ thể về hoạt động vũ trang cùa đối phương như: Tấn công vũ trang, tung gián điệp, biệt kích, thám báo hoặc các hoạt động vi phạm khác; khi trong khu vực biên giới hai bên đang xảy ra bạo loạn vũ trang, đang có thiên tai, dịch bệnh hoặc đang tiến hành diễn tập quân sự
Trong khu vực quản lý đang tiến hành bao vây truy lùng, phá các vụ án mà đối tượng có thề vượt biên giới để trốn thoát; khi có các vị đứng đầu Đàng và Nhà nước đến thăm và làm việc
ở khu vực biên giới; khi lực lượng Biên phòng nước tiếp giáp yêu cầu phối họp bảo vệ biên giới tãng cường; khi có lệnh của cấp trên
- Tô chức thực hiện: Các đơn vị tố chức quản lý, bào vệ biên giới theo quyết tâm, kế hoạch
đã được bổ sung điều chinh Lực lượng, phương tiện tham gia quàn lý, bào vệ biên giới phái đảm bào theo chí lệnh sẵn sàng chiến đấu: Tăng cường lực lượng, phương tiện (lực lượng hiệp đồng); tăng cường về thời gian; tăng cường sự chi huy, chi đạo; tăng cường cơ sờ vật chất
c) Quản lý bảo vệ biên giới trước khi có chiến tranh
Khái niệm: Bảo vệ biên giới trước khi có chiến tranh là hình thức quản lý, bảo vệ biên giới được tiến hành chật chẽ, nghiêm ngặt hơn so với bào vệ biên giới tãng cường trong điều kiện đối phương tiến hành các hoạt động tranh chấp, xung đột vũ trang trên biên giới, vùng biển, đảo
Trường hợp áp dụng: Khi an ninh chính trị trên một hướng (địa phương) hay nhiều hướng (địa phương) bị đe đoạ; khi nước tiếp giáp tiến hành tranh chấp biên giới, xung đột vũ trang; bọn phản động trong nước cấu kết với bọn phàn động bên ngoài tập hợp lực lượng, bạo loạn lật đổ; khi có lệnh cùa cấp trên; khi có chi lệnh sẵn sàng chiến đấu cao
Tổ chức thực hiện: Các đom vị tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới theo quyết tâm, kế hoạch A, A2
d) Quản lý bào vệ biên giới khi có chiến tranh
Khái niệm: Bảo vệ biên giới khi có chiến tranh xày ra là hình thức đặc biệt được tiếnhành trong điều kiện khi có chiến tranh xâm lược xảy ra
Trường hợp áp dụng: Khi có dấu hiệu xác định địch chuẩn bị chiến tranh xâm lược; an ninh chính trị bị đe doạ; bọn phản động trong và ngoài nước cấu kết với nhau chờ thời cơ gây bạo loạn;
Trang 11địch đang chuẩn bị lực lượng đề tiến hành chiến tranh xâm lược; khi có lệnh khấn cấp và lệnh tồng động viên cua Chủ tịch nước.
Tô chức thực hiện: Bộ đội Biên phòng tồ chức Ihực hiện theo quyết tâm, kề hoạch A, A2
4.4 ĐÁU TRANH PHÒNG CHỐNG PHÀN ĐỌNG Ở KHU v ự c BIÊN GIỚI
Trong công cuộc xây dựng chù nghĩa xã hội ớ Việt Nam ngoài những phần tử phản động
cũ, dã xuất hiện nhóm phàn động mới; là nhừng phần từ trước đây không làm tay sai cho thực dân đế quốc, có tên đã ít nhiều đi theo cách mạng, có đối tượng nguyên là đàng viên, cán bộ nhà nước, bộ đội nay vì nhiều lý do khác nhau dần đến bất màn, thoái hoá, biến chất, có nhũng hoạt động chống đôi chế độ Một số dối tượng là con em giai cấp bóc lột, tuy được cách mạng nuôi dưỡng nhung do hận thù giai cấp, có hành động chống lại Đảng cộng sản, chống lại chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa
4.4.1 Nguyên nhân làm náy sinh phán (lộng
a) Do sự lôi kéo, kích động cùa kè địch
Các thể lực thù địch bên trong cũng như bên ngoài rất chú ý lôi kéo kích động, thậm chi khống chế, cưỡng bức quần chúng và cán bộ ta tham gia vào các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Thực tế đấu tranh cho thấy, có nhiều người trước sự tác động cùa các hoạt động phá hoại lư tường, kích động lôi kéo cùa các phần tử thù địch đã tiến hành hoặc tham gia các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, chống Đảng, chống Nhà nước, đây là một nguyên nhân quan trọng làm này sinh phàn động mới
Sự kích động, lôi kéo của địch có thể diễn ra một cách gián tiếp hoặc trực tiếp Hinh thức kích động gián tiếp thường do các thế lực thù địch bên ngoài tiến hành thông qua các phương tiện (hông tin đại chúng như các loại báo hình, báo nói, báo viết, mạng Internet
Các phần tứ phàn động bên trong, thường trực tiếp gặp gô kích động, lôi kéo cán bộ và quần chúng tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Hoạt động lôi kéo, kích động cùa các phần từ thù địch diễn ra thường xuyên, liên tục tác động mạnh mẽ đến những người có quan điếm sai trái, bất bình, bất mãn với đường lối, chính sách của Đàng cộng sàn khiến họ có những hành vi chống lại Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam
b) Do quyền lợi bị đụng chạm mà bất mãn sâu sắc với chế độ xã hội chù nghĩa lại không tiếp thu sự giáo dục của cơ quan đoàn thể chính quyền cách mạng
Trong thực tiễn có nhiều người vì quyền lợi bị đụng chạm mà bất mãn với chế độ xã hội chù nghĩa Đó là những người mang trong mình những quan điểm tư tưởng đối lập với chù nghĩa Mác - Lênin và tư tường Hồ Chi Minh, hành động trái với chính sách cùa Đàng có thể chuyền thành hành động xâm phạm đến an ninh quốc gia Vì vậv, người bất mãn sâu sắc với chế độ xẫ hội chủ nghĩa chứa đựng những mầm mống, khà năng trờ thành phàn động mới Neu những vấn đề bất mãn về chinh trị cùa họ kéo dài không được giải quyết lại không có sự tác động, giáo dục kịp thời cùa oác cơ quan đoàn thể chinh quyền hoặc họ từ chối sự tác động đó thì
họ dễ trở thành phản động mới Từ bất mãn sâu sác với chế độ xã hội chù nghĩa đến phán động mới là một quá trình thoái hoá biến chất về chính trị dẫn đến hành động chống lại chế độ xã hội chù nghĩa
Trang 12(!) Do có những quan điểm tư tưởng chinh trị phản động
Trong thế giới ngày nay đang tồn tại nhiều luồng tư tường, quan điểm, học thuyết trái ngược với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Nhiều tư tưởng, quan điểm, học thuyết du nhập vào Việt Nam bàng nhiều con đường khác nhau Một số người đã bị tiêm nhiễm những quan điểm, tư tưởng chính trị phản động nên họ có những hoạt động chống lại chế độ Nhà nước, chống Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên nhân này thường rơi vào các đối tượng phản động mới thuộc loại cơ hội chính trị
Các đối tượng trên thành phản động mới do có những quan điểm tư tưởng chính trị phàn động thường tiến hành các hoạt động chống đối quyết liệt, gây ra những khó khăn phức tạp trong công tác đấu tranh cùa ta
e) Do nhận thức lệch lạc về bàn chất chế độ
Trong xã hội Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhũng khó khăn về kinh tế xã hội, chính trị; tiêu cực, tham nhũng đã trờ thành quốc nạn Có nhũng tiêu cực làm ành hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng cùa quần chúng nhản dân, như hiện tượng các cán bộ cơ sờ làm sai đường lối, chính sách, pháp luật cùa Đàng và Nhà nước Chính những tiêu cực này đã gây ra cho một số cán bộ và nhân dân nhận thức lệch lạc về bản chất của chế độ xã hội chù nghĩa, thúc đẩy họ đi vào con đường xâm phạm an ninh quốc gia, chống lại chế độ
Ngoài các nguyên nhân trên còn có những yếu tố khác thúc đẩy sự nảy sinh và phát triển phản động mới như hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, những tiêu cực trong đời sống
xã hội, những sai lầm, thiếu sót, yếu kém trong thực hiện đường, lối chính sách cùa Đàng và pháp luật của Nhà nước; tất cả những yếu tố này tạo nên một môi trường xã hội tác động đến sự này sinh phàn động mới; trong những trường hợp nhất định trở thành nguyên nhân hình thành phản động mới Chính vì vậy, trong phòng ngừa không chi xoá bỏ dần các nguyên nhân mà phải xoá bỏ các điều kiện nảy sinh phản động mới, tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh
4.4.2 Phần loại phản động
a) Loại cơ hội chính trị
Các đối tượng cơ hội chinh trị là những phần từ đã tùng có quá trình gắn với cách mạng,
có trình độ nhận thức cao về chính trị, khoa học xã hội nhưng do bản chất cơ hội, hữu khuynh nên khi tinh thế cách mạng có diễn biến phức tạp thi dao động và bị địch lôi kéo vào các hoạt động chống Đảng cộng sản, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam Các đối
Trang 13tượng cơ hội chính trị trước khi trở thành phàn động mới thường ờ trong nội bộ ta trong các
tô chức cùa Đàng, trong bộ máy nhà nước hoặc trong các tố chức chinh trị xã hội khác thuộc
hệ thống chính trị cùa Việt Nam Nhiều đối tượng đà hoặc đang giữ nhũng trọng trách, nhũng cương vị cao trong bộ máy Đáng và Nhà nước
//in/í thức hoạt động: Đối tượng này tiến hành các hoạt động chống Đáng, chống Nhà
nước là do chúng có quan điểm, chinh trị phản động đối lập với chù nghĩa Mác - Lênin và tư tướng Hồ Chi Minh Các hoạt động cùa chúng đều nhẩm hình thành trên thực tế một khuynh hướng chống Đàng Cộng sản Việt Nam, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngay từ trong nội bộ, dần tạo thành tổ chức đối lập với Đàng, từ đó gây sức ép chinh trị buộc Đàng phải thay đối đường lối, thay đồi định hướng xã hội chú nghĩa Điều này rất phù hợp với âm mưu diễn biến hoà bình cùa chù nghTa đế quốc chính vì vậy mà các thế lực thù địch luôn tim mọi cách lợi dụng, kích động đề cao uy tín và tạo dụng các đối tượng cơ hội chinh trị thành những “con bài”, và những "ngọn cờ” tập hợp lực lượng bên trong chống lại chế độ nhầm thực hiện âm mưu “dùng cộng sàn đánh cộng sản” của chúng
Tính chất: Loại cơ hội chính trị là loại nguy hiểm nhất trong các loại đối tượng phán
dộng mới Tính chất nguy hiểm của bọn phản động mới nói chung thề hiện một cách tập trung nhất ở nhóm này vì chúng có rất nhiều điều kiện thuận lợi đề tiến hành các hoạt động chống Đảng, chống Nhà nước từ bên trong Chúng nấm được hoặc tiếp cận được nhiều bí mật cùa nội bộ ta Có đối tượng còn có khả nâng tác động nhằm thay đồi đường lối đối nội, đối ngoại cùa Đàng, hệ thống pháp luật theo khuynh hướng đi lệch hướng xã hội chú nghĩa trong quá trinh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
b) Loại bất mãn thoái hoá, biến chất
Là cán bộ, công nhân, viên chức đã nghi hưu, hoặc các đối tượng khác thoái hoá, biến chất, bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc, trớ thành phản động mới Nhũng năm vừa qua số đối tượng phàn động mới là cán bộ cơ quan nhà nước, đoàn thể cách mạng, lực lượng vũ trang nghi hưu chiếm tì lệ khá lớn trong số phàn động mới Thực chất họ do bấl binh, bất mân vì quyền lợi cá nhân bị đụng chạm, do ngộ nhận, do sa sút về phẩm chất chinh trị mà thoái hoá, biến chất tiến hành các hoạt động chống đối Đàng cộng sàn, chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Ngoài các loại phản động nói trên, xă hội còn có những người công dân bình thường khác vì nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau mà nhũng hoạt động chống lại Nhà nước, chống lại chế độ và trở thành phản động mới
4.4.3 Thủ đoạn hoạt động và công tác đấu tranh phòng chống phản động
a) Thù đoạn hoại động
- Tuyên truyền phá hoại tư tường chính trị.
Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hoạt động phổ biến nhất cùa bọn phản động mới Chúng rất tích cực biên soạn, in sao phát tán các tài liệu có nội dung phản động Nội dung tuyên truyền của chúng cũng đa dạng nhưng tập trung chù yếu vào tuyên truyền phá hoại các chú trương, đường lối chính sách cùa Đảng và Nhà nước, phù
Trang 14nhận vai trò lãnh đạo xã hội cùa Đàng Cộng sàn và để phù hoạ với các thế lực thù địch bên ngoài, chúng còn tập trung vào nhũng vấn đề “tự do”, “dân chủ” đề cao chù nghĩa tư bàn, nêu
ra những "học thuyết cách mạng mới” Trong quá trinh tuyên truyền chống chế độ, bọn phản động mới thường dùng những thù đoạn như: Lợi dụng vị tri công khai, cương vị công tác hợp pháp; lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng đề tuyên truyền và phổ biến các quan điểm lệch lạc, những tư tường phàn động đối lập cùa chúng tác động nhằm thay đồi đường lối, chính sách cùa Đàng và pháp luật cùa Nhà nước
Các đối tượng phàn động mới đặc biệt là loại cơ hội chinh trị thường lợi dụng vị trí, vai trò cùa chúng trong xã hội để tiến hành hoạt động nhàm tác động thay đổi đường lối và chù trương chính sách lớn của Đảng, sửa đồi hệ thống pháp luật theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phù nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tường Hồ Chí Minh nhàm đưa đất nước
ta phát triển chệch định hướng xã hội chù nghĩa
Chúng sừ dụng nhiều thú đoạn khác nhau, xâm nhập vào các cơ quan lãnh đạo cúa Đàng Nhà nước, vào các cơ quan tham mưu, nghiên cứu và hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật để tạo điều kiện sửa đồi đường lối đối nội, đối ngoại cùa Đàng, tạo ra cơ sở pháp lý đề bác bó vai trò lãnh đạo xã hội cùa Đảng cộng sản Chúng thông qua các diễn đàn hội thào, nghiên cứu khoa học, báo chí, đài phát thanh, truyền hinh để đưa ra các luận điểm giả cách mạng, giả khoa học nhằm tạo ra khuynh hướng, tư tưởng sai trái trong mọi tầng lớp nhân dân,
đề gây sức ép buộc Đáng và Nhà nước phải thay đồi đường lối chính sách và pháp luật Chúng tim mọi cách lồng các nguyên tắc, quan điểm luật tư sản vào nội dung hệ thống pháp luật cùa ta đề từ đó từng bước "tư sàn hoá” pháp luật cùa việt Nam
- Tập hợp lực lượng thành lập tổ chức phản động
Trong hoạt động này, bọn phản động mới thường tuyên truyền, lôi kéo những phần từ bất mãn với chế độ, nhất là nhũng đối tượng cơ hội hữu khuynh Các tồ chức của chúng thường do danh xưng và khẩu hiệu tuyên truyền mang tính chất cách mạng già hiệu như "đấu tranh chống tiêu cực”, “dân chù”, “đa nguyên chính trị” Tốc độ phát triển cùa tố chức khá nhanh và manh động Nhiều tố chức do bọn phàn động mới cầm đầu thường có cơ cấu, có hệ thống tố chức, danh xưng cương lĩnh hành động rõ ràng cụ thể Bên cạnh các tố chức có danh xưng, hệ thống tồ chức, cương lĩnh trong những năm qua bọn phản động mới còn tìm cách lập
tổ chức dưới dạng “câu lạc bộ”, “nhóm nghiên cứu”, hoặc những “nhóm ma” không có danh xung nhung tụ tập với nhau thường xuyên để bàn luận những vấn đề chính trị, xã hội, nói xấu
đả kích chế độ mà không có các dấu hiệu rõ rệt của một tổ chức phản động Chúng còn sử dụng thù đoạn “gây men”, “dấm sẵn” để tạo ra các khuynh hướng, các trào lưu đối kháng đối lập trong Đảng, trong các đoàn thể quần chúng và trong xã hội, tạo ra các cơ sở xã hội để khi cần có thể nhanh chóng tập hợp hình thành tổ chức phàn động Đây chính là nhũng mầm mong tiềm tàng, nguy hiểm gây ra sự mất ổn định về chính trị và xã hội
Trong hoạt động tập hợp lực lượng lập tổ chức phản động, bọn phản động mới rất chú ý tìm cách thao túng, lũng đoạn làm biến chất tổ chức công khai hợp pháp thành tổ chức phản động Có đối tượng phản động mới nằm ngay trong các tổ chức công khai hợp pháp đó
Do vậy, chúng có thể lái chuyển, thay đổi mục đích, điều lệ, cũng như phương hướng hoạt động của các tổ chức công khai hợp pháp này từ đó làm biến chất tồ chức hoạt động cùa
Trang 15các tố chức ta thành tổ chức phàn động Thời gian gần đây, bọn phàn động mới không chi tìm cách lập ra các lổ chức phán động mà còn tim cách công khai hoá, quốc tê hoá tô chứcchính trị phàn động cùa chúng nhằm hợp thức hoá các hoạt động chống đối biến lô chứccùa chúng thành tồ chức dối lập hoạt động công khai chống Đàng, chống Nhá nước.Móc nối, cấu kêt với các thế lực thù địch bên ngoài.
Trong quá trình hoạt động chống Nhà nước Công hoà xã hội chù nghía Việt Nam bọn phàn động mới rất chú ý tới hoạt động móc nối câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài Những năm gần đây, bọn phàn động mới trong nước và bọn phản động lưu vong ờ nước ngoài đều đẩy mạnh hoạt động câu kết với nhau Bọn phàn động mới một mặt tìm cách thu thập tin tức, nhất là những tin tức về nội bộ Đàng và Nhà nước, những bí mật quốc gia để cung cấp cho các thế lực thù địch bên ngoài gây kích động, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ hòng tạo ra những biến động chính trị, tạo ra cơ hội để chúng tiến hành lật đồ chế độ Mặt khác, chúng còn gửi các bài viết, bài nói, trả lời phóng vấn ra bên ngoài để các thế lực thù địch sử dụng chống Đàng, chống Nhà nước việt nam
Các thế lực thù địch bên ngoài và bọn phàn động mới bên trong còn lợi dụng sự giao lưu quốc tế về văn hoá, khoa học kỹ thuật, đào tạo đề hỗ trợ nhau trong hoạt động chống Nhà nước Việt Nam Dưới các danh nghĩa tham gia hội thảo, thăm thân, du lịch, đầu tư chúng có điều kiện đưa bọn bên trong ra nước ngoài và đưa bọn bên ngoài vào trong nước để gặp gỡ trao đổi, thống nhất phối hợp các hoạt động chống phá
Nhiều trường hợp bọn phản động mới còn câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài, lập
ra các tố chức phàn động hoặc tồ chức các vụ biếu tình phá rối an ninh Hoạt động móc nối, câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài của bọn phản động mới là một trong những nét nổi bật trong những năm gần đây Nhìn chung trong hoạt động này, bọn phàn động mới thường giữ vai trò thụ động và các thế lực bên ngoài lợi dụng điều khiển
- Tổ chức kích động quần chúng phá rối an ninh, trật tự
Các đối tượng phản động rấl chú trọng hoạt động phá rối an ninh, trật tự Chúng thường lợi dụng lịch sừ bán thân không có “vết”, thậm chí còn có công với cách mạng, lợi đụng diễn dàn dân chù, đồi mới, lợi dụng danh nghĩa công khai cùa mình để kích động và lôi cuốn quần chúng vào hoạt động chống phá an ninh, trật tự dưới các khẩu hiệu cách mạng giả danh như: Chống tiêu cực, “chống tham nhũng” Có trường hợp chúng lợi dụng biểu tình, bãi công, bãi thị, bãi khoá có tính chất phá rối an ninh, trật tự Trong những vụ này, chúng có thể kích động
và lôi kéo hàng trăm người tham gia, gây ra những hậu quả nặng nề về chính trị và kinh tế, xã hội, đặc biệt là ở những khu vực đang tồn tại nhũng mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ nhân dân Loại hình hoạt động này nếu để phát triển sẽ có nguy cơ chuyển thành hoạt động bạo loạn, lật
đổ chính quyền
b) Công tác đấu tranh phòng chống phản động
- Tăng cường công tác giáo dục đề có nhận thức đúng về đối tượng phàn động
Phần từ phản động là những thành phần đa dạng trong xã hội đã từng là đồng nghiệp, đồng đội; thậm chí là con em cùa chúng ta nhung vì một trong những nguyên nhân trên lác dộng mà chống đối chế độ Nhà nước xã hội chú nghĩa, chống lại Đàng Cộng sàn Vì vậy
Trang 16công tác đấu tranh phòng chống phản động là phái tăng cường giáo dục để có nhận thức đúng
về các phần từ phản động; nhận diện đúng, phân loại, làm rõ mức độ nguy hiểm cùa đối tượng, từ đó có biện pháp đấu tranh phù hợp
- Phòng ngừa ngăn chặn không để nảy sinh phản động
Đây là vấn đề có tính chất chiến lược, làu dài, là tư tường chi đạo, là yêu cầu cao nhất trong toàn bộ cuộc đấu tranh chống phản động mới Tư tưởng này đòi hỏi toàn bộ quá trình đấu tranh phải luôn luôn chú ý hạn chế, đi đến xoá bò các nguyên nhân, điều kiện này sinh phàn động mới; phải kịp thời tác động ngăn chặn, không đế những người có khả năng trờ thành phán động mới đi vào con đường chong chế độ Nhà nước xã hội chú nghĩa Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng đề làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh phản động: Tăng cường công tác nắm tình hình, quàn lý giáo dục con cái phần tử phàn cách mạng cũ, mở rộng đường thoát cho họ Kịp thời phát hiện, giài quyết tốt những sự bất binh trong nhân dân do việc thi hành không đúng chính sách cùa cán bộ gây ra Tăng cường quàn
lý, giáo dục cán bộ đảng viên không để xảy ra thoái hoá, biến chất, cần xác định những người
có khá năng trờ thành phàn động mới để tác động, giáo dục, cám hoá đưa họ trở về con đường làm ăn lương thiện, đồng thời phài đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, bản chất cùa vấn đề, xác định
và phân biệt giữa thái độ bất mãn nhất thời với thái độ bất mãn đã đến mức độ chống đối có tinh chất phản động để có hình thức, biện pháp tác động giáo dục cho phù hợp Phái coi phòng ngừa, ngăn chặn không đề phàn động mới náy sinh là công việc cùa cà hệ thống chính trị, phải huy động được sự tham gia cùa quần chúng, cùa mọi cấp, mọi ngành, mọi đoàn thể dưới sự lãnh đạo cùa Đảng
- Coi trọng cảm hoá giáo dục
Đây là một nội dung của chiến thuật đấu tranh chống phản động mới: Kết hợp chặt chẽ giữa cảm hoá giáo dục và trấn áp các hoạt động chống đối cùa họ, trong đó cần đặc biệt coi trọng cảm hoá giáo dục nhằm kéo họ về phía cách mạng, tạo điều kiện cho họ hối cải và tự từ bó các hoạt động chống chù nghĩa xã hội
Trong tình hình hiện nay đối sách với các đối tượng phàn động mới, đặc biệt chú ý đến những người bất mãn sâu sác trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội, số cơ hội hữu khuynh có quan điểm chính trị sai lệch; phái lấy tấn công chính trị, đối thoại, cảm hoá giáo dục theo phuơng châm “còn nước còn tát” để cứu người là chính, không được đẩy họ về phía thù địch Trên cơ sở cảm hoá giáo dục để thu hẹp diện chống đối, cô lập nhũng đối tượng chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách cực đoan, quá khích, móc nối với bên ngoài, tạo điều kiện để trấn áp có trọng điểm
Để quán triệt tốt vấn đề này, trong đấu tranh chống phản động mới công tác cảm hoá 'giáo dục phải đi trước một bước, phải được tiến hành liên tục từ khi phát hiện đến khi xử lý đối tượng; chống tư tưởng “nừa vời” trong giáo dục cám hoá đối tượng
Trang 17Dồi với số đối tượng hoạt động chống đối một cách công khai, trắng trợn, móc nối với bèn ngoài phải kiên quyết trấn áp bàng nhiều hình thức khác nhau sao cho đối tượng và đồng bọn nhụt ý chí chống đối nhưng không đẩy đối tượng vào đường cùng chống ta một cách quyết liệt hơn Trong trấn áp phản động dặc biệt là những đối tượng cơ hội chính trị hoặc những đối tượng có uy tín với quần chúng nhân dân, thì việc bắt giữ phài được tính toán hết sức thận trọng, phái trên cơ sớ pháp lý có đầy dù chứng cứ phạm pháp cùa đối tượng và trong trường hợp cần thiết xét thấy nếu không thể áp dụng biện pháp nào khác.
Tóm lại, các phần tử phản động là một trong những đối tượng nguy hiềm, xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội Hoạt động cùa các phần từ phản động đe doạ trực tiếp đèn sụ tồn tại và vừng mạnh cúa chính quyền nhân dân Đâu tranh chống phàn động là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong đấu tranh chống phàn cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
CÂU HỎI ÔN TẠP
1 Trình bày quan điểm của Đáng ta về biên giới và quản lý, bảo vệ biẽn giới quốc gia.
2 Trinh bày nguyên tắc, nội dung, hinh thức, quản lý bảo vệ bièn giới quốc gia.
3 Nêu nhận thức về phản động, thủ đoạn hoạt động và công tác đấu tranh phòng chống phàn động
Trang 18Chương 5
NỘI DUNG, GIẢI PHÁP TẢNG CƯỜNG BẢO VỆ BIÊN, ĐẢO
TRONG THỜI KỲ MỚI
5.1 BIÊN ĐỎNG VÀ VÙNG BIÊN, ĐẢO NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
5.1.1 Khái quát về Biển Dông
a) Tên gọi và vị tri dịu lý
Biền Đông là một biến rìa lục địa, ở phía tây Thái Binh Dương, là vùng biển nứa kín trải
rộng từ Singapore tới eo biền Đài Loan, bao phù một diện tích khoảng 3,5 triệu km2 Đây là biên lớn thứ tư thế giới, sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập, có vị trí quan trọng
về địa - chính trị, địa - kinh tế, địa - chiến lược của khu vực và quốc tế
Vùng biển này được gọi bàng nhiều tên khác nhau, tùy thuộc vào thói quen truyền thống hay xuất phát từ những mục đích, động cơ khác nhau
- Người Trung Quốc gọi là Wĩ:M (Nam Hài) Từ thời cận đại thì có thêm tên gọi là j^ ĩỊ H ;Ị | (Nam Trung Quốc Hài) và ‘í 5 (Trung Quốc Nam Hái).
- Người Philippines gọi là Biến Luzon, gọi theo tên hòn đào Luzon của Phiiippines Thời
gian gần đây thì gọi là Biến Tây Philippines.
Người Việt Nam gọi là Biến Đóng hay Be Đông Đây là tên riêng do người việt Nam
dùng để gọi vùng biển này và tên gọi này đã đi vào tiềm thức, tâm khảm cùa người dân Việt
Nam từ bao đời nay: “Thuận vợ thuận chồng, tát Biến Đông cũng cạn Thuận bè thuận bạn,
tát cạn Biến Đông " (Ca dao Việt Nam); chữ Hán viết là S /S (Đỏng Hài): “Quyết Đông Hái chi thúy bất túc dĩ trạc kỳ ô Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dì thư kỳ ác " (Nước Biển Đông
không rửa sạch mùi Trúc Nam sơn không ghi hết tội - Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi) Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, tên Biển Đông đẵ được Chính phù nuớc Cộng
hòa Xã hội chú nghĩa Việt Nam sừ dụng chính thức trong Công hàm gửi đến Tổ chức Khí tượng Thế giới xin đăng ký thông báo tình hình khí tượng của vùng biển này, viết bằng tiếng
Anh là Bien Dong Sea.
Người phương Tây gọi biển này Ià South China Sea (tiếng Anh), Mer de Chine
méridionale (tiếng Pháp), Mar da China Meridional (tiếng Bồ Đào Nha) Những tên gọi này
thường được ghi trên các hải đồ của nhũng nhà hàng hải phương Tây có liên quan đến khu vực này, trong các tài liệu khoa học, pháp lý, chính trị cùa các cá nhân, tổ chức quốc tế.Cũng cần nhấn mạnh ràng, về mặt pháp lý, tên gọi không phái là yếu tố có giá trị để khẳng định chù quyền cùa một quốc gia đã đặt tên cho một khu vực địa lý nào đó Chẳng hạn: gọi là Ản Độ Dương không có nghĩa đại dương này thuộc về Ân Độ; vịnh Thái Lan không có nghĩa là vịnh này hoàn toàn thuộc về Thái Lan; vịnh Bắc Bộ, không có nghĩa vịnh này là hoàn toàn thuộc về Việt Nam
Trang 19Cho nên dù Việt Nam gọi là Biên Đỏng thì người việt Nam không bao giờ cho răng
toàn bộ vùng biên này là cùa Việt Nam Tương tự, người Philippines mới dãy gọi vùng biên
này là biển Táy Philippines, cũng không có nghĩa họ muốn đòi toàn bộ vùng biển này thuộc
về 1’liilippines Sớ dĩ Philippines gọi như vậy có lẽ là dể đối phó với yêu sách cùa Trung Quôc muốn chiếm trọn Biển Đông, khi nước này đặt hơn 80% diện tích Biền Đông trong “đường lưỡi bò" (hay "đường 9 đoạn”, "đường chữ U”) mà Trung Quốc gọi là M/Ểi (Nam Hải), với lập luận ràng: Trung Quốc có "danh nghĩa lịch sứ", "chù quyền lịch sử” và người Trung Quốc
đã từng "phát hiện, sản xuất, sinh sống, đặt tên ”, vì vậy mà “quốc tế đã công nhận và gọi
vùng biển này là South China Sea (biển Nam Trung Hoa)" Có lẽ cũng vì the mà có không ít
học giá quốc tế cho ràng để tránh hiểu nhầm và bị lợi dụng, nên chăng quốc tế thống nhất gọi
vùng biển này là South Easl Asia Sea (Biển Đông Nam Á)?
Vi lý do nói trên, đối với người Việt Nam, khi gọi tên vùng biển này thì nên thống nhất
sử dụng là Biến Dông (viết hoa cả hai từ); trong các văn bàn tiếng Anh thì viết là Bien Dong
Sea, trong các văn bán tiếng Pháp là Mer de Bien Dong, mà không dịch là Easl Sea (tiếng
Anh) hay Mer de iE st (tiếng Pháp) Nếu cần có thề cho thêm tên quốc tế là South china Sea
trong các tài liệu nghiên cứu khoa học
Biển Đông nàm ớ phía đông Việt Nam, trài dài từ vĩ tuyến 03° Bắc đến vĩ tuyến 26° Bắc
và từ kinh tuyến 100° Đông đến kinh tuyến 121° Đông Có 9 nước và một vùng lãnh thổ tiếp giáp Biển Đông, gồm Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái l.an, Campuchia và vùng lãnh thổ Đài Loan
Biền Đông là một trong những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương, châu Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới Biền Đông có ảnh hường trực tiếp tới đời sống của khoảng 300 triệu người
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương với An Độ Dương, châu Âu với châu Á Biển Đông nhận nước của các hệ thống sông lởn trong khu vực như: sông Châu Giang (Trung Quốc); sông Hồng, sông Cửu Long (Việt Nam); sông Chao Phraya (Thái Lan) đồng thời gắn bó với các đại dương và các vùng biển lân cận bằng các eo biền; có rất nhiều đào, quần đào lém nhò nằm rài rác khắp nơi Những đào và quần đào lớn trong Biền Đông là: Côn Đào, Phú Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa (Việt Nam), Hải Nam (Trung Quốc) và Kalimantan (Malaysiá và Indonesia) Tròng Biển Đông cớ hai vịnh lớn
là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan
b) Tiềm năng của Biển Đông
- vè kinh tế: về tài nguyên: Biến Đông đuợc đánh giá là biển giàu về tài nguyên sinh vật, có
2.000 loài cá khác nhau, trong đó hơn 100 loài cá có giá trị kinh tế cao Đặc biệt, một số loài cá đã
bị tuyệt chúng ờ đại dương nhung vẫn còn ờ Biển Đông Biển Đông có tiềm năng về đánh bẳt hài sản, chiếm khoảng 10% về sản lượng đánh bắt hằng năm cùa toàn thế giới
- về khoáng sàn: Biển Đông có các mỏ và nguồn sa khoáng biền phong phú, chú yếu
là than, thiếc, titan, silicat Biển Đông là 1 trong 4 khu vực có trữ lượng dầu khí lớn cùa Thế giới ở trên biển Theo số liệu cùa nhiều nhà khoa học và cơ quan khoa học quốc tế dự đoán Biển Đông chứa khoảng 130 tý thùng dầu và khí tự nhiên, do đó Biển Đông được coi
Trang 20như vịnh Ba Tư thứ hai Riêng khu vực Trường Sa có trữ lượng dầu khi khoảng 6 tỷ thùng, trong đó khí chiếm khoảng 70% Mới đây, phát hiện Biển Đông có tài nguyên mới gọi là
"băng cháy”, đây là tên gọi thông thường cùa hợp chất Mêtan và nước ở nhiệt độ thấp và áp suất cao dưới đáy biển Mêtan được bao bọc bởi các phần tử nước hình thành một dạng băng trong suốt màu trắng Do bề ngoài trông giống băng nhưng lại có tính chất cháy nên gọi là “băng cháy” Năng lượng tỏa ra từ 1 m1 “băng cháy” tương đương năng lượng tòa ra
từ 180m! khí thiên nhiên Trữ lượng băng cháy ờ Biển Đông chưa xác định số liệu cụ thể (trữ lượng bảng cháy ở đáy đại dương toàn thế giới ước tính chiếm khoảng 10% tồng diện tích đại dương; đù cho loài người sừ dụng trong khoáng 1 nghìn năm)
về giao thông: Biển Đông là vùng biển có 1 trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn
nhất trên thế giới đi qua Giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới (sau Địa Trung Hải) Hàng ngày có khoảng 200 - 300 tàu từ 5.000 tấn trớ lên qua lại (không kề dưới 5.000 tấn), chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biền cùa thế giới Là tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch có tinh chiến lược cùa các nước trong khu vực và thế giới; nối liền Thái Bình Dương với Ản Độ Dương, châu Âu, Trung Đông với châu Á và giữa các nước châu Á với nhau
- về chinh trị: Biển Đỏng là nơi tập trung các mâu thuẫn chinh trị, kinh tế; nơi diễn
ra các tranh chấp phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia (kể cà các nước có chủ quyền và không có chủ quyền, các nước trong khu vực và trên thế giới) Nếu khùng hoảng, sẽ dẫn đến: Giao thông gián đoạn, thiệt hại về kinh tế; nhiều nền kinh tế suy thoái, ảnh hường đến an ninh thế giới
5.1.2 Biến, Đảo của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a) Tổng quan
Việt Nam giáp với Biển Đông ờ ba phía: đông, nam và tây nam Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, từ tinh Quảng Ninh đến tinh Kiên Giang, với các vùng biển và thềm lục địa, trung bình cứ 100 km2 đất liền thì có 1 km bờ biển Biển Đông có khoáng vài nghin đảo lớn nhỏ, trong đó có trên 250 cấu trúc địa lý có diện tích khoảng 1 km2 gồm các đảo san hô/cồn cát, rạn san hô, rạn san hô vòng, bãi cạn và bãi ngầm, phần lớn không có người sinh sống, đa phần bị ngập trong nước biển khi triều cường, một số nàm ngầm dưới mặt nước Các cấu trúc này được chia làm ba nhóm quần đảo là: quần đào Đông Sa (Pratas) ở phía bắc, quần đảo Hoàng
Sa (Paracels), quần đảo Trường Sa (Spratlys) ờ giữa Biển Đông, cùng hai bãi là bãi ngầm
Macclesfield và bãi cạn Scarborough Trong đó hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa cùng
hơn 2.570 hòn đào thuộc chủ quyền của Việt Nam ờ giữa Biển Đông hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chù các vùng biển và thềm lục địa cùa Việt Nam
Việt Nam không chi có phần lục địa “hình chữ S” mà còn có các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn trong Biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chù quyền và quyền tài phán quốc gia Trong cáe vùng biển nước ta có trên 4.000 hòn đào, đá, bãi ngầm lớn nhỏ ở gần và xa bờ biển, trong đó vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo, vùng biển Bắc Trung Bộ trẽn 40 đảo, còn lại
là các đảo thuộc vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đáo Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 21Các đáo trong các vùng biển Việt Nam phân hổ không đều, nám rải rác từ gần bờ đến xa
bờ Hệ thống đào hinh thành vòng cung rộng lớn chạy suốt từ vịnh Bấc Bộ đen quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, quần đáo phía nam và tây nam cùa đất nước, tập trung ở 4 khu vực:
- Vùng biền Đông Băc
- Vùng biền miền Trung
- Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
- Vùng biền phía nam và vịnh Thái Lan
Tổng diện tích các đào thuộc chủ quyền cùa V iệt Nam vào khoáng 1.636,6 km \ Irong đó
có khoảng 82 đào có diện tich lớn hơn 1 km2, chiếm 92% tồng diện tích các đảo; 23 đáo có diện tích trên 10 km và 3 đào có diện tích trên 100 km
Có thể phân hệ thống đào, quần đào thành ba tuyến:
Tuyến xa bờ: là những đào nàm ờ vị trí tiền tiêu, cửa ngõ, phên dậu của quốc gia, là hệ
thống phòng thủ từ xa, ờ đỏ có thề bố trí mạng thông tin tiền tiêu, đặt các trạm quan sát, các trận địa phòng không v.v để kiểm tra, kiểm soát bảo vệ lãnh thổ quốc gia, bao gồm vùng đất vùng biển, vùng trời cùa Tổ quốc Những đào, quần đào lớn trong hệ thống này như: quần đào Hoàng Sa, quần đào Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Côn Đảo, Thổ Chu
Tuyến giữa: là những đào có diện tích khá lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thể
xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho đời sống nhân dân và phát triển cho việc xây dựng các công trình chiến đấu phòng thù, các hải càng, sân bay Tuyến đảo này có các đào: Cô Tô, Lý Sơn, quần đảo Nam Du, Phú Quý (Cù Lao Thu), Phú Quốc
Tuyến ven bờ: gồm những đảo gần đất liền, thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp, nông
nghiệp, tạo thành nơi trú đậu, tránh bâo cho tàu thuyền, có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn trật tự an ninh trên vùng biển ven bờ Những đào lớn trong hệ'thống này là các đảo: Cái Bầu, Cát Bà, Cồn cỏ, Hòn Tre, Hòn Khoai
Mỗi vùng biển nước ta đều có từng cụm đảo khá liên hoàn, cả ba hệ thống đảo trớ thành thế trận phòng thủ nhiều lớp nhiều tầng, giàu tiềm năng về kinh tế và vững về thế trận quốc phòng, an ninh của Tồ quốc
Các vùng biển và hải đảo việt Nam nằm trong Biển Đông có nhiều khụ vực khác nhau, nhưng nổi bật và có những đặc điểm cần chú ý hơn là vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, một số đảo và quần đảo khác
* Vịnh Bắc Bộ:
Vịnh Bắc Bộ nàm về phía tây bắc Biển Đông, được bao bọc bời bờ biển và hải đảo của miền Bắc Việt Nam ờ phía tây; bởi lục địa Trung Quốc ở phía bắc; bởi bán đào Lôi Châu và đào Hài Nam (Trung Quốc) ở phía đông Vịnh Bắc Bộ trải rộng từ khoáng từ 105°36’ đến I09°55’ kinh độ Đòng, từ 21°5’ đến 17°10’ vĩ độ Bẳc Diện tích khoảng 126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km Vịnh Bắc Bộ là vịnh tương đối nông, độ sâu trung bình khoáng 40 - 50 m, nơi sâu nhất khoảng 100 m; đáy biển tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ Thềm lục địa thuộc phần kéo dài tự nhiên cùa lục địa Việt
Trang 22Nam ra biển khá rộng, độ dốc thoái và có một lòng máng sâu trên 70 m gần đào Hài Nam Bờ vịnh khúc khuỷu và ven bờ có nhiều đảo.
Vịnh Bắc Bộ có hai cứa thông với bên ngoài: Cừa phía nam ra trung tâm Biển Đông, nơi hẹp nhất rộng khoảng 240 km; cửa phía đông qua eo biển Quỳnh Châu (nằm giữa bán đào Lôi Châu và đảo Hài Nam) ra phía bác Biển Đông, nơi hẹp nhất khoảng 18 km
* Vịnh Thái Lan:
Vịnh Thái Lan là phần phía tây cùa Biển Đông, là vùng biển nừa kin, nằm về phía tây nam Việt Nam, nên người Việt Nam thường gọi là vùng biển Tây Nam [trên Cửu đinh cùa
triều Nguyễn ờ Huế có khắc hinh vùng biển này và ghi danh là B ỈS {Tây Hái)], với diện tích
khoảng 300.000 km2 được giới hạn bời bờ biển 4 nước: Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia, thông ra Biển Đông ờ phía nam bằng một cứa duy nhất hợp bới mũi Cà Mau (Việt Nam) và mũi Trenggranu (Malaysia), cách nhau chừng 400 km Vùng biển giữa việt Nam - Campuchia có trên 100 đảo lớn nhỏ như: đảo Phú Quốc, quần đào Thổ Chu, đào Vai, quần đào Hải Tặc, đào Phú Dự, hòn Tiên Mới Trừ đảo Phú Quốc có diện tích khoảng 600
km \ Thố Chu khoảng 10 km2 Phú Dự (25 km2) và Hòn Dừa (6 km2), còn lại phần lớn các đảo đều có diện tích nhỏ từ vài trăm m2 đến 2 krrf Tại vùng biển này, tài nguyên thiên nhiên khá dồi dào, nhung đáng kể và có giá trị nhất vẫn là tài nguyên sinh vật biển và khoáng sán chứa trong các trầm tích cùa thềm lục địa
* Quan đào Hoàng Sa và quân đào Trường Sa:
Quẩn đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm trong khoảng từ 111° đến 113° kinh độ Đông, từ 15°45’đến 17° 15’ vĩ độ Bắc, ở phía ngoài cừa vịnh Bắc Bộ, phía bấc Biển Đông, trên con đường biển quốc tế từ châu Âu đến các nước ờ phía đông và đông bắc châu Á và giữa các nước châu Á với nhau
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo, đá, bãi cạn, chia làm hai nhóm: nhóm An Vĩnh
(Amphitrite Group) ờ phía đông gồm khoảng 12 đảo, đá, bãi cạn , trong đó có hai đào lớn là
Phủ Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5 km2; và nhỏm Lưỡi Liềm (Crescent Group) ờ
phía tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung, trong đó có các đào chính: Bắc, Hoàng Sa, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Chim Yen, Tri Tôn Riêng đảo Hoàng Sa có trạm khi tượng cùa Việt Nam hoạt động từ năm 1938 đến 1947, được Tồ chức Khí tượng Quốc tế đặt số hiệu 48.860 (số 48 chi khu vực Việt Nam)
Cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hài lý về phía nam là quần đào Trường Sa, bao gồm hơn 100 đảo, đá, bãi ngầm, bãi san hô, trải rộng trong khoảng từ 6°30’ đến 12° vĩ độ Bắc
và khoáng từ 111°30’ đến 117°20’ kinh độ Đông, cách Cam Ranh (Khánh Hòa, Việt Nam)
248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 595 hài lý
Quần đảo Trường Sa được chia làm tám cụm: Song Tứ, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh
Ton, Trường Sa, Thám Hiếm, Bình Nguyên Song Từ Tây là đào cao nhất (cao từ 4 - 6 m lúc
thúy triều xuống); Ba Bình là đảo rộng nhất (0,6 km2) trong quần đảo này.
Điều kiện tự nhiên và khi hậu vùng này rất khắc nghiệt: nắng gió, giông bão thường xuyên, thiếu nước ngọt, nhiều đảo không có cây
Trang 23Quần đào Trường Sa không chi ]à vị trí quân sự chiến lược án ngữ phía đông nam nước
ta mà còn là một vùng có trừ lượng tài nguyên khá lớn, có nhiều loại động, thực vật phong phú, đa dạng
Hai quân đào Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí hét sức quan trọng đối với đất nước ta Trước hêt, hai quần đào này năm giữa Biên Đôna, nơi có những tuyến đường hàng hải quan trọng nhàt của thê giới đi qua Ngoài ra, do vị trí nam trãi dài theo hưởng bờ biên Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa là nhũng vị trí tiền tiêu báo vệ sườn đông cua đất nước, cùng như các vùng biên và thêm lục địa cùa Việt Nam về kinh tẽ hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sán phong phú và đa dạng, đặc biệt là tài nguyên dầu khí
Đ Q utn|
Hình 5.1 Sơ đè quần đảo Hoàng Sa (Huyện Hoàng sa thuộc thành phố Đà Nâng)
Quần đảo Trường Sa ờ phía nam Biển Đông bao gồm khoảng 138 đảo, đá, bãi ngầm, vành đai san hô, nằm ữong khoảng từ 6°30’ đến 12° vĩ độ Bắc và khoảng từ 111°30’ đến 117°20’ kinh tuyến Đông, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 595
hài lý Quần đảo Trường Sa được chia làm tám cụm: Song Tứ, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh
Ton, Trường Sa, Thám Hiếm, Bình Nguyên.
* Cụm Song Tứ: Cụm Song Từ là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ờ phần tây bắc
cùa quần đảo Trường Sa Gọi là Song Tứ vì cụm đào này gồm hai đào Song Tứ Đông và
Song Tứ Tây như một cặp đảo song sinh, nằm gần nhau và có kích thước gần như tương
Trang 24đương Cặp đảo này hợp cùng các rạn đá san hô như đá Nam, đá Bắc ở khu vực lân cận dể tạo nên một vòng cung san hô lớn mà các tài liệu hàng hài quốc tế gọi là Norlh Danger
Reefs (rạn đá nguy hiểm phía bắc) Tuy nhiên, Việt Nam còn gộp hai rạn vòng ngầm dưới
nước ờ phía đông cùa rạn North Danger Reefs, cụ thề là bãi Đinh Ba và bãi Núi cầu, vào
cụm Song Từ
* Cụm Thị Tứ: Cụm Thị Tứ là một tập hợp các thực thề địa lý nằm ờ phía nam của cụm Song Tử và phía bắc cùa cụm Loại Ta Cụm này chi có một đào san hô là Thị Tứ (đảo lớn thứ hai trong quần đảo Trường Sa), còn lại đều là các rạn đá như: rạn đá Hoài Ân, rạn đá Vĩnh
Hào, rạn đá Xu Bi (Subi Reef) Rạn đá Xu Bi là thực thể tách biệt hẳn về phía tây nam so
với các thực thể còn lại Trừ rạn đá Xu Bi thi đảo Thị Tứ và các rạn đá lân cận cùng nhau tạo
thành rạn đá Thị Tứ (Thitu Reefs).
* Cụm Loại Ta: Cụm Loại Ta là tập hợp các thực thể địa lý nàm ở phía nam của cụm Thị Tứ và phía bắc cùa cụm Nam Yết Cụm này có hai đảo lớn là Loại Ta và Ben Lạc Đào Loại Ta là trung tâm của bãi san hô Loại Ta (Loaita Bank), về hai phía đông - lây cửa đào có các cồn cát và rạn san hô như: bãi An Nhơn, bãi An Nhơn Bắc, bãi Loại Ta Phía đông bắc cúa bãi san hô Loại Ta có một rạn đá ngầm lớn tên là bãi Đường; đầu mút phía bắc cùa bãi này có rạn đá ngầm gọi là rạn đá An Lão Đảo Bến Lạc (đào lớn thứ ba trong quần đào Trường Sa) và rạn đá Cá Nhám lại nằm tách biệt hẳn về phía đông các thực thể trên.
* Cụm Nam Yết: Cụm Nam Yết là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ờ phía nam cụm Loại Ta và phía bắc của cụm Sinh Tồn, gồm hàng loạt thực thể nổi bật như: đào Ba Bình (đảo lớn nhất quần đảo Trường Sa), đào Nam Yết, đào Sơn Ca, đá Én Đất, đá Ga Ven (Gaven
Reef) Đa số các thực thể địa lý thuộc cụm này hợp thành một bãi san hô dạng vòng có tên
gọi bãi san hô 77 Da (Tizard Bank) Ngoài ra, về phía tây của bãi san hô Ti Da còn có một số thực thể nàm riêng biệt như đá Lớn, đá Chữ Thập
* Cụm Sinh Tồn: Cụm Sinh Tồn (Union Bank/Reefs) là một tập hợp các thực thể địa lý
nằm ờ phía nam cụm Nam Yết Cụm này chi có một đảo san hô là đảo Sinh Tồn, một cồn cát
là Sinh Tồn Đông, còn lại là rất nhiều rạn đá như: Cô Lin (Collins Reef hay Johnson North
Reef), Gạc Ma Ụohnson Ree/haỵ Johnson South Reef), Len Đao (Lansdowne Reef) Trong
số này, rạn đá Ba Đầu là rạn đá lớn nhất
* Cụm Trường Sa: Cụm Trường Sa là một tập hợp các thực thể địa lý nằm dàn trài theo
chiều ngang từ tây sang đông ờ phía nam cùa các cụm Nam Yết, Sinh Tồn và phía bẩc của cụm Thám Hiểm, chù yếu giữa hai vĩ tuyến 8° Bắc và 9° Bắc Cụm này chi có một đảo san hô
là đào Trường Sa (còn gọi là đào Trường Sa Lớn), còn lại đều là rạn thường nói chung và rạn vòng nói riêng như: rạn đá Tây, rạn đá Tiên Nữ, đào Phan Vinh (Hòn Sập), đào Trường Sa
Đông Bốn thực thể theo thứ tự từ tây sang đông gồm: rạn đá Tây, đào Trường Sa Đỏng, rạn
đá Đông vò đá Cháu Viên, hợp thành rạn đá Luân Đôn (London Reefs) theo các tài liệu hàng
hải quốc tế
* Cụm Thám Hiếm: Còn gọi là cụm An Bang là một tập hợp các thực thể địa lý ỡ phía
nam cùa quần đảo Trường Sa Cụm này không có đảo san hô nào ngoài một cồn cát nổi bật là
An Bang (thường gọi là đảo An Bang) Nhìn chung phần lớn thực thể cùa cụm này tạo thành
Trang 25mội vòng cung lớn với phần lõm hướng vẽ phía đông nam, trài dài từ đá Sác Lôt (Royal
Charlotle Reef), qua đá Công Đo (Commodore Keeà) đến bãi Trăng Khuyết (Half Moon Shoaß) MỘI máng biển ngăn cách vòng cung này với thềm lục địa của đảo Boméo
(Indonesia)
* Cụm Bình Nguyên: Cụm Bình Nguyên là một tập hợp các thực thề địa lý hợp thành từ
phần phía Đông cùa quần đào Trường Sa, trong khu vực gần với đào Palavvan (Philippines) Tuy cụm này có nhiều thực thê địa lý nhàt so với các cụm còn lại nhưng sô này
lại phân tán rái rác trên một vùng biển rộng lớn Đáo Vĩnh Viễn và đào Bình Nguyên là hai đào
duy nhất cùa cụm này, trong đó đáo Bình Nguyên đang chịu tác động cùa hiện tượng xói mòn
Số thực thê còn lại đêu là những rạn đá (rạn vòng) và các bãi ngâm
Hình 5.2 Sơ đè quần đảo Trường Sa (Huyện Trường Sa thuộe tình Khánh Hòa)
b) Nguồn lợi biển, đảo
Biển Việt Nam là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta phát triển một nền kinh tế đa dạng như: khai thác khoáng sản (dầu khí), phát triển đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản, phát triển du lịch, giao thông đường biển
Cụ thể:
* Nguôn tài nguyền sinh vật vô cùng phong phú:
Biển Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nguồn lợi sinh vật biền phong phú, đa dạng về giống loài: có đến trên 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ờ biển Trữ lượng các loài động vật ờ biển ước tính khoáng 32,5 tỳ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tồng trữ lượng Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá và nhiều loại tôm thuộc các
7-GỈXC VỀTNAM-A
Trang 26bộ, họ khác nhau Trong đó có 110 loài cá và khoáng 50 loài tôm có giá trị kinh tế cao Trữ lượng cá ở vùng biển Việt Nam khoảng 3 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng nâm là 1,3 - 1,4 triệu tấn, sản lượng tôm được phép khai thác từ 50.000 - 70.000 tấn Các loài động vật thân mềm ớ Biển Đông có trên 1.800 loài, trong đó có nhiều loại là thực phẩm được nhiều người ưa thích như: mực, hải sâm, trai, ốc Ngoài các nguồn lợi cá, tôm, động vật thân mềm còn có các loài đặc sản biển có giá trị kinh tế cao rất đặc trưng cho vùng biển Việt Nam như: hài âu, bồ nông, chim rẽ, hải yến, động vật đáy, cầu gai, các loại động vật làm dược liệu
Biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị Đây là nguồn thực phấm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú Biền Việt Nam có khoảng 638 loài rong biền Các loại rong biển này dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên nó sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng cùa loài người trong tương lai
Trong số những lợi ich mà biển mang lại, kinh tế thúy sản chiếm vị tri đặc biệt quan trọng, kể cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Bởi vì, thủy sản là nguồn tài nguyên tái tạo và kinh tế thủy sản phát triển dựa trên nền tảng cùa các hệ sinh thái, nên có thể khảng định là
"còn biến, còn thúy sàn ", Đối với một nước đi lên từ xuất phát điểm thấp của nền kinh tế, còn
nghèo nàn và lạc hậu như nước ta, thủy sản lại càng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm và cài thiện sinh kế cho các cộng đồng dân cư sống ở các vùng nông thôn ven biển và hài
đảo Mặc dù tiềm năng nguồn lợi hài sàn cùa nước ta rất lớn nhưng khá năng khai thác còn
hạn chế: chi mới tập trung khai thác ờ ven bờ, gây nên sự mất cân đối làm cho nguồn hài sàn ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt.
Dê khai thác được nguồn lợi hái sàn xa bờ có hiệu quà, lừ năm 1997, Nhà nước la đã có chù trương và cung cấp vốn ưu đãi cho việc đóng làu mua sắm trang bị đánh băl xa bờ, đong thời cũng ban hành một so cơ chế chính sách ưu đãi nham đây mạnh chương trình khai thác hài sàn ớ các vùng biến xa bờ.
* Tài nguyên giao thông vận tài:
Vùng biền và ven biển Việt Nam năm án ngữ trên các tuyến hàng hài và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ẩn Độ Dương và Thái Binh Dương, giữa châu Âu, vùng Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Biển Đông đóng vai trò là chiếc “cầu nối” cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khù vực châu Á - Thái Binh Dương, khu vực phát triền kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn cùa thế giới Biển và vùng ven biển nước ta là cừa mở lớn, là “mặt tiền” quan trọng cùa đất nước để thông ra Thái Bình Dương và mờ cửa inạnh mẽ ra nước ngoài Biền Việt Nam nằm trên trục đường giao thông đường biển quốc tế từ Thái Binh Dương sang Đại Tây Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ trẽn biển (đóng tàu, sửa chữa tàu, tìm kiếm cứu hộ, thông tin dẫn dắt )
Việt Nam có đường bờ biển chạy theo hướng bắc - nam Dọc theo chiều dài cùa đất nước, bờ biển khúc khuỷu có nhiều vũng, vịnh nước sâu, cấu tạo địa chất rất thuận lợi để phát triển càng biển trong đó có các cảng trung chuyển Container tầm cờ quốc tế (dọc bờ biển Việt Nam có 10 điềm có thể xây dựng càng biển nước sâu và nhiều điềm càng trung bình với tổng
Trang 27sản lượng hàng hóa vận chuyền có thể đạt 50 triệu tấn/năm); đồng thời cũng rất thuận lợi đê xây đựng các cơ sở đóng tàu quy mô lớn Ngoài ra, trung bình khoảng 20 km bờ biển lại có một cửa sông Phần lớn các sông ngòi đều chày theo hướng tây băc - đông nam và đồ ra biển Đáng chú ý là các hệ thống sông vùng duyên hải Quàng Ninh, hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Mã, hệ thống sông Cả, hệ thống sông Đông Trường Scm, hệ thống sông Đồng Nai - Vàm
Cỏ và hệ thống sông Cứu Long Các hệ thống sông này đều có cửa thông ra biển thuận tiện cho giao thông đường thúy từ đất liền ra biển và ngược lại Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng với các tuyến đường bộ, đường thủy, đường sắt ven biển vưcm tới các vùng sâu trong nội địa, đến các tuyến đường xuyên Á cho phép vùng biển và vùng ven biên nước ta có khà năng chuyển tải hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu qua mọi miền cùa Tổ quốc và ra nước ngoài, đến Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Campuchia, góp phần thúc đẩy cực tăng trướng mới
về kinh tế trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch lự do giữa các nước ASEAN và Trung Quôc.
* Tài nguyên du lịch:
Đất nước Việt Nam chạy dài trên 15 vĩ độ địa lý (từ vĩ độ 6° Bắc đến 21° Bắc) nhưng lại hẹp vẽ chiều ngang, khí hậu phân hóa, phong phú về tập quán dân tộc, bờ biên dài có nhiêu bãi cát rộng, vũng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, eác dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cành quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, các bán đào và các đảo lớn nhò liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới, tiêu biểu là quần thể núi và hang động
đá vôi ở vịnh Hạ Long đã được UNESCO xếp hạng là di sản thiên nhiên cùa thế giới
Do hoàn cảnh tự nhiên, biển đảo có những sắc thái riêng không đâu có với gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 1 km2, trong đó 24 đào có diện tích trên 10 km2, các hệ sinh thái đảo và xung quanh đảo được hình thành và phát triển trải qua hàng trăm năm rất độc đáo, hấp dẫn Đó là những nơi có không khi trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn, là những nơi lý tường để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển đào, du lịch sinh thái như các đảo: Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Côn Đáo, Phú Quốc
Ngoài ra còn có các thắng cảnh tự nhiên trên đất liền nồi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước và nhiều di tích lịch sử - văn hóa như: nhà thờ đá Phát Diệm, quần thể kiến trúc cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, quần thể tháp Chăm ờ các tinh Trung Bộ đều tọa lạc ờ ven biển, kết hợp với các trung tâm kinh tế thương mại, thành phố du lịch như: Hạ Long, Hải Phòng, Đà Năng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu nằm trên tuyến du lịch quốc tế có đù các điều kiện và khả năng để trờ thành tụ điểm du lịch biển đào
Ngày nay sức thu hút cúa du lịch biển đào đã vượt ra ngoài các loại hình du lịch truyền thống, phát triển với nhiều loại hình đa dạng hơn, phong phú hơn Biển Việt Nam có đầy đù điều kiện đề phát triển như:
- Nghi ngơi, dư&ng bệnh, tắm biển, tham quan ở vùng duyên hải hay ờ ngoài đào.
- Du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học vùng duyên hải, hải đảo, trong lòng biển
- Du lịch thể thao với các hoạt động như: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhày sóng, đua thuyền, bóng chuyền bãi biển Loại hinh du lịch này ngày càng hấp dẫn, thu hút đông đào du khách
vì sự gắn kết giữa rèn luyện sức khỏe với nghi dưỡng, trong khi việc đầu tư cơ sờ hạ tầng không lớn, có thể tổ chức các loại thi đấu thể thao quốc gia và quốc tế quanh năm
Trang 28- Du lịch hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế.
* Tài nguyên không sinh vật:
Trong lòng đất dưới đáy biển, trong lớp bùn dưới đáy đại dương, vùng cát ven biền chứa
đù các loại khoáng sản quý hiếm, nhiều khi trữ lượng còn lớn hom gấp nhiều lần các mò trên lục địa Bước đầu cho thấy tiềm năng dầu khí trên thềm lục địa !à lớn nhất, sau đến các loại khoáng sản rắn ven bờ Chi riêng đáy Thái Bình Dương, ưác tính các kết cuội đa kim tập trung thành những mò quan trọng có trữ lượng rất lớn: manganese khoảng 400 tý tấn; đồng 8,8 tỳ tấn; titanium 10 tỷ tấn; nicken 16,4 tỷ tấn; sắt 20 tỷ tấn, khí thiên nhiên ước tính có khoảng 14.000 tỳ m3 Biển, thềm lục địa Việt Nam có khoảng 500.000 km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí Trữ lượng dầu khí ngoài biển khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm tới 25% trữ lượng dầu khí dưới đáy Biển Đông, có thể khai thác được 30 - 40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít), khoảng 20 triệu tấn/năm Trữ lượng dầu khí dự báo cùa toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tý tấn quy dầu Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoáng 3 nghìn tý m3/năm Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm nảng và trữ lượng dầu, khi tại các bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sem, Cừu Long, Malay-Thổ Chu, Vũng Tư Chính-Vũng Mây khoảng từ 0,9 đến 1,2 tỳ m3 dầu và từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3 khí Trữ lượng khí đẫ được xác minh là trên 61 Otỹ m3 Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác là 610 m’ và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3 So với các nước Đông Nam Á, trữ lượng dầu khí cùa nước ta đứng thứ ba, sau Indonesia và Malaysia Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trờ thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển cùa một số ngành khác như công nghiệp hóa dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực
Vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía tây cùa vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn Ngoài ra ven biển Việt Nam chứa đựng một tiềm năng to lớn
về quặng sa khoáng như titanium, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm Trong đó, cát nặng, cát đen
là nguồn tài nguyên quý giá Điều quan trọng là lĩnh vực ứng dụng các nguyên tố đất hiếm rất phong phú và đa dạng Trong luyện kim người ta chế tạo nhũmg vật liệu đặc biệt cho ngành hàng không, vũ trụ và cho các lò phản ứng hạt nhân Trong điện từ tin học, trong kỹ thuật điện
và ánh sáng (phát quang), trong các ngành gốm sứ, hóa chất đều có sử dụng đất hiếm
iircon: Các khoáng vật chứa Zr trong sa khoáng ven biển có zircon và zirtholit và
khoáng vật hiếm và ít có giá trị Zircon phổ biến hom trong sa khoáng ven biển và là khoáng vật có giá trị kinh tế nhất khi thu hồi zirconi Trong sa khoáng ven biển Việt Nam, hàm lượng
và mức độ phồ biến cùa zircon chi đứng sau ilmenit Dọc ven biển Việt Nam đều có các mó
sa khoáng, nhưng nhiều hơn cả ờ các tinh: Bình Thuận, Bình Định, Quảng Nam, Thanh Hóa,
Hà Tĩnh
Sắt - mangan: Theo tài liệu khảo sát của tàu Atlante, ỡ Biển Đông có nhiều dấu hiệu kết
hạch sắt - manganese với hàm lượng có ích đủ cho yêu cầu công nghiệp Tuy nhiên, dạng tài nguyên này nằm ờ những độ sâu trên 2.000 m nên việc khai thác còn ớ tương lai Mỏ sắt
Trang 29Thạch Khê, Hà Tĩnh có giá trị công nghiệp lớn, trữ lượng 580 triệu tấn, song việc khai thác đòi hỏi kỹ thuật cao và vôn đầu tư lớn.
Cát thạch anh (inh khiết: Đây là một trong những sa khoáng phổ biến và là khoáng sàn
chính ờ ven biền việl Nam, phân bố từ bắc tới nam Các khu vực ven biền Vân Hài, Cát Bà,
Kỳ Anh, Quàng Bình, Đà Năng, Cam Ranh có những bãi cát có ý nghĩa công nghiệp Công nghiệp thúy tinh cao cấp và công nghiệp vật liệu mới có một nhu cầu lớn về cát thạch anh tinh khiết
Thạch cao: Vùng ven biển Bình Thuận có những bãi thạch cao do hiện tượng đùn lên
trên bãi cát, trữ lượng không đáng kể Tuy vậy, nếu kết hợp việc thu hồi thạch cao trong công nghiệp muối thi việc thiêu thạch cao ờ nước ta cũng được bù đăp một phân nào
Cát biến: Hiện nay cát biền đã trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng đối với ngành
xây dựng
Muối và các hóa chắt biến chù yếu là NaCl: Đây là nguồn thực phẩm tối can thiết trong
cuộc sống và là nguyên liệu điều chế các hóa phẩm công nghiệp khác Theo đánh giá sơ bộ, tiềm năng diện tích để phát triền đồng muối vùng ven biền nước ta rất lớn, từ 50 - 60 nghìn
ha, trong đó khoảng 60 % tập trung ờ ven biền từ Quáng Ngãi đến Bình Thuận
Tài nguyên vùng biển và ven biền nước ta được đánh giá rất phong phú và đa dạng, phản bố rộng khắp trên dài đất liền ven biền đến các vùng nước ven bờ, các hải đảo và các vùng biền khơi Ven biển nước ta có khoảng 110 cứa sông đồ ra biền Trung bình khoảng 30km bờ biển có một cửa sông Hiện nay, cả nước có hơn 90 cảng lớn, nhó, với 24.000m cầu cảng và 10 khu chuyển tải, có cầu cảng có thể tiếp nhận được tàu tới 50.000 DWT
- Cả nước có 63 tinh thành thì 28 tinh thành có biển, trong đó có 12 huyện đào; trên 50%
số dân cùa nước ta sống ở các tinh ven biển Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi để chúng ta phát triển một cách đa dạng các ngành kinh tế biển, bao gồm kinh tế biển khơi, kinh tế ven biền và kinh tế hải đảo
- Để khai thác tiềm năng và lợi thế cùa biển, đáp ứng đòi hỏi khách quan của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, ngày 06/5/1993, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 03-QN/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong nhũng năm trước mắt, trong đó xác định: “Trờ thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan cùa sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tồ Quốc Việt Nam”
Chì thị số 20-CT/TW ngày 22/9/1997 cùa Bộ Chinh trị về đẩy mạnh phát triển kinh
tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá khẳng định: “Vùng biển, hải đảo và ven biền là địa bàn chiến lược có vị tri quyết định đối với sự phát triển cùa đất nước ta; là tiềm năng và thế mạnh quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Đại hội Đại biếu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biền, khai thác lợi thế cùa các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triền cao, thúc đẩy các vùng khác Xây dựng cán cứ hậu cần ớ một số đào đề tiến ra biển khơi”
Trang 30Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định, cần phái: “Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điếm; sớm đưa nước
ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gẩn với bảo vệ quốc phòng và
an ninh và hợp tác quốc tế”
Biền không chi mang lại cho con người những nguồn lợi to lớn mà còn cung cấp cho con người những nguồn năng lượng vô tận Mặt khác, biển vẫn là môi trường tự nhiên rất khắc nghiệt và nhiều biến động; nhiều hiện tượng thời tiết, thuỷ văn khắc nghiệt, vấn đề phòng chống thiên tai, tìm kiếm - cứu nạn trên biển đang là vấn đề rất cấp bách, không chi đối nội,
mà còn đối ngoại và là trách nhiệm cùa nước chù nhà trên các vùng biền thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia cùa minh
b) Chính sách và Pháp luật biển Việt Nam
Nhà nước Việt Nam qua từng thời kỳ và với mỗi giai đoạn lịch sừ khác nhau đă từng bước xây dựng và ban hành các chính sách, pháp luật về biển khá kịp thời và thích hợp với đòi hòi của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Chính sách, pháp luật về biển luôn được tồng kết theo tùng giai đoạn lịch sử nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng một hệ thống chính sách biển Việt Nam đồng bộ, khoa học, hiện đại, phù hợp luật pháp quốc tế Quá trinh này có thể chia ra làm ba giai đoạn:
- Trước năm 1945
-T ừ n ăm 1945đến năm 1975
-T ừ n ăm 1975 đến nay
Chính sách, pháp luật về biển cùa Việt Nam trước năm 1945:
Trong thời kỳ này, việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật biển nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, chống ngoại xâm; đồng thời mờ rộng lãnh thồ về phía đông và nam
ít nhất là từ thế ký XVII, Nhà nước Việt Nam đã tiến ra Biển Đông, chiếm hữu và thực thi chù quyền cùa Việt Nam đối với hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa; tồ chức các cuộc tuần tra trên biển để trấn áp nạn cướp biển; tổ chức phòng thủ bờ biển; tổ chức mạng lưới thưcmg mại với tàu thuyền các nước Vì khá năng hạn chế cũa tàu thuyền cùng với khí hậu khấc nghiệt nên tàu thuyền đi qua Biển Đông thường men theo bờ biển Việt Nam Vì vậy, Nhà nước Việt Nam đã mở hai thương cảng lớn là Vân Đồn, Hội An- Cù Lao Chàm để giao thương với nước ngoài
Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức đội Hoàng Sa và Bắc Hải, thường xuyên hoạt động tại khu vực 2 quần đảo này từ thế kỳ XVII Những hoạt động này đã được nêu
rất rõ trong các sử liệu của Việt Nam như: Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (soạn
vẽ năm 1786), Phù biên tạp lục (biên soạn 1776), Đại Nam thực lục tiền biên (biên soạn
năm 1844)
Kê tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn, rồi đến các vua nhà Nguyễn luôn ra sức cúng cố chủ quyền cùa Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Bộ chính sử cùa triều
Nguyễn Đại Nam thực lục chính biên (biên soạn vào thế ký XIX) có ghi chép về các chính
sách và hoạt động của triều Nguyễn đối với việc xác lập, thực thi và bảo vệ chú quyền liên tục
Trang 31đối với hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa trong thời gian triều đại này cầm quyền ờ Việt Nam.
Những hoạt động nói trên không những chi được ghi lại trong các sử sách mà điêu quan trọng là Việt Nam đã thu thập được nhiều văn bằng, chiếu chi, châu bản của chinh quyền đương thời có liên quan đến các hoạt động chiếm hữu và thực thi chù quyền cùa Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đây là những tư liệu có giá trị lịch sừ
và giá trị pháp lý để chứng minh và bảo vệ chú quyền cùa việt Nam đối với hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa trước các cơ quan tài phán quốc tê
Sau khi nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patenotre với Pháp ngày 06/6/1884, với tư cách đại diện cho Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp đã nhân danh Nhà nước Việt Nam tiến hành cai quàn toàn bộ vùng lãnh thổ, vùng biển, hải đáo; ban hành các văn bản hành chinh nhà nước để quàn lý hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa; dựng mốc chú quyền trên các đào lớn ờ hai quần đảo này; đưa quân đội ra dồn trú trên các đào; xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng trên đào như: dài khí tượng, hài đăng, Irạm phát sóng vô tuyến điện ; thực hiện và cúng co chủ quyền Việt Nam trên hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa; tổ chức các chuyến đi nghiên cứu ờ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phàn đối những hành động của các nước xâm phạm chù quyển của Việt Nam ớ hai quẩn đào này; mở rộng phát triển ngành hàng hài, áp dụng luật biển cùa chinh quốc đối với thuộc địa để khai thác tài nguyên cùa việt Nam
Chính sách, pháp luật biển Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975:
Trong giai đoạn này, nước ta đang tập trung cho chiến tranh giài phóng dân tộc, giành lại hòa bình trên cả hai miền đất nước Do đó, chinh sách, pháp luật biển trong thời kỳ này chù yếu là giữ gìn bảo vệ an ninh trên biền, chống xâm nhập từ phía biển, bảo vệ chú quyền quốc gia trên các hải đào Tư tướng chinh sách này được thể hiện rất rõ qua câu nói cùa Chù tịch
Hồ Chi Minh với cán bộ chiến sì hái quân vùng Đông Bắc ngày 15/3/1961: "Ngày trước la
chi có đêm và rừng Ngày nay, la có ngày, có trời, có biên Bờ biên ta dài và đẹp, ta phái biẽl giữ gìn lấy nó.
Ngày 03/10/1945, Chú tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 14 thành lập Bộ Giao thông Công chính, trong đó ùy ban Thương thuyền có trách nhiệm quản lý ngành vận tải thủy trong
cà nước
Ngày 07/9/1951, tại Hội nghị hòa binh với Nhật Bán tổ chức ở San Francisco (Hoa Kỳ), Thù tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phú Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu, tnrởng phái đoàn Việt Nam long trọng tuyên bố trước sự chứng kiến cúa 51 nước tham dự rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ lâu đời cúa Việt Nam Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam được ghi vào vãn kiện cùa Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ một phản ứng chống đối hay một yêu sách nào của tất cả các quốc gia tham dự Giá trị pháp lý về tuyên bố chù quyền cùa Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia tham dự Hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như các chính quyền
không tham dự bời những ràng buộc cùa Tuyên cáo Cairo (27/11/1943) và Tuyên bo Potsdam
(02/8/1945) Đây là những văn bàn pháp lý quan trọng liên quan đến việc thực thi chú quyền biển, đào, là cơ sở khẳng định hai quần đào Trường Sa và Hoàng Sa cùa Việt Nam
Trang 32Sau Hiệp định Geneva về lập lại hòa binh ở Đông Dương (20/7/1954), nước ta bị chia cắt thành hai miền: miền Bắc và miền Nam với vĩ tuyến 17° Bắc là giới tuyến chia cắt tạm thời.
Ở miền Bắc, chính sách biển tập trung xây dựng chú nghĩa xã hội và hỗ trợ đồng bào miền Nam đấu tranh giải phóng dân tộc thong nhất nước nhà Chính quyền Việt Nam Dân chù Cộng hòa ở miền Bắc đã xây dựng các hợp tác xã nghề cá, các cơ sở nghiên cứu khoa học về đại dương Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký với Trung Quốc các hiệp định nghề cá vào các năm 1957, 1960, 1963, Hiệp định nghiên cứu biển trong vịnh Bắc Bộ vào năm 1961 và
mờ rộng lãnh hài tới 12 hải lý Chính sáchrbién của Việt Nam Dân chú Cộng hòa trong thời gian này mới chi dừng lại ỡ việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên biển, chưa có được định hướng phát triển, tìm kiếm nguồn lợi từ biền
Ờ miền Nam, chính quyền việt Nam Cộng hòa đã có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng 4 công ước về biển tại Hội nghị Geneva năm 1958 Chính quyền việt Nam Cộng hòa duy trì chiều rộng lãnh hài 3 hải lý, mờ rộng phạm vi vùng đánh cá 50 hài lý cho vùng biển thuộc miền Nam Việl Nam; phân thềm lục địa miền Nam Việt Nam thành 33 lô và tiến hành đấu thầu một số lô cho các công ty dầu lứa nước ngoài vào thăm dò, khai thác; phân chia một số vùng biển thềm lục địa với một số nước láng giềng ờ vùng biển Tây Nam, trong vịnh Thái Lan và thực hiện công khai, liên tục và thực tiễn các hoạt động thực thi và bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Cụ thể:
- Năm 1956, Sớ hầm mò, kỹ nghệ và tiểu thương công nghiệp miền Nam tồ chức cuộc khảo sát trên 4 đảo Hoàng Sa, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Duy Mộng
- Ngày 22/02/1959, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giữ 82 người Trung Quốc đổ
bộ lên các đảo: Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hòa trong quần đảo Hoàng Sa
- Năm 1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa một lần nữa khẳng định quần đảo Trường
Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, đáp lại đòi hỏi chủ quyền cùa Malaysia và Philippines về quần đảo Trường Sa
- Năm 1973, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sáp nhập các đảo: Trường Sa, An Bang, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai, Sinh Tồn, và các đào phụ cận vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tinh Phước Tuy Viện Kháo cứu Nông nghiệp thuộc
Bộ Phát triển Nông nghiệp và Điền địa của chinh quyền Việt Nam Cộng hòa tiến hành khảo sát đảo Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa Bộ Kế hoạch và Phát triển Quốc gia cùa chính quyền việt Nam Cộng hòa tiến hành khảo sát nguồn tài nguyên phosphate ở quần đảo Hoàng Sa
- Ngày 19/1/1974, chinh quyền Việt Nam Cộng hòa đã tuyên bố lên án Trung Quốc xâm chiếm nhóm đào phía tây của quần đảo Hoàng Sa
- Ngày 14/2/1974 Chính phù Việt Nam Cộng hòa đã tuyên bố tái khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam
Sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975), Chính phù Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp tục khẳng định chù quyền của Việl Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 33Tháng 9/1975 đoàn đại biểu Chính phù Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị Khí tượng Thế giới ờ Colombo (Sri Lanca) đã tuyên bố quần đảo
1 loáng Sa là cùa Việt Nam và yêu cầu Tổ chức Khí tượng Thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa cùa Việt Nam trong danh mục các trạm khí tượng cùa Tổ chức Khi tượng The giới
Có thể nói, trong giai đoạn này, đất nước ta đang trong tình trạng chiến tranh và bị chia cát nén chưa có điều kiện hoạch định chính sách phát triển ra biển Mối quan tâm chù yếu cùa Việt Nam là giữ gin và bảo vệ an ninh trên biển, chống xâm nhập tử hướng biển; bào vệ chù quyền quốc gia trên các hải đào việt Nam nên cũng chưa có được một khuôn khố pháp lý đầy
đủ, phù hợp với xu hướng chung cùa luật biển quốc tế và do đó đã hạn chế một phần hoạt động mở rộng ra biền
Chinh sách, pháp luật biển Việt Num ààÍai (loạn từ sau năm 1975 dền nay:
a Giai đoạn 1976 - 1986 (Giai đoạn định hình xây dựng chinh sách biên quôc gia):
Trong văn kiện Đại hội Đàng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), Đàng và Nhà nước
Việt Nam đà đề cập đến một nền kinh tế mới - kinh tế biển: "xây dựng ngành hái sán nước la
thành một ngành công nghiệp quan trọng phái triên nhanh đội tàu biên, quàn lý lỏl hệ thõng càng biên
Ngày 12/5/1977, Chính phù Việt Nam ra Tuyên bố về các vùng biến cùa Việt Nam: vùng
lãnh hải rộng 12 hài lý, vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hài lý, vùng đặc quyền kinh tẻ rộng
200 hải lý tinh từ đường cơ sở để tinh chiều rộng lãnh hài Việt Nam và thềm lục địa
Điều I Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các năm 1980, 1992 và
2013 đều quy định: "Nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam là mộI nước độc lập, có chú
quyển, thông nhất và toàn vẹn lãnh thô, bao gôm đãI liền, vùng trời, vùng biên và các hài đào" Cùng với quy định này, chiến lược tiến ra biền cùa Việt Nam là một bước dài trong
việc xác định các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chù quyền cùa Việt Nam
Ngày 29/1/1980, Hội đồng Chính phú nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban
hành 2 nghị định quan trọng liên quan đến chính sách biển cùa Việt Nam là: Nghị định số 30-
CP về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển cùa nước Cộng hòa
xã hội chú nghĩa Việt Nam và Nghị định số 31-CP quy định việc tàu thuyền đánh cá nước ngoài tiên hành hoạt động nghề cá cùa làu thuyền nước ngoài trẽn cạc vùng biên cùa nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng loàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), Đàng đã nêu rõ các ngành kinh
tế biền đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ này, đặc biệt là ngành thúy sản, giao thông vận tài biển
Ngày 12/11/1982, Chính phù Việt Nam ra Tuyên bó về đường cơ sớ dùng để tinh chiểu
rộng lãnh hài Việt Nam.
Có thể nói, hệ thống các văn bản pháp luật về biển, đảo cùa nước ta trong giai đoạn này
đã đưa ra được những quy định cơ bản, là nền tàng pháp lý cho việc hoạch định và thực thi các chinh sách biển
Trang 34b Giai đoạn từ năm 1986 đến nay (Giai đoạn hoạch định và thực thi các chính sách biên):
Tại các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), lần thứ VII (tháng 16/1991), lần thứ VIII (tháng 7/1996), lần thứ IX (tháng 4/2001), lần thứ X (tháng 4/2006) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đề cập mạnh mẽ đến vấn đề quản lý, bảo
vệ chù quyền và khai thác tiềm năng biển, đảo:
- Đại hội Đảng lần thứ VI đã nhấn mạnh: “xác định phát triển kinh tể biên là ngành kinh
tế mũi nhọn cùa nước la Đồng thời, Đảng ra chinh sách tăng cường sự hiện diện của Việt
Nam trên quần đảo Trường Sa
- Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế biển
và bào vệ chù quyền biển, quyền lợi quốc gia trên biển nước ta đến năm 2000 là: "lừng bước
khai thác toàn diện các tiểm năng to lớn cùa biển, phát triến kinh tế hài đáo, làm chú lãnh hài
và thêm lục địa, thực hiện chú quyển đổi với vùng đặc quyên kinh lẻ Quan điêm mới trong
chính sách biển lần này là quan điểm tổng hợp, toàn diện, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh trên biển
- Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh vị trí và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế biển Lúc này, kinh tế biển được nâng lên một tầm cao mới, mức độ toàn
diện hơn: "phái triên kinh tế biên đi đôi với tăng cường bào vệ chù quyền và lại ich quốc gia,
bào vệ lài nguyên và môi trường sinh thái biến
- Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ
năm 2001 đến năm 2010, trong đó lần đầu tiên đã đưa ra một đề mục riêng về kinh tế khu vục
biển và hải đào là "Xảy dựng phát triến kinh tế biến và hái đáo, phát huy thế mạnh đặc ihù
cùa hơn 1 triệu km2 thềm lục địa Tăng cường điểu tra cơ bàn làm cơ sớ cho các quy hoạch,
kế hoạch phát triến kinh tế biển Đay mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hài sàn, thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí, phát triển đóng tàu thuyền và vận tài biến; mờ mang du lịch; báo vệ môi trường; tiến mạnh ra biến và làm chù vùng biển Phát triển tổng hợp kinh tể và ven biên, khai thác lợi thế cùa khu Mực cứa biến, hài cáng đế tạo thành vùng phát triển cao, thúc đây các vùng khai thác Xây dựng căn cứ hậu can ở một số đào để tiến ra biến khơi";
"Phát Irién mạnh và phát huy vai trò chiến lược cùa kinh tế biến kết hợp với bảo vệ an ninh vùng biên".
- Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ưcmg Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020,
trong đó nhấn mạnh: "Thế kỳ XXIđược thế giới xem là "thế kỳ cùa đại dưcmg" Các quốc
gia có biên đều rất quan tâm đến biến và coi trọng việc xây dựng chiến lược biến Khu vực Biên Đông, trong đó có vùng biên Việt Nam, có vị tri địa - kinh tế và địa - chính trị rât quan trọng" Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 đã đề ra hàng loạt phương
hướng nhiệm vụ cơ bản và giải pháp chủ yếu tiến ra biển xa Đây cũng là chiến lược toàn diện nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Thực hiện nghị quyết cùa Đại hội Đảng, Nhà nước ta đâ đề ra rất nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp quan trọng nhằm tăng cường quàn lý nhà nước về biển; quyết tâm
Trang 35xây dựng thế và lực đù mạnh, đàm bảo đù đấu tranh lâu dài bào vệ chú quyền quôc gia trên biển, đồng thời phát triển thực lực kinh tế biển.
Cũng trong thời gian này, Việt Nam tham gia và thực thi các điều ước quốc tế dựa trên nguyên tác cơ bàn cùa luật quốc tế về tự nguyện thực hiện các cam kết quốc te trên cơ sở có đi
có lại Việt Nam thực thi một cách nghiêm túc các công ước, điều ước, hiệp định quốc tế về biển đáo mà chúng ta tham gia Việc tham gia các điều ước quốc tế về biền không chi giúp Việt Nam có căn cứ pháp lý xác định chù quyền, quyền chù quyền, quyền tài phán đối với vùng biển, thềm lục địa quốc gia mà còn thúc đẩy việc xây dựng, sứa đổi, bổ sung các văn bàn quy phạm pháp luật trong nước cho phù hợp với các điều ước quốc tế về biển và tinh hinh thực tiễn của Việt Nam Đến nay, Việt Nam đã tham gia 73 điều ước quốc tế đa phương về biển
Hiện nay, Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết các vấn đề phân định các vùng biên
và thềm lục địa với các nước láng giềng Việt Nam dã phân định được vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa với Thái Lan năm 1997; phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc năm 2000; phân định thềm lục địa với Indonesia năm 2003; thòa thuận tiến hành hợp tác khai thác chung khu vực thềm lục địa chồng lân với
Malaysia nàm 1992; tham gia ký kết Tuyên bố ứng xứ cùa các bén ớ Biên Đông giữa ASEAN
và Trung Quốc (DOC) năm 2002; phối hợp với Malaysia nộp Báo cáo chung về khu vực thềm lục địa mờ rộng ớ phía nam Biên Dông và Báo cáo riêng cùa Việt Nam vê khu vực thêm lục địa a khu vực phia Bắc Biển Đông vào năm 2009
Việt Nam còn cần tiếp tục đàm phán với các nước xung quanh Biển Đông để hoạch định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn:
- Với Trung Ọuốc: Vùng biển chồng lấn ờ cửa vịnh Bấc Bộ.
- Với Indonesia : Vùng thềm lục địa chồng lấn
- Với Malaysia : Vùng biển chồng lấn 2.800km2 ở Vịnh Thái Lan
- Với Campuchia: Hoạch định vùng nước lịch sứ chung và vùng biển chồng lấn ngoài vùng nước lịch sứ chung
- Với Thái Lan va Malaysia: Vùng biển chồng lấn giữa 3 nước trong vịnh Thái Lan.Ngoài ra, Việt Nam còn tiếp lục xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa cùaquần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa có liên quan đến các vùng biển và thềm lục địa cùa các nước như Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei
Có thể nói, hệ thống chính sách, pháp luật biển trong giai đoạn hiện nay là tương đối đầy
đù, toàn diện, là cơ sớ pháp lý quan trọng cho việc thực hiện chiến lược tiến ra biển cùa Việt Nam trên cơ sờ tôn trọng các quyền và lợi ích cùa quốc gia ven biển, lợi ích cùa cộng đồng, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế
Khái quái hệ thống văn bàn quy phụm pháp luật về biển cùa Việt Nam:
Nhận thức rõ vai trò to lớn cùa biển, Đảng và Nhà nước ta đã xác định việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật biển và hài đảo là rất quan trọng
Theo Báo cáo số 171/BC-BTP ngày 29/10/2008 cùa Bộ Tư pháp gửi Thú tướng Chính
phù thì Việt Nam đã sớm tham gia Công ước cùa Liên hợp quốc về Luật Biến năm 1982 và
Trang 36các điều ước quốc tế về biển, các cơ quan chức năng ban hành hơn 500 vãn bản quy phạm pháp luật ờ cấp trung ương và gần 400 văn bản quy phạm pháp luật ờ cấp địa phương liên quan đến biền, đảo đang còn hiệu lực.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật này đóng vai trò quan trọng, điều chinh tồng thể các lĩnh vực liên quan đến biển, đào, trong đó, các lĩnh vực có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chinh nhất là thương mại, dịch vụ hàng hải, quy hoạch các khu kinh tế, cầng biển, bào vệ, khai thác, sử dụng các tài nguyên liên quan đến biền, đào; quốc phòng, an ninh vùng biền, đào
Những nội dung cơ bản cùa các văn bản quy phạm pháp luật về biển cùa Việt Nam:
* Pháp luật về bào vệ chù quyển và an ninh Việt Nam:
Việt Nam là quốc gia có bờ biển trải dài, trong lịch sử đã nhiều lằn bị tấn công, xâm lược theo đường biển Hiện nay, tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông vẫn diễn ra phức tạp, hoạt động phạm tội trên biền ngày càng gia tăng Bảo vệ vững chẳc chù quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng không chi đối với lịch sử dân tộc, mà còn là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc và đất nước ta phát triển bển vững Nguyện vọng và cũng là lợi ích cao nhất cùa dân tộc Việt Nam là giữ vững môi trường hòa bình, ổn dịnh, hợp tác cùng phát triển Ý thức được điều đó, Việt Nam đã sớm xây dựng một cơ sớ pháp lý vững chác để khẳng định chù quyền quốc gia và bào vệ an ninh biên giới trên biển và hài đảo:
- Hiên pháp nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam các năm 1980, 1992 và 2013 luôn khăng định: "Nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chú
quyên, thống nhất và loàn vẹn lãnh thô, bao gồm đất liền, các hài đào, vùng biến và vùng trời " (Điều 1).
- Tuyên bo ngày 12/5/1977 cùa Chinh phú nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam về
lãnh hài, vùng đặc quyển kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
- Tuyên bố ngày 12/11/1982 cùa Chính phú nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam
về đưcmg cơ sờ dùng đế tính chiểu rộng lãnh hài.
Một số văn bản quan trọng điều chinh hoạt động này như:
- Luật Biến Việt Nam năm 2012.
- Luật Biên giới quốc gia năm 2003.
- Luật An ninh quốc gia năm 2004.
- Pháp lệnh thù tục bắt giữ tàu biển số 05/2008/PL-UBTVQH12 ngày 10/9/2008 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Pháp lệnh Cành sát biến Việt Nam số 0Ỉ/2008/PL-UBTVQH12 ngày 05/2/2008 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
* Pháp luật vể đám báo (rật tự, an loàn trên biên:
Hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về chức năng, cơ cấu tổ chức, quyên hạn và nhiệm vụ cùa các cơ quan, đơn vị tham gia vào công tác quàn lý và có rất nhiều
Trang 37văn bàn quy pháp luật quy định các biện pháp xử lý đối với cá nhân, tồ chức vi phạm pháp luật trên biền, như:
- Các văn bản được ban hành để điều chinh hoạt động cùa các cơ quan thực hiện chức năng quán lý nhà nước trên biên:
+ Luật Dân quân lự vệ năm 2009 quy định về tồ chức và hoạt động cùa lực lượng dân
quân tự vệ
+ Pháp lệnh Bụ đội biên phòng năm 1997 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn
và cơ cấu tồ chức cùa bộ đội biên phòng
+ Pháp lệnh Lực lượng cánh sát biến năm 1998 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyên
hạn, phạm vi hoạt động và cơ cấu tổ chức cùa lực lượng cảnh sát biển Việt Nam
Ngoài ra còn nhiều nghị định, thông tư cùa Chính phủ về việc quàn lý, bảo vệ an ninh, trật tự tại các cửa khẩu, khu vực biên giới
- Việc xử lý hành vi vi phạm trên biền cũng được quy định tại:
+ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam.
+ Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999.
+ Bộ luật Dãn sự Việt Nam năm 2005.
+ Pháp lệnh Xứ lý vi phạm hành chinh năm 2002.
+ Nghị định số 92/1999/NĐ-CP ngày 04/9/1999 về xù phạt vi phạm hành chinh trong
lĩnh vực hàng hài.
+ Nghị định số 1Ỉ7/2004/NĐ-CP ngày 16/6/2004 về xứ phụ! vi phạm hành chinh trẽn
các vùng biên và thềm lục địa nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam
* Pháp luật ve sứ dụng, khai thác và bào vệ tài nguyên biên:
Vùng biển Việt Nam rộng gấp ba lần đất liền, với nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú nhưng không phải là vô tận Việc sứ dụng, khai thác không hợp lý cùng với sự suy thoái chất lượng môi trường biển sẽ dẫn tới cạn kiệt tài nguyên, suy thoái các hệ sinh thái và tính đa dạng sinh học
Để ngăn ngừa hậu quả, phát triển bền vững những nguồn tài nguyên biền, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua các dự luật quan trọng như:
- Luật Thúy sàn Việl Nam năm 2003 có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng về hoạt động
thủy sàn, bao gồm việc khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, bảo vệ, phát triển nguồn lợi thúy sản trên các vùng biền Việt Nam
- Luật Dầu khí năm 1993 (sửa đồi, bồ sung các năm 2000, 2005 và 2012) tạo cơ sờ pháp
lý cho các bên Việt Nam và giữa các bên Việt Nam với các bên nước ngoài trong việc đầu tư, thăm dò, hợp tác, liên doanh, đầu tư khai thác các sản phẩm dầu khí trên các vùng biển, thềm lục địa cùa Việt Nam
- Luật Tài nguyên nước năm 1998 áp dụng đối với việc quản lý, bào vệ, khai thác, sừ
dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả t£c hại do nước gây ra
Trang 38Ngoài ra còn có nhiều nghị định, thông tư cùa Chính phù hướng dẫn thi hành, bồ sung sửa đồi về quản lý, quy định bào vệ, khai thác tài nguyên biền.
* Pháp luật vè giao thông vận lải biên:
Việt Nam có bờ biển dài, khúc khuỷu, nhiều vũng vịnh, càng thuận lợi đề xây dựng ngành giao thông đường biển hiện đại kéo theo các ngành kinh tế khác phát triển Để giao thông đường biển phát triển mạnh, hoạt động hiệu quả và trở thành ngành vận tải hiện đại Irong hệ thống vận tải quốc tế, nhiều văn bản pháp luật được ban hành như:
- Bõ luật Hàng hài Việt Nam năm 1990 (sửa đồi, bồ sung năm 2005).
- Luật Giao thông đường thúy nội địa năm 2004.
- Luật Biển Việt Nam năm 2012, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2013 (Điều 25 quy định
về tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải)
- Nghị định số 89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011 cùa Chinh phú về vận tái đa phương thức.
- Nghị định số 48/2011/NĐ-CP ngày 21/6/2011 cùa Chính phù quy định xứ phụI vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hài.
- Quyết định số 1601/QĐ-TTg cùa Thú tướng Chính phú ngày 15/10/2009 phê duyệt Quy hoạch phát triên vận tới biến Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
* Pháp luật ve du lịch biên, đào Việt Nam:
Với bờ biền dài, hàng loạt những bãi tám cát trắng, nước trong xanh trải dài ven biển, nhiều đảo ven bờ là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển Việt Nam phát triển Để ngành
du lịch phát triển bền vững, Quốc hội đã ban hành Luật Du lịch năm 2005 và nhiều nghị định
cùa Chính phú, thông tư hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thề thao và Du lịch được ban hành tạo
cơ sở pháp lý cần thiết cho các hoạt động đầu tư phát triển mạnh mẽ ngành du lịch biển, đảo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Quyết định 2473/QĐ-TTg cua Thú tướng chinh phù ngày 30/12/2011 vế việc phê duyệt
Chiến lược phái triên du lịch biên ViệI Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
* Pháp luậl vể nghiên cứu khoa học biên:
Trong bối cành nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt và quá trình biến đôi khí hậu toàn cáu gia tăng, việc nghiên cứu các điểu kiện tự nhiên và tài nguyên - khoáng sán Biến Đông nhằm khai thác các nguồn lợi, bảo vệ môi trường, giúp ngư dân bám biền, xác
định chủ quyền lãnh thồ trên Biển Đông là rất cần thiết Dù còn nhiều khó khăn trong việc triền khai nghiên cứu khoa học liên quan đến biển, song trong vài năm trở lại đây, các nhà khoa học việt Nam đã bắt đầu có nhiều nghiên cứu có giá trị Để tạo cơ sờ pháp lý khuyến
khích phát triển khoa học biển, Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học Cóng nghệ năm 2000, trong đó có đề cập đến hoạt động khoa học nghiên cứu về biển; Nghị định 242/HĐBT ngày
5/8/1991 ban hành quy định về việc các bẽn nước ngoài và phương tiện nước ngoài vào nghiên cứu khoa học ở các vùng biên Việt Nam.
* Pháp luật ve bào vệ môi trường biên:
Trang 39Công tác bảo vệ môi trường biền trong những năm qua đã được Đáng và Nhà nước ta quan tâm, thông qua việc ban hành các chù trương, chính sách, văn bàn quy phạm pháp luật từ
cấp trung ương đến địa phương Lần đầu Luật Báo vệ mói trường năm 2005 đã dành một
mục gồm 4 điều quy định về bào vệ môi trường biển (từ Điều 55 đến Điêu 58) và các văn bản hướng dẫn thi hành có ý nghĩa trực tiếp, quan trọng nhất đến bào vệ môi trường biên Việt Nam
Cụ thề hóa các quy định của Luật Báu vệ môi trường nám 2005, ngày 6/3/2009 Chính phú đã ban hành Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quan lỳ lổng hợp lài nguyên và bảo vệ mói
trường biên, hài đáo Nước ta cũng đã ban hành Chiến lược Biên Việt Nam đến năm 2020 lầm nhìn 2030, trong đó hướng tới các chính sách và hành động nhằm hiểu hơn về biền, đào,
gin giữ nguồn vốn tự nhiên, chât lượng môi trường Đặc biệt, Luật Biên Việt Nam năm 2012
đã có một điều quy định cụ thề về gìn giữ, bão vệ tài nguyên và môi trường biển (Điều 35)
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biến và hài đào vừa được Chính phủ trình Quốc
hội tại kỳ họp thứ 8 khóa XIII và đang nhận được góp ý của các đại biểu Quốc hội, nếu được thông qua sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc khai thác, sứ dụng và bào vệ tài nguyên biển, hải đảo
Luật Biển Việt Nam:
Luật Biển Việl Nam được ban hành vào năm 2012 là sự kiện pháp lý rất cần thiết và quan trọng cùa quy trình xây dựng luật pháp cùa Nhà nước Việt Nam trong mối liên quan với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Có 3 lý do đề lý giải về sự kiện này, đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ giữa Luật Biền Việt Nam và luật biền quốc tế:
Thứ nhắt, sau khi ký Công ước cùa Liên hợp quốc về Luật Biến năm 1982, việt Nam đã
phê chuẩn Công ước vào năm 1994, chính thức trờ thành thành viên Công ước Việc nhanh chóng nội luật hóa, biến các quy định của Công ước thành quy định cụ thể trong hệ thống luật pháp trong nước là yêu cầu tất yếu Tất nhiên, mọi quy định của Luật Biển Việt Nam không được trái với những quy định của luật biển quốc tế mà chi được phép cụ thể hóa một cách phù hợp các chế định, quy định cùa luật biển quốc tế
Thứ hai, trước Hội nghị luật biển Liên hợp quốc lần 3 dẫn đến việc thông qua Công ước cùa Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, để đáp úng nhu cầu cùa công tác quàn lý nhà riước
đối với các hoạt động trên biển, Việt Nam đã có những văn bàn quy phạm pháp luật về biến nhưng chưa đầy đù, toàn diện, chưa thích hợp để xử lý mối quan hệ ngày càng phát triển, các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên biển, đặc biệt trong tình hình tranh chấp phức tạp thì các văn bàn đó chưa đáp úng được Do vậy không thể không có luật biển quốc gia đề đáp ứng tất cả đòi hói đó và hom nữa, điều đó cũng thể hiện trách nhiệm và tính nghiêm
túc của Việt Nam với tư cách là thành viên chính thức cùa Công ước của Liên hợp quốc ve
Luật Biên năm 1982.
Thứ ba, xu hướng thế giới hiện nay là hướng ra biển và đại dương Trên thực tế, việc
khai thác nguồn lợi đại dương, từ giao thông hàng hài, tài nguyên sinh vật và không sinh vật, khai thác dầu khí càng ngày càng phát triền, đưa đến lợi ích rất lớn với quốc gia, đặc biệt quốc
Trang 40gia ven biền như Việt Nam, một quốc gia ven biển có bờ bi.ển dài, vùng biển rộng Sự nghiệp phát triền kinh tế gán với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình hiện nay đòi hói Việt Nam phải vươn ra biển để khai thác và bảo vệ, quản lý biển là đòi hòi tất yếu Nếu không kịp thời có luật điều chinh ngay những hoạt động đó phù hợp luật pháp quốc tế, phù hợp quan hệ chính trị ngoại giao trong khu vực và các nước thi có thề dẫn tới xung đột, ảnh hưởng tới hòa binh và ổn định trong khu vực và trên thế giới.
Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để quàn lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biền, đào cùa nước ta Với bờ biển dài và các vùng biển rộng lớn, kinh tế biển đóng vai trò hết sức quan trọng đoi với sự nghiệp xây dụng và phát triển của nước ta Việc xây dựng và ban hành Luật Biển Việt Nam là nhu cầu tất yếu nhằm phục vụ công cuộc phát triền kinh tế cùa Việt Nam
Nội dung chinh cùa Luật Biển Việt Nam năm 2012:
Luật Biến Việt Nam năm 2012 bao gồm 55 điều được bố trí trong 7 chương.
Chương I: Quy định chung, gồm có 7 điều, quy định phạm vi điều chinh, giài thích thuật
ngữ, luật áp dụng, nguyên tắc quản lý, bào vệ biển, hợp tác quốc tế về biển, quàn lý nhà nước
về biển
Chương II: Quy định các vùng biến Việt Nam, gồm 14 điều, quy định về cách xác định
hệ thống đường cơ sở dùng đế tính chiều rộng lãnh hài, chế độ pháp lý cùa các vùng biển thuộc chù quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, vấn đề đảo, quần đảo và chế
độ pháp lý cùa chúng
Chương III: Hoạt động cùa người và phưomg tiện trong các vùng biến Việt Nam, gồm 20
điều, quy định quyền, nghĩa vụ của phương tiện nước ngoài khi đi qua không gây hại trong các vùng biển Việt Nam, quy định tuyến hàng hài, phân luồng giao thông
Chương IV: Phát triển kinh tế biến, gồm 5 điều, quy định các nguyên tấc phát triển kinh
tế biển, các ngành nghề kinh tế biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, vấn đề đầu tư, hợp tác thăm dò khai thác tài nguyên biển, bảo vệ môi trường
Chương V: Tuần tra, kiếm soát trên biến, gồm 3 điều, quy định chức năng, nhiệm vụ của
lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển
Chương VI: Xừ lý vi phạm, gồm 4 điều, quy định về thù tục dẫn giải, địa điểm xử lý vi
phạm, các đổi tượng vi phạm là người nước ngoài
Chương VII: Điều khoán thi hành Hiệu lực thi hành là từ ngày 01/01/2013.
Các vùng biển và thềm lục địa thuộc chù quyền, quyền chù quyền và quyền tài phán
của Việt Nam:
Theo quy định của Công ước cùa Liên hợp quốc về Luật Biến năm 1982 thì các quốc gia
ven biển có các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chù quyền và quyền tài phán quốc gia như sau:
- Vùng nội thủy
- Vùng lãnh hải
- Vùng tiếp giáp lãnh hải