1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài Giảng Kỹ Thuật An Toàn Và Vệ Sinh Lao Động Trong Khai Thác Lộ Thiên

145 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật An Toàn Và Vệ Sinh Lao Động Trong Khai Thác Lộ Thiên
Trường học Hà Nội
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối

Trang 1

BÀI GIẢNG

KỸ THUẬT AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG KHAI THÁC LỘ THIÊN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KỸ THUẬT AN TOÀN

1.1 Khái niệm về kỹ thuật an toàn

1.2 Điều kiện lao động và các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao

động sản xuất

1.3 Các yếu tố gây chấn thương (nguy hiểm) trong sản xuất

1.4 Yếu tố có hại đối với sức khoẻ trong sản xuất

1.5 Mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động

Chương 2 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC VỀ AN TOÀN - VỆ SINH LAO ĐỘNG

2.1 Hệ thống pháp luật về an toàn - vệ sinh lao động

2.2 Hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn - vệ

3.2 Vi khí hậu trong sản xuất

3.3 Tiếng ồn và rung động trong sản xuất

3.4 Phòng chống bụi trong sản xuất

3.5 Thông gió trong công nghiệp

3.6 Chiếu sáng trong sản xuất

3.7 Phòng chống phóng xạ

3.8 Phòng chống điện từ trường

Chương 4 AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC NỔ MÌN

Trang 3

4.1 Mục đích, yêu cầu

4.2 Những thuật ngữ và định nghĩa

4.3 An toàn khi vận hành máy khoan

4.4 Quy định an toàn khi áp dụng các phương pháp nổ mìn

khác nhau

4.5 Ảnh hưởng công tác nổ mìn đến công tác an toàn và xác

định khoảng cách an toàn khi nổ mìn

4.6 Những phương pháp điều khiển tác dụng nổ nhằm giảm

tác dụng nguy hại khi nổ mìn

Chương 5 AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC VẬN TẢI

5.1 An toàn trong vận tải mỏ

5.2 An toàn trong vận tải bằng ô tô

Chương 6 AN TOÀN NƠI LÀM VIỆC VÀ XÁC ĐỊNH CÁC

THÔNG SỐ HỆ THỐNG KHAI THÁC

6.1 An toàn nơi làm việc

6.2 Xác định các thông số hệ thống khai thác

Chương 7 AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC XÚC BỐC

7.1 An toàn trong công tác xúc bốc

7.2 Yêu cầu an toàn khi sử dụng máy gạt

Chương 8 AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC ĐỔ THẢI

8.1 Quy định về bố trí bãi thải

8.2 Yêu cầu thiết kế bãi thải

8.3 Quy định về đổ thải

Chương 9 AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC THOÁT NƯỚC

VÀ THÁO KHÔ MỎ

9.1 Thoát nước mỏ

9.2 Tháo khô đáy mỏ

Tài liệu tham khảo

Trang 4

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KỸ THUẬT AN TOÀN

1.1 Khái niệm về kỹ thuật an toàn

Kỹ thuật an toàn (KTAT) là hệ thống các biện pháp và phương tiện về

tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất đối với người lao động

An toàn lao động là tình trạng của điều kiện lao động mà ở đó tác động

của các yếu tố nguy hiểm và có hại lên con người bị loại trừ

Nhiệm vụ của KTAT là tạo ra các điều kiện vật chất kỹ thuật của sản

xuất không có các yếu tố nguy hiểm hoặc không cho chúng gây tác hại tới con người

Mục tiêu của KTAT là nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố

nguy hiểm gây chấn thương, loại trừ sự năng nhọc và căng thẳng (tâm sinh lý) đối với người lao động

- Chấn thương sản xuất được hiểu là: Sự phá hoại bất ngờ tính toàn vẹn

của cơ thể hoặc chức năng sinh lý của tế bào và cơ quan nội tạng của cơ thể con

người, gây nên bởi các yếu tố nguy hiểm sinh ra từ điều kiện sản xuất

Nếu hiểu theo nghĩa tai nạn lao động: mọi thương tích xảy ra cho người lao động khi làm việc hay liên quan đến công việc Theo quan điểm của các nhà khoa học Mỹ dựa trên sự mất hay giảm khả năng có thể chia làm 5 loại:

- Tử thương: cái chết do hậu quả một tai nạn lao động mà không kể thời

gian là bao lâu tính từ lúc tai nạn cho đến khi chết

- Mất năng lực vĩnh viễn toàn phần: mọi thương tích (trừ tử thương) làm

cho người lao động mất hoàn toàn và vĩnh viễn khả năng làm việc để mưu sinh hay khiến cho họ không thể sử dụng toàn phần hay một phần các bộ phận sau:

+ Cả hai mắt;

+ Một mắt và một bàn tay hay một cánh tay, một chân hay một bàn chân; + Bất cứ hai trong các bộ phận sau đây không cùng một chi trong tứ chi: bàn tay - cánh tay - bàn chân - chân

Trang 5

- Mất năng lực vĩnh viễn từng phần: là mọi thương tích khiến cho người

lao động không thể sử dụng một phần hay toàn phần một bộ phận hay một phần của bộ phận của thân thể khiến cho thân thể hay một bộ phận của thân thể vĩnh viễn không thể hoạt động bình thường mà không kể đến tật nguyền đã có trước khi tai nạn

- Mất năng lực tạm thời hoàn toàn: mọi thương tích không thuộc các

phần định nghĩa trên nhưng làm cho nạn nhân không thể thực hiện được một việc mà lẽ ra họ làm được trong suốt thời gian tiếp sau khi tai nạn

- Thương tích cần điều trị: là mọi thương tích không thuộc các phần trên

nhưng cần phải chữa trị thuốc men (kể cả cấp cứu)

Từ các khái niệm trên có thể nhận thấy rằng cần phải xây dựng một môn khoa học nhằm ngăn chặn và loại trừ tai nạn lao động Đó chính là môn kỹ thuật

an toàn

1.2 Điều kiện lao động và các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động sản xuất

1.2.1 Khái niệm về điều kiện lao động

Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh

tế, xã hội, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu

tố đó tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất

Để có thể làm tốt công tác bảo hộ lao động thì phải đánh giá được các yếu

tố điều kiện lao động, đặt bịêt là phát hiện và xử lý được các yếu tố không thuận lợi đe doạ đến an toàn thân thể và sức khoẻ người lao động trong quá trình lao động

1.2.2 Các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động sản xuất

Trang 6

- Đối tượng lao động;

- Người lao động

b Các yếu tố liên quan đến sản xuất

- Các yếu tố tự nhiên có liên quan đến nơi làm việc;

- Các yếu tố kinh tế, xã hội; quan hệ đời sống hoàn cảnh gia đình liên quan đến tâm lý người lao động

Điều kiện lao động không thuận lợi được chia làm hai loại chính :

+ Yếu tố gây chấn thương, tai nạn lao động;

+ Yếu tố có hại đến sức khoẻ, gây bệnh nghề nghiệp

1.3 Các yếu tố gây chấn thương (nguy hiểm) trong sản xuất

Là những điều kiện lao động xấu, là nguy cơ gây ra tai nạn lao động đối với người lao động:

1.3.1 Vùng nguy hiẻm

Khoảng không gian trong đó các yếu tố sản xuất nguy hiểm và có hại đối với sự sống và sức khoẻ có thể tác động lên người lao động, (thường xuyên, chu

kỳ, bất ngờ) như vậy:

- Trong vùng nguy hiểm có tiềm ẩn 1 hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm hoặc

có hại có thể biết được;

- Xác định hình dạng và ranh giới các vùng nguy hiểm là hết sức tương đối;

- Vùng nguy hiểm có thể là cố định (thường xuyên), di động (không thường xuyên);

- Tác động nguy hiểm gây ra cho con người được coi là mới có khả năng hoàn toàn chưa khẳng định Tác động của các yếu tố này cần được nghiên cứu

dự báo (ở đâu, ra sao, lúc nào?)

1.3.2 Các yếu tố nguy hiểm

- Các bộ phận và cơ cấu chuyển động, các chi tiết sắc nhọn nhô ra của máy và thiết bị sản xuất: cơ cấu truyền động, khớp nối truyền động, các chi tiết

ra công;

Trang 7

- Các mảnh dụng cụ, vật liệu gia công bắn ra: dụng cụ mài, mài bị gãy văng ra; khai thác đập nghiền vật liệu cứng, ròn văng bắn ra;

- Nguy hiểm về điện: điện giật và bỏng điện;

- Các yếu tố nhiệt: gây bỏng các bộ phận cơ thể khi tiếp xúc;

- Chất độc công nghiệp: được sử dụng để sản xuất hoặc dưới dạng chất thải Chất độc xâm nhập qua da, đường hô hấp, tiêu hoá có thể gây nhiễm độc cấp tính Chất độc tác động vào máu, hệ thần kinh, quá trình trao đổi chất trong

cơ thể;

- Chất lỏng hoạt tính: Bao gồm các axit, kiềm ăn mòn Khi tiếp xúc phá huỷ da, niêm mạc, hơi axit gây tổn thương nghiêm trọng niêm mạc đường hô hấp;

- Bụi công nghiệp, phát sinh khi gia công các vật liệu rắn (khoan, đập, nghiền) Bụi gây tổn thương cơ học đối với niêm mạc mắt, cơ hô hấp Có thể gây nhiễm độc khi lọt vào cơ quan tiêu hoá, bụi có thể gây cháy, nổ dẫn điện gây ngắn mạch;

- Nguy hiểm về nổ, gồm nổ hoá học, nổ vật lý;

- Những yếu tố nguy hiểm khác: làm việc trên cao không đeo dây an toàn, thiếu rào chắn, vật rơi từ trên cao xuống

1.3.3 Phân loại nguyên nhân gây chấn thương trong sản xuất

Bao gồm các nguyên nhân kỹ thuật, nhóm các nguyên nhân tổ chức kỹ thuật, nhóm nguyên nhân vệ sinh công nghiệp

a Nhóm các nguyên nhân kỹ thuật

- Máy, thiết sản xuất quá trình công nghệ chứa đựng các yếu tố nguy hiểm

có hại: tồn tại các vùng nghuy hiểm, khí bụi độc, hỗn hợp nổ, ôn rung lớn, điện

áp nguy hiểm;

- Máy thiết bị sản xuất được thiết kế kết cấu không thích ứng với các đặc điểm giải phẫu sinh lý, tâm lý của người sử dụng: kích thước cơ thể, điều kiện làm việc thị giác;

- Kết cấu của máy và thiết bị không đảm bảo độ bền hoặc hư hỏng;

- Thiếu thiết bị che chắn an toàn: vùng có điện áp nguy hiểm, vùng có

Trang 8

nguy cơ nổ, vùng làm việc trên cao, hố sâu;

- Thiếu hệ thống phát tín hiệu, cơ cấu phòng ngừa quá tải: tín hiệu ánh sáng, âm thanh, van an toàn, phanh hãm, thiết bị khống chế hành trình;

- Không thực hiện các quy tắc KTAT, không kiểm tra các thiết bị trước khi sử dụng;

- Thiếu phương tiện cơ khí để tự động hoá những khâu lao động nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại

- Sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân không thích hợp, hư hỏng: găng tay, ủng

b Nhóm các nguyên nhân về tổ chức kỹ thuật

- Tổ chức chỗ làm việc không hợp lý: quá chật hẹp, tư thế làm việc gò bó, khó khăn;

- Bố trí đặt máy, thiết bị sai nguyên tắc, sự cố trên máy này có thể gây nguy hiểm cho máy khác;

- Bố trí tổ chức đi lại, vận chuyển không tốt: đường đi chặt hẹp, ghồ ghề;

- Bảo quản thành phẩm, bán thành phẩm không đúng nguyên tắc an toàn: xếp đặt các chi tiết quá cao, không ổn định;

- Không cung cấp cho người sử dụng lao động những phương tiện bảo vệ

cá nhân đặc chủng phù hợp;

- Tổ chức huấn luyện, giáo dục bảo hộ lao động không đạt yêu cầu: tổ chức huấn luyện không đúng định kỳ, thiếu nội quy an toàn

c Nhóm các nguyên nhân vệ sinh công nghiệp

- Vi phạm các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp khi thiết kế mặt bằng xí nghiệp, phân xưởng sản xuất: bố trí các nguồn phát sinh hơi, khí, bụi độc ở đầu hướng gió thịnh hành hoặc ở tầng dưới, không khử độc, lọc bụi trước khi thải ra ngoài

- Phát sinh bụi, hơi khí độc trong không gian sản xuất: do rò rỉ từ các thiết bị;

- Điều kiện vi khí hậu xấu, vi phạm tiêu chuẩn cho phép: nhiệt độ quá cao, quá thấp, không khí lưu thông không tốt;

Trang 9

- Chiếu sáng chỗ làm việc không hợp lý;

- Tiếng ồn rung động vượt tiêu chuẩn cho phép;

- Phương tiện bảo vệ các nhân không đảm bảo các yêu cầu vệ sinh, gây bất tiện cho người sử dụng;

- Không thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu về vệ sinh cá nhân

1.4 Yếu tố có hại đối với sức khoẻ trong sản xuất

Là những yếu tố của điều kiện lao động không thuận lợi không đảm bảo các giới hạn của tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép, làm giảm sức khỏe người lao động, gây bệnh nghề nghiệp Đó là vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng

xạ, ánh sáng, bụi, các chất độc có hại

1.4.1 Vi khí hậu

Là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí Các yếu tố này phải bảo đảm giới hạn nhất định phù hợp với sinh lý của con người

Nhiệt độ cao hơn tiêu chuẩn cho phép làm cơ thể suy yếu, thấp hơn làm tê liệt sự vận động do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng thiết bị máy móc Nhiệt độ cao sẽ gây bệnh thần kinh tim mạch, ngoài da, say nóng, say nắng Nhiệt độ thấp gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh thấp khớp, cảm lạnh

Độ ẩm cao có thể dẫn đến tăng độ dẫn diện của vật cách điện, cơ thể khó bài tiết qua mồ hôi

Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép đề ảnh hưởng đến sức khỏe, gây bệnh tật giảm khả năng lao động của con người

1.4.2 Tiếng ồn và rung động

Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, nó phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận cảu máy do va chạm Rung động thường do các dụng cụ cầm tay bằng khí nén, do các đọng cơ nổ tao ra

Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn và rung động quá tiêu chuẩn cho phép, về mặt sinh lý gây nên các bệnh nghề nghiệp như: điếc, rối loạn cảm giác,

Trang 10

tổn thương về xương khớp và cơ Về mặt tâm lý làm giảm khả năng tập trung lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén, người mệt mỏi, cáu ghét, buồn ngủ

Tình trạng trên dễ dẫn đến tai nạn lao động

1.4.3 Bức xạ, phóng xạ

Nguồn bức xạ:

+ Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại;

+ Hàn cắt kim loại phát ra bức xạ tử ngoại;

Con người có thể bị say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh ngề nghiệp

Phóng xạ: là dạng đặc biệt của bức xạ Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng iôn hoá vật chất Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ,

Các tia phóng xạ gây ra các tác hại như gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính, rối loạn chức năng của thần kinh trung ương

1.4.4 Ánh sáng

Trong đời sống và lao động con mắt người đòi hỏi điều kiện ánh sáng thích hợp Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi tránh tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp đồng thời tăng năng suất lao động

Các đơn vị đo lường ánh sáng thường dùng: cường độ ánh sáng, độ chói,

độ rọi

Khi chiếu sáng không đảm bảo theo quy phạm (thường là quá thấp) ngoài tác dụng làm giảm năng suất lao động về mặt kỹ thuật an toàn cho thấy tai nạn lao động tăng lên do không nhìn rõ hoặc chưa đủ thời gian để nhận biệt sự việc

do loá mắt (chói quá)

Trang 11

Bụi có thể phân loại theo nguồn gốc phát sinh:

- Bụi hữu cơ: nguồn gốc từ động thực vật

- Bụi nhân tạo: nhựa, cao cu

- Bụi kim loại : sắt, đồng

- Bụi vô cơ: silic, amiang

Mức độ nguy hiểm của bụi phụ thuộc vào tính chất lý học, hoá học của chúng Về mặt kỹ thuật bụi có thể gây tác hại dưới các dạng:

- Gây cháy hoặc nổ ở nơi có điều kiện thích hợp ;

- Gây biến đổi về sự cách điện : giảm sự cách điện của các bộ phận điện, gây chập mạch ;

- Gây mài mòn thiết bị trước thời hạn;

Về mặt vệ sinh lao động bụi gây tác hại dưới nhiều dạng:

- Tổn thương cơ quan hô hấp, tuỳ theo loại bụi có thể dẫn đến viêm phổi ung thư phổi

- Bênh ngoài da: lở, loét, ghẻ

- Tổn thương mắt

1.4.6 Các hoá chất độc

Hoá chất hoá học ngày càng được dùng nhiều trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp như: chì, asent, crôm, benzen, các dung dịch axít, bazơ, kiềm, các bụi khí, các phế liệu phế thải khó phân huỷ

Chất độc hoá học có thể ở trong trạng thái rắn, lỏng, khí, bụi tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và áp xuất

Chất độc có thể gây hại cho người lao động dưới dạng sau:

- Mụn cóc, mụn chai, da biến màu;

- Nhiễm độc cấp tính khi nồng độ chất độc cao;

- Bệnh nghề nghiệp: khi nồng độ chất độc thấp dưới mức cho phép nưng tiếp xúc lâu dài

1.4.7 Các yếu tố vi sinh vật có hại

Một số người lao động phải tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, nấm mốc

Trang 12

Cần có biện pháp chống tích cực cải thiện điều kiện lao động, cải tạo môi trường theo dõi và phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp

1.4.8 Các yếu tố về cường độ lao động, tư thế gò bó và đơn điệu trong lao động không phù hợp với hoạt động tâm sinh lý bình thường và nhân trắc của

cơ thể người lao động

Do yêu cầu của công nghệ và tổ chức lao động mà người lao động có thể phải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò bó trong thời gian dài, ngửa người, vẹo người, treo người trên cao, mang vác nặng, động tác lao động đơn điệu buồn tẻ hoặc với trách nhiệm cao gây căng thẳng về tâm lý

Điều kiện lao động trên gây nên những hạn chế sự hoạt động bình thường gây hiên tượng tâm lý mệt mỏi, chán nản dẫn đến ức chế thần kinh có khi dẫn

đến tai nạn lao động

1.5 Mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động

Bảo hộ lao động mà nội dung chủ yêu là công tác an toàn và vệ sinh lao động là các hoạt động đồng bộ trên các mặt luật pháp hành chính, kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm cải thiện điều kiện lao động ngăn ngừa tai nạn lao dộng, bệnh nghề nghiệp, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khoẻ cho người lao động

Trang 13

1.5.2 Ý nghĩa lợi ích của công tác bảo hộ lao động

a Ý nghĩa chính trị

Bảo hộ lao động thể hiện quan điểm coi con người lao động vừa là động

lực vừa là mục tiêu của sự phát triển Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động

thấp, người lao động khỏe mạnh không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luôn luôn coi con người là vốn quí nhất, sức lao động, lực lượng lao động luôn luôn được bảo vệ và phát triển

Bảo hộ lao động tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe, tính

mạng và đời sống người lao động Ngược lại nếu công tác bảo hộ lao động

không được thực hiện tốt, điều kiện lao động của người lao động quá nặng nhọc, độc hại, để xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ, của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút

b Ý nghĩa xã hội

Bảo hộ lao động là chăm lo đến đời sống, hạnh phúc của người lao động Bảo hộ lao động vừa là yêu cầu thiết thân của sản xuất, đồng thời là yêu cầu nguyện vọng chính đáng của người lao động

Bảo hộ lao động đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động được sống khoẻ mạnh, làm việc có hiệu quả cao và có vị trí xứng đáng của mình trong xã hội, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ khoa học kỹ thuật

c Lợi ích về kinh tế

Trong sản xuất, nếu người lao động được bảo vệ tốt, có sức khoẻ, không

bị ốm đau bệnh tật, điều kiện làm việc thoải mái, không nơm nớp lo sợ bị tai nạn lao động, bị mắc bệnh nghề nghiệp thì sẽ an tâm phấn khởi sản xuất sẽ có ngày công cao, giờ công cao, năng suất lao động cao hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất

và công tác

Ngược lại nếu môi trường làm việc không tốt tai nạn lao động hoặc ốm đau xảy ra nhiều sẽ gây nhiều hậu quả cho sản xuất Vì vậy chi phí về các thiệt hại do tai nạn lao động là rất lớn

Trang 14

CHƯƠNG 2

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

AN TOÀN - VỆ SINH LAO ĐỘNG

2.1 Hệ thống pháp luật về an toàn - vệ sinh lao động

Các điều luật và văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu về bảo hộ lao động trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của nước CHXHCN Việt Nam bao gồm:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động được hiểu và diễn giải theo hệ thống dưới đây:

Các văn bản pháp luật (Bộ luật), Pháp lệnh liên quan:

- Bộ Luật Lao động;

- Luật Bảo hiểm xã hội;

- Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân;

- Luật về phòng cháy, chữa cháy;

- Luật bảo vệ môi trường;

- Luật chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam;

Bộ trưởng Quy chuẩn kỹ thuật

Trang 15

Các văn bản pháp luật về an toàn lao động (ATLĐ), vệ sinh lao động

(VSLĐ) cã thể chia thành 03 nhóm sau:

- An toàn lao động;

- Vệ sinh lao động;

- Các quy định về chýnh sách chế độ bảo hộ lao động (BHLĐ)

2.2 Hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn KTAT - VSLĐ

Hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động,

hệ thống các quy trình an toàn lao động theo nghề và công việc Hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động phân loại theo cấp như sau:

- Quy chuẩn Quốc gia;

- Quy trình của đơn vị sản xuất ban hành trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng các quy định chung cho sát thực hơn nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn có thể gọi là Tiêu chuẩn cấp cơ sở

Các quy chuẩn, tiêu chuẩn được chia theo các nhóm sau:

- Các quy chuẩn ATLĐ

- Các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về an toàn sản xuất, điện, cơ khí, khai thác mỏ, hoá chất, cháy nổ, phương tiện bảo vệ cá nhân

- Các tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVN) về chiếu sáng, bức xạ, không khí, ồn, rung, vi khí hậu, chung

2.3 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động

Trang 16

2.3.1 Nghĩa vụ của người sử dụng lao động

1 Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động

2 Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động theo tiêu chuẩn của Nhà nước

3 Phân công trách nhiệm và cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh an toàn lao động trong doanh nghiệp; phối hợp với công đoàn cơ sở xây dựng và duy trì sự hoạt động của mạng lưới an toàn viên

4 Xây dựng nội quy, quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy, thiết bị, vật tư, kể cả khi đổi mới công nghệ, máy, thiết

bị, vật tư và nơi làm việc theo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước

5 Thực hiện huấn luyện, theo hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động

6 Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn chế độ quy định

7 Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả tình hình thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động với sở lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Y tế nơi doanh nghiệp hoạt động

2.3.2 Quyền hạn của người sử dụng lao động

1 Buộc người lao động phải tuân thủ các quy định, nội quy, biện pháp an toàn - vệ sinh lao động

2 Khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện an toàn - vệ sinh lao động

3 Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quyết định của thanh tra viên lao động về an toàn vệ sinh lao động, nhưng vẫn phải chấp hành các quyết định đó khi chưa có quyết định mới

Trang 17

2.3.3 Nghĩa vụ của người lao động

1 Chấp hành các quy định, nội quy về an toàn - vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao

2 Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết bị an toàn - vệ sinh nơi làm việc, nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường

3 Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động

2.3.4 Quyền của người lao động

1 Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn,

vệ sinh, cải thiện điều kiện lao động; trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân; huấn luyện; thực hiện biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động

2 Từ chối làm công việc hoặc dời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe dọa nghiêm trọng đến tình mạng, sức khoẻ của mình

và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp, từ chối trở lại làm việc nơi làm việc nói trên nếu những nguy cơ đó chưa được khắc phục

3 Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người

sử dụng lao động vi phạm quy định của Nhà nước hoặc không trực hiện các giao kết về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể

Trang 18

CHƯƠNG 3

VỆ SINH LAO ĐỘNG trong ngµnh má

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỆ SINH LAO ĐỘNG

1.1 Đối tượng, nhiệm vụ của vệ sinh lao động

Vệ sinh lao động là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu

tố có hại trong sản xuất đối với sức khỏe người lao động, tìm các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp, nâng cao khả năng lao động cho người lao động

Trong sản xuất, người lao động có thể tiếp xúc với những yếu tố có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, các yếu tố này gọi là những tác hại nghề nghiệp

Ví dụ: nghề rèn, nghề đúc kim loại, yếu tố tác hại nghề nghiệp chính là do nhiệt

độ cao, nghề dệt là tiếng ồn và bụi,…

Tác hại nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe ở nhiều mức độ khác nhau như mệt mỏi, suy nhược, giảm khả năng lao động, làm tăng các bệnh thông thường (cảm cúm, viêm họng, đau dạ dày…), thậm chí còn có thể gây ra các bệnh nghề nghiệp, (ví dụ như bệnh phổi nhiễm bụi ở người lao động tiếp xúc với bụi than, bụi đá, bệnh nhiễm độc chì ở người lao động sắp chữ, sản xuất ắc quy, bệnh nhiễm phóng xạ ở người lao động khai thác các chất phóng xạ)

Nội dung của môn vệ sinh lao động bao gồm:

- Nghiên cứu đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất;

- Nghiên cứu các biến đổi sinh lý, sinh hóa của cơ thể;

- Nghiên cứu việc tổ chức lao động và nghỉ ngơi hợp lý của các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất, đánh giá hiệu quả các biện pháp đó;

- Quy định các tiêu chuẩn vệ sinh chế độ vệ sinh xí nghiệp và cá nhân, chế

Trang 19

- Giám định khả năng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác;

- Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp vệ sinh an toàn lao động trong sản xuất

Các tại hại nghề nghiệp có thể phân thành mấy loại sau:

1 Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất:

- Vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng và các nấm mốc gây bệnh

2 Tác hại liên quan đến tổ chức lao động:

- Thời gian làm việc liên tục và quá lâu, làm việc liên tục không nghỉ, làm thông ca

- Cường độ lao động quá cao không phù hợp với tình trạng sức khỏe người lao động

- Chế độ làm việc nghỉ ngơi không hợp lý

- Làm việc với tư thế gò bó, không thoải mái như: cúi khom, vặn mình, ngồi, đứng quá lâu

- Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ của các hệ thống và các giác quan như hệ thần kinh, thị giác, thính giác,…

- Công cụ lao động không phù hợp với cơ thể về trọng lượng, hình dáng, kích thước

Trang 20

3 Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh và an toàn:

- Thiếu hoặc thừa ánh sáng, hoặc sắp xếp bố trí hệ thống chiếu sáng không hợp lý

- Làm việc ở ngoài trời có thời tiết xấu, nóng về mùa hè, lạnh về mùa đông

- Phân xưởng chật chội và việc sắp xếp nơi làm việc lộn xộn, mất trật tự ngăn nắp

- Thiếu thiết bị thông gió, chống bụi, chống nóng, chống tiếng ồn, chống hơi khí độc

- Thiếu trang thiết bị phòng hộ lao động hoặc có nhưng sử dụng bảo quản không tốt

- Việc thực hiện quy tắc vệ sinh an toàn lao động chưa triệt để và nghiêm chỉnh

- Ngoài ra dựa theo tính chất nghiêm trọng của các tác hại nghề nghiệp và phạm vi tồn tại của nó rộng hay hẹp người ta còn phân các yếu tố tác hại nghề nghiệp ra làm các loại:

+ Loại có tác hại tương đối rộng bao gồm: các chất độc trong sản xuất gây nên nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp như: benzen, thủy ngân, mangan, CO,

SO2, Cl2… thuốc trừ sâu, lân hữu cơ, bụi oxit silic gây bệnh bụi phổi, nhiễm bụi silico, nhiệt độ cao bức xạ mạnh gây ra say nóng

+ Loại có tính tương đối nghiêm trọng, nhưng hiện nay phạm vi ảnh hưởng còn chưa phổ biến như các loại hợp chất hữu cơ của kim loại và á kim như: CS2, SH2, thủy ngân hữu cơ, asen hữu cơ, các hợp chất hóa học cao phân tử

và các nguyên tố hiếm, các chất phóng xạ và tia phóng xạ

+ Loại có ảnh hưởng rộng nhưng tính chất tác hại không rõ lắm như: ánh sáng mạnh, tia tử ngoại gây bệnh viêm mắt, chiếu sáng không tốt có thể gây ra rối loạn thị giác và ảnh hưởng đến năng suất lao động, tiếng ồn, rung động gây tổn thương cơ quan thính giác và các hệ thống khác, tổ chức lao động không tốt ảnh hưởng đến khả năng làm việc, thiếu sót trong việc xây dựng, thiết kế phân sưởng sản xuất…

Trang 21

Các vấn đề trên tuy ảnh hưởng đối với tình trạng sức khỏe không lớn lắm, nhưng phạm vi ảnh hưởng rộng và có quan hệ mật thiết tính đến năng suất lao động, trong công tác bảo hộ cần có sự chú ý nhất định

1.2 Các bệnh nghề nghiệp

Đến nay, Việt Nam đã công nhận 25 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, đó là:

1 Bệnh bụi phổi do silic

2 Bệnh bụi phổi do ami¨ng

3 Bệnh bụi phổi bông

4 Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất của chì

5 Bệnh nhiễm độc benzen và đồng đẳng của benzen

6 Bệnh nhiễm độc thủy ngân và hợp chất của thủy ngân

7 Bệnh nhiễm độc mangan và các hợp chất của mangan

8 Bệnh nhiễm độc TNT (trinitrotoluen)

9 Bệnh nhiễm các tia phóng xạ và tia X

10 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn

11 Bệnh rung chuyển nghề nghiệp

17 Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất của asen nghề nghiệp

18 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp

19 Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp

20 Bệnh giảm áp nghề nghiệp

21 Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp

22 Bệnh hen phế quản nghề nghiệp;

23 Bệnh nhiễm độc cacbonmonoxit nghề nghiệp;

24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp;

25 Bệnh viêm loét da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp

Trang 22

Trong số 25 bệnh nghề nghiệp này ở Việt Nam, Bệnh bụi phổi nghề nghiệp đang có số ca bệnh chiếm đa số, khoảng 70% tổng số người bị bệnh nghề nghiệp Chủ yếu là các bệnh bụi phổi silic, bụi phổi bong,…

1.3 Các biện pháp đề phòng tác hại bệnh nghề nghiệp

Tùy tình hình cụ thể ta có thể áp dụng các biện pháp đề phòng sau:

1.3.1 Biện pháp kỹ thuật công nghệ

Cần cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ như: cơ giới hóa, tự động hóa, dùng những chất không độc hoặc ít đéc thay dần cho những trường hợp chất có tính độc cao

1.3.2 Biện pháp kỹ thuật vệ sinh

Các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh như: cải tiến hệ thống thông gió, hệ thống chiếu s¸ng,… nơi sản xuất cũng là những biện pháp góp phần cải thiện điều kiện làm việc

1.3.3 Biện pháp phòng hộ cá nhân

Đây là biện pháp bổ trợ, nhưng trong nhiều trường hợp, khi cải tiến quá trình công nghệ, biện pháp kỹ thuật vệ sinh thực hiện chưa được thì nó đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo an toàn cho người lao động trong sản xuất và phòng bệnh nghề nghiệp

Dựa theo tính chất độc hại trong s¶n xuất, mỗi người người lao động sẽ được trang bị dụng cụ phòng hộ thích hợp

1.3.4 Biện pháp tổ chức lao động khoa học

Thực hiện việc phân công lao động hợp lý theo đặc điểm sinh lý của người lao động, tìm ra những biện pháp cải tiến làm cho lao động bớt nặng nhọc, tiêu hao năng lượng ít hơn, hoặc làm cho lao động thích nghi được với con người và con người thích nghi được với công cụ sản xuất mới, vừa có năng suất lao động cao hơn, lại an toàn hơn

1.3.5 Biện pháp y tế bảo vệ sức khỏe

Bao gồm việc kiểm tra sức khỏe người lao động, khám tuyển để không chọn người mắc một số bệnh nào đó vào làm việc ở nơi có những yếu tố bất lợi cho sức khỏe, vì sẽ làm cho bệnh nặng thêm hoặc dễ đưa đến mắc bệnh nghề nghiệp Khám định kỳ cho người lao động tiếp xúc với các yếu tố độc hại nhằm

Trang 23

phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp và những bệnh mãn tính khác để kịp thời có những biện pháp giải quyết Theo dõi sức khỏe người lao động một cách liên tục như vậy mới quản lý, bảo vệ được sức lao động, kéo dài tuổi đời, đặc biệt là tuổi nghề cho người lao động Ngoài ra còn phải tiến hành giám định khả năng lao động, hướng dẫn luyện tập phục hồi lại khả năng lao động cho một số người lao động mắc tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác đã được điều trị Thường xuyên kiểm tra an toàn vệ sinh lao động và cung cấp đầy

đủ thức ăn, nước uống đảm bảo chất lượng cho người lao động làm việc trong môi trường có các yếu tố độc hại

1.4 Các biến đổi sinh lý của cơ thể người lao động

Trong sản xuất có nhiều hình thái lao động khác nhau, nhiều nghề nghiệp khác nhau, nhưng nghề nào cũng vậy, tính chất lao động đều bao hàm trên ba mặt: lao động thể lực, lao động trí não, lao động căng thẳng về thần kinh tâm lý Lao động thể lực thể hiện ở mức độ vận động cơ Lao động trí não thể hiện mức

độ suy nghĩ, phân tích, tính toán… Tính chất lao động căng thẳng về thần kinh tâm lý có liên quan đến những động tác đơn điệu, đều đều gây những kích thích hưng phấn quá mức ở một trung khu giác quan nhất định như thính giác, thị giác hoặc gây mệt mỏi về thần kinh Công việc của người thợ bốc vác, nhà nghiên cứu, người lái xe tiêu biểu cho mỗi cá nhân lao động nói trên

Thông thường để đánh giá mức độ nặng nhọc của lao động thể lực, người

ta dùng chỉ số tiêu hao năng lượng Tiêu hao năng lượng trong lao động càng cao, cường độ lao động càng lớn Dưới đây là mức tiêu hao năng lượng cho các loại lao động khác nhau (bảng 3.1)

Bảng 3.1 Tiêu hao năng lượng ở các loại lao động khác nhau

Cường độ lao động Tiêu hao năng lượng Nghề cung ứng

Kcal/phút Kcal/24 giờ Lao động nhẹ 2,5 2300 - 3000 Giáo viên, thầy thuốc… Lao động trung bình 2,5 - 5 3100 - 3900 Thợ nguội, thợ dệt… Lao động nặng 5 - 10 4000 - 4500 Thợ mỏ, thợ khuân vác…

Trang 24

Để thỏa mãn như cầu ôxy cho việc ôxy hóa các chất sinh ra năng lượng, trong quá trình lao động, hệ thống hô hấp, tim mạch phải hoạt động nhanh hơn, nhiều hơn: nhịp thở 1618 lần trong một phút lúc bình thường tăng lên 3040 lần trong một phút khi lao động, lượng thông khí phổi từ 68 lít/phút tăng lên 60 lít/phút, nhịp tim từ 6070 lần/phút lên đến 90150 lần/phút hoặc hơn Lao động thể lực càng nặng thì sinh nhiệt trong cơ thể càng nhiều, thân nhiệt có thể tăng lên hơn bình thường và có hiện tượng ra nhiều mồ hôi để duy trì thăng bằng nhiệt Nếu gắng sức kéo dài, sản phẩm dị hóa như axit lactic tăng nhiều, thận phải làm việc nhiều hơn để thải độc, đào thải cặn bã

Bảng 3.2 giới thiệu các thông số sinh lý, sinh hóa để đánh giá mức chịu tải thể lực theo Christensen

Bảng 3.2 Các thông số để đánh giá mức chịu tải về thể lực

Mức chịu tải Tiêu thụ

ôxy (1/phút)

Thông khí phổi (1/phút)

Nhiệt thân ( 0 C)

Tần số tim (lần/phút)

Axit lactic trong 100cm 3

(mmg) Rất nhẹ, nghỉ

ngơi

0,250,5 67 37,5 6070 10

Trung bình 11,5 2031 35,538 100125 15 Nặng 1,52 3143 3838,5 125150 15 Rất nặng 22,5 4356 38,539 150175 20 Cực nặng 2,54 60100 >39 >175 5060 Sau lao động các biến đổi trong cơ thể không trở về bình thường ngay lập tức Nhịp thở và mạch vẫn còn nhanh trong một thời gian nữa Thời gian từ khi kết thúc công việc đến khi các chỉ số sinh lý của cơ thể trở về mức ban đầu là thời kỳ phục hồi Thời kỳ phục hồi này dài hay ngắn nói lên sự tích lũy các sản phẩm dị hóa chưa bị «xy hóa trong cơ thể nhiều hay ít và tình trạng rèn luyện thích nghi của cơ thể

Trang 25

Đếm mạch là một phương pháp đơn giản và chính xác để kiểm tra mức độ gắng sức về thể lực trong khi lao động và kiểm tra sự diễn biến của quá trình hồi phục trong thời gian nghỉ ngơi Nếu lao động nhẹ, sau khi ngừng công việc từ 24 phút mạch đã trở lại bình thường, còn lao động nặng thời gian hồi phục mạch kéo dài tới 2040 phút hoặc lâu hơn

Theo dõi khả năng làm việc của người lao động trong một ngày lao động,

ta có thể thấy biểu hiện sau:

- Lúc đầu năng suất lao động tăng theo thời gian Đây là thời kỳ khởi đầu,

cơ thể thích nghi dần với điều kiện lao động Năng suất lao động đạt cao nhất sau một giờ đến một giờ rưỡi làm việc Tới đây năng suất lao động tiếp theo duy trì ở mức cao trong một thời gian dài Đó là thời kỳ ổn định khả năng làm việc ở mức độ năng suất cao Cho nên người ta dựa vào các thông số sinh lý, sinh hóa trong thời kỳ này để phân chia ra các loại lao động trên

- Nếu năng suất lao động bị giảm xuống, tức là đã sang thời kỳ mệt mỏi, sau khi được nghỉ ngơi nó sẽ tăng lên và có thể đạt mức tối đa như trước Nhưng

để quá mệt mỏi mới nghỉ ngơi thì năng suất lao động không đạt như cũ nữa

- Làm việc căng thẳng kéo dài sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi, năng suất lao động thường giảm thao tác kỹ thuật sai sót, nhầm lẫn, làm tăng tai nạn lao động

Chính vì vậy, thực hiện chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động

1.5 Vấn đề tăng năng suất lao động và chống mệt mỏi

Thực hiện các nguyên tắc của lao động học (là vận động bàn tay, cánh tay, được tiến hành cân xứng đồng thời, theo kiểu định hình công tác) Làm việc hai tay cùng một thao tác tương tự cùng một thời gian có thể thu được một số lượng sản phẩm gần gấp đôi

Thao tác lao động cần được tiến hành thoải mái nhất, ngắn nhất, tiết kiệm nhất, cần phải hết sức tránh (trong phạm vi có thể) những thay đổi đột ngột và những cử động lặp lại đơn điệu Khi vận động, có nhiều nhóm cơ quan trọng tham gia và làm giản dài các nhóm cơ đó bao nhiêu thì các cử động càng mệt, càng chậm, càng không chính xác bấy nhiêu

Trang 26

Tiến hành liên tục hợp lý các vận động theo một nhịp điệu bình thường sẽ làm giảm mức chịu tải thể lực, làm bớt căng thẳng thần kinh, làm giảm mệt mỏi

và tai nạn lao động Đồng thời cũng phải chú ý đến tư thế thoải mái bằng cách

bố trí các dụng cụ lao động và đối tượng lao động một cách liên tục, hợp lý, phù hợp với các quy định kỹ thuật ngay từ trước khi làm việc, tiện cho việc sử dụng, tránh lãng phí năng lượng và thời gian đi tìm

Chỗ đặt dụng cụ, nguyên vât liệu cũng như các phương tiện lao động, đối tượng lao động phải được sắp xếp hợp lý để tránh phải tìm kiếm

Lợi dụng trọng lực một cách hợp lý để chuyển nguyên vật liệu là cách tiết kiệm năng lượng nhất Để đạt được mục đích đó, mỗi nơi lao động có thể dùng máng nghiêng, rãnh hay mặt dốc để chuyển vật liệu và đưa các thành phẩm khỏi nơi lao động là cách tiết kiệm năng lượng nhất

Khi tổ chức nơi lao động, cần nhớ rằng bất kỳ ở đâu và lúc nào cũng không được để chi tiết trên mặt đất, vì sẽ tốn thêm một số năng lượng và thời gian vô ích để cầm nắm và nâng lên vị trí làm việc

An toàn lao động là cơ sở, phải được chú ý trong cải tiến kỹ thuật Bất kỳ cải tiến kỹ thuật nào mà còn có nguy cơ gây tai nạn lao động thì phải đình chỉ ngay

Áp dụng nguyên tắc tiết kiệm vận động phải đi đôi với an toàn, cho nên

có thể chấp nhận các giải pháp dù làm tăng ít sản phẩm song không để xảy ra tai nạn

Thời gian lao động hằng ngày không quá dài, chỉ nên theo quy định là 8 giờ/ngày; trong một số nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, giờ làm việc rút ngắn còn 6 giờ/ngày, như các nghề: thợ mỏ hầm lò, thợ hàn… Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu kéo dài thời gian làm việc quá 8 giờ thì năng suất lao động sẽ giảm

Chế độ lao động là cách tổ chức phân phối xen kẽ giữa giờ làm việc và nghỉ ngơi Nghỉ ngơi là điều kiện cần thiết để duy trì khả năng lao động và phục hồi sức khỏe Bố trí giờ nghỉ ngơi thích hợp là cần thiết không chỉ cho lao động thể lực mà cho tất cả các loại lao động khác Tổng số thời gian nghỉ cần đạt

Trang 27

được ớt nhất bằng 15% thời gian lao động, đối với một vài loại lao động nặng nờn đạt 2030%

Tổ chức nghỉ ngơi giữa giờ nờn thực hiện như sau: đối với loại lao động cường độ trung bỡnh nờn cú thờm hai lần nghỉ, mỗi lần 1015 phỳt vào trước và sau bữa ăn giữa giờ, đối với lao động nặng, ngoài hai lần nghỉ trờn nờn cú thờm

2 lần nghỉ ngắn 5 phỳt nữa

Chế độ ăn uống rất quan trọng trong việc bổ sung một cỏch đầy đủ năng lượng đã bị tiờu hao khi lao động Năng lượng đú do cỏc chất đạm, đường, mỡ

và cỏc chất tham gia chuyển húa sinh tố muối khoỏng cung cấp

Cỏc tổ chức ăn trong ngày thay đổi tựy theo thúi quen của người lao động

và khả năng kinh tế của từng nước Để đảm bảo cú đủ năng lượng cho lao động, người lao động nờn được ăn 3 bữa, bữa sỏng chiếm 25%, bữa trưa chiếm 49%

và bữa chiều chiếm 35% tổng năng lượng

Ngoài ra ăn uống nhiều bữa cũn phũng chống được mệt mỏi, tăng khả năng hấp thụ của bộ mỏy tiờu húa

2 VI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUẤT

2.1 Khỏi niệm vi khớ hậu

Vi khớ hậu là trạng thỏi lý học của khụng khớ trong khoảng khụng gian thu hẹp gồm cỏc yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và vận tốc chuyển động khụng khớ Điều kiện vi khớ hậu trong sản xuất phụ thuộc vào tớnh chất của quỏ trỡnh cụng nghệ và khớ hậu địa phương

Về mặt vệ sinh, vi khớ hậu cú thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật của người lao động Làm việc lõu trong điều kiện vi khớ hậu lạnh và ẩm cú thể mắc bờnh thấp khớp, viờm đường hụ hấp trờn, viờm phổi và làm cho bệnh lao nặng hơn Vi khớ hậu lạnh và khụ làm cho rối loạn vận mạch thờm trầm trọng, làm giảm tiết niờm dịch đường hụ hấp, gõy khụ niờm mạc, nứt nẻ da Vi khớ hậu núng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hụi, gõy ra rối loạn thăng bằng nhiệt, làm cho mệt mỏi xuất hiện sớm, nú cũn tạo điều kiện cho vi sinh vật phỏt triển, gõy ra cỏc bệnh ngoài da

Trang 28

Tùy theo tính chất tỏa nhiệt của quá trình sản xuất người ta chia ra làm 3 loại vi khí hậu sau:

- Vi khí hậu tương đối ổn định, nhiệt tỏa ra khoảng 20 kcal/m3 không khí một giờ ở trong xưởng cơ khí, dệt…

- Vi khí hậu nóng tỏa nhiều nhiệt hơn 20 kcal/m3.h như ở xưởng đúc, rèn, dát cán thép, luyện gang thép…

- Vi khí hậu lạnh, nhiệt tỏa ra dưới 20 kcal/m3.h ở trong các xưởng lên men rượu bia, nhà ướp lạnh, chế biến thực phẩm

2.2 Các yếu tố vi khí hậu

2.2.1 Nhiệt độ: là yếu tố rất quan trọng trong sản xuất, phụ thuộc vào các

quá trình sản xuất: lò phát nhiệt, ngọn lửa, bề mặt máy bị nóng, năng lượng điện,

cơ biến thành nhiệt, phản ứng hóa học sinh nhiệt, bức xạ nhiệt của mặt trời, nhiệt do cơ thể người lao động sản ra… Chính các nguồn nhiệt này đã làm cho nhiệt độ không khí lên cao, có khi lên tới 5060oC Quy chuẩn chuẩn vệ sinh quy định nhiệt độ tối đa cho phép ở nơi làm việc của người lao động về mùa hè

là 30oC và không được vượt quá nhiệt độ cho phép từ 35oC

2.2.2 Bức xạ nhiệt: là những sóng điện từ bao gồm: tia hồng ngoại, tia

sáng thường và tia tử ngoại Bức xạ nhiệt do các vật thể đen được nung nóng phát ra Khi nung tới 18002000oC còn phát ra tia sáng thường và tia tử ngoại, nung nóng tiếp đến 3000oC lượng tia tử ngoại phát ra càng nhiều

Về mặt vệ sinh, cường độ bức xạ nhiệt được biểu thị bằng cal/m2.phút và được đo bằng nhiệt kế cầu hoặc acinomometre, ở các xưởng rèn, đúc, cán thép

có cường độ bức xạ nhiệt tới 510 cal/m2.phút (Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 1 kcal/m2.phút)

2.2.3 Độ ẩm: là lượng hơi nước có trong không khí biểu thị bằng gam

trong một mét khối không khí hoặc bằng sức trương hơi nước tính bằng mm cột thủy ngân

Về mặt vệ sinh thường lấy độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối ở một thời điểm nào đó so với độ ẩm tối đa để biểu thị mức ẩm cao hay

Trang 29

thấp Quy chuẩn vệ sinh quy định độ ẩm tương đối nơi sản xuất nên trong khoảng 7585%

2.2.4 Vận tốc chuyển động không khí: được biểu thị bằng m/s Theo

Sacbazan giới hạn trên của vận tốc chuyển động không khí không được vượt quá

3 m/s, trên 5 m/s gây kích thích bất lợi cho cơ thể

Nhiệt độ hiệu quả tương đương là để đánh giá tác dụng tổng hợp của các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc gió của môi trường không khí đối với cảm giác nhiệt của cơ thể con người, người ta đưa ra khái niệm về “Nhiệt độ hiệu quả tương đương”, kí hiệu là thqtd

Nhiệt độ hiệu quả tương đương của không khí có nhiệt độ t, độ ẩm φ và vận tốc chuyển động v là nhiệt độ của không khí bão hòa hơi nước có φ = 100%

và không khí có gió v = 0 mà gây ra cảm giác nhiệt giống hệt như cảm giác gây

ra bởi không khí với t, φ, v đã cho

Dựa trên cơ sở thực nghiệm, Hội Sưởi ấm và Thông gió Hoa kỳ lập ra biểu đồ để xác định nhiệt độ hiệu quả tương đương dưới đây (hình 3.1)

Hình 3.1: Biểu đồ xác định nhiệt độ hiệu quả tương đương

Trang 30

Độ ẩm tương đối của không khí có thể xác định bằng nhiệt độ khô và ướt, cho nên trên biểu đồ ta thấy có hai trục nhiệt độ khô và ướt Ngoài ra trên biểu

đồ người ta vẽ ra chùm đường cong với các trị số khác nhau của vận tốc gió, các đường cong này cắt nhau tại một điểm tương ứng với nhiệt độ khô 36,5oC tức là nhiệt độ bình thường của cơ thể con người Hai đường cong biên tương ứng với vận tốc gió 0 m/s và 3,5 m/s Người ta ghi các trị số của nhiệt độ hiệu quả tương đương trên các đường cong biên Ví dụ sau đây cho biết cách sử dụng biểu đồ:

ví dụ ta biết nhiệt độ khô bằng 20oC (điểm A) tư =15oC (điểm B) Nối hai điểm

A và B, đường AB cắt đường cong v = 0 m/s tại điểm C Điểm C có trị số

thqtd=18,3oC Nếu không khí có tk và tư như trên nhưng v = 0,5 m/s thì

thqtd=17,5oC Theo biểu đồ, chúng ta thấy trục nhiệt độ khô cắt các đường cong biểu diễn vận tốc gió Trong vùng nằm về phía trái của trục tk khác với cùng phía bên phải là cơ thể con người cảm thấy lạnh hơn nếu không khí có độ ẩm cao hơn Điều đó có thể giải thích được bằng sự tăng độ dẫn nhiệt của không khí khi φ tăng và đồng thời lúc đó cường độ hấp thụ các tia bức xạ của hơi nước trong không khí khi φ tăng và đồng thời lúc đó cường độ hấp thụ các tia bức xạ của hơi nước trong không khí cũng tăng cùng với độ ẩm φv Với trị số tk>36,5oC thì cơ thể con người không phải ở trường hợp mất nhiệt nữa mà là thu nhiệt từ môi trường xung quanh vào cơ thể Trong trường hợp này, nếu vận tốc chuyển động của không khí càng lớn người ta càng cảm thấy nóng bức bởi vì trao đổi nhiệt đối lưu tăng khi v tăng

Trên biểu đồ nhiệt độ hiệu quả tương đương (hình 3.1) có xác định vùng

ôn hòa về mùa hè và mùa đông, ngoài vùng đó cơ thể sẽ thấy nóng hoặc lạnh Đối với cơ thể người Việt Nam có thể lấy vùng ôn hòa dễ chịu về mùa hè là

thqtd=2327oC và mùa đông là thqtd = 2025oC, trong đó trị số nhiệt độ hiệu quả tương đương cho cảm giác nhiệt ôn hòa dễ chịu nhất là 25oC về mùa hè và 24oC

về mùa đông

Thông thường điều kiện tiện nghi nhiệt ôn hòa dễ chịu là điều kiện φ nằm trong khoảng 5070% và vận tốc gió dưới 0,5 m/s đối với trường hợp cơ thể ở

Trang 31

trạng thái tĩnh (không lao động) Trường hợp lao động, giới hạn tiện nghi nhiệt

sẽ lùi mức độ lao động và vận tốc gió cho phép có thể lên đến 34 m/s

Bảng 3.3 Cảm giác nhiệt phụ thuộc vào năng lượng bức xạ và thời gian tác dụng Năng lượng bức xạ

Một cường độ bức xạ không lớn lắm giữa cơ thể với nguồn nhiệt bên ngoài cũng có ảnh hưởng rất rõ rệt đến cảm giác nhiệt của con người Cường độ

ấy càng lớn càng gây cho cơ thể những phản ứng sinh lý mạnh, do đó thời gian chịu đựng của cơ thể càng ngắn Cảm giác nhiệt phụ thuộc vào năng lượng bức

xạ và thời gian tác dụng được thể hiện ở bảng 3.3

2.3 Điều hòa thân nhiệt ở người

Cơ thể người có nhiệt độ không đổi trong khoảng 37oC ± 0,5oC là nhờ hai quá trình đều nhiệt do trung tâm chỉ huy điều nhiệt điều khiển Để duy trì thăng bằng thân nhiệt trong điều kiện vi khí hậu nóng, cơ thể thải nhiệt thừa bằng cách giãn mạch ngoại biên và tăng cường tiết mồ hôi Chuyển một lít máu từ nội tạng

ra ngoài da thải được khoảng 2,5 kcal và nhiệt độ hạ được 3oC Một lít mồ hôi bay hơi hoàn toàn thải ra được chừng 580 kcal Còn trong điều kiện vi khí hậu lạnh cơ thể tăng cường quá trình sinh nhiệt và hạn chế quá trình thải nhiệt để duy trì sự thằng bằng nhiệt Thăng bằng nhiệt chỉ có thể thực hiện được trong phạm vi trường điều nhiệt, gồm hai vùng: vùng điều nhiệt hóa học và vùng điều

Trang 32

nhiệt lý học Vượt quá giới hạn này về phía cơ thể sẽ bị nhiễm lạnh, ngược lại về phía trên sẽ bị quá nóng

2.3.1 Điều nhiệt hóa học: là quá trình biến đổi sinh nhiệt do sự ôxy hóa

các chất dinh dưỡng Biến đổi chuyển hóa thay đổi theo nhiệt độ không khí bên ngoài và trạng thái lao động hay nghỉ ngơi của cơ thể Quá trình chuyển hóa tăng khi nhiệt độ bên ngoài thấp và lao động nặng, ngược lại quá trình giảm khi nhiệt độ môi trường cao và cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi

2.3.2 Điều nhiệt lý học: là tất cả các quá trình biến đổi thải nhiệt của cơ

thể gồm truyền nhiệt, đối lưu, bức xạ và bay hơi mồ hôi,… Thải nhiệt bằng truyền nhiệt là hình thức mất nhiệt của cơ thể khi nhiệt độ của không khí và các vật thể và ta tiếp xúc có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ ở da, khi da có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ môi trường sẽ xảy ra quá trình truyền nhiệt ngược lại (bảng 3.4)

Bảng 3.4 Biến đổi quá trình điều nhiệt theo nhiệt độ không khí

Loại điều

nhiệt

Quá trình điều nhiệt

Biến đổi nhiệt độ Kết quả điều

Chuyển hóa giảm

Thăng bằng nhiệt của cơ thể để duy trì thân nhiệt ở mức 37 o C ± 0,5 o C

Lý học Biến đổi quá

trình thải nhiệt

Thải nhiệt giảm

Thải nhiệt tăng

Do có sự thay đổi đó cơ thể có cảm giác mát mẻ hoặc nóng bức về mùa hè hoặc có thể cảm thấy lạnh hay ấm áp về mùa đông

Cơ thể người cũng như các bề mặt vật thể quanh người có thể phát ra các tia bức xạ nhiệt Trường hợp da người có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ trên bề mặt vật thể sẽ thu nhận tia bức xạ đến và ngược lại

Khi nhiệt độ không khí cao hơn 34oC (lớn hơn nhiệt độ da) cơ thể sẽ thải nhiệt bằng bay hơi mồ hôi

Trang 33

2.4 Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể người

Nhiệt độ không khí và sự lưu chuyển không khí quyết định sự tra đổi nhiệt bằng đối lưu, nhiệt độ bề mặt các vật quanh ta như: tường, trần, sàn, máy móc,… quyết định sự trao đổi nhiệt bằng bức xạ, độ ẩm không khí và nhiệt độ quyết định sự trao đổi nhiệt bằng bay hơi mồ hôi Biết được các yếu tố vi khí hậu để tìm biện pháp thay đổi, tạo điều kiện cho cơ thể duy trì được sự cân bằng nhiệt thuận lợi

2.4.1 Ảnh hưởng của vi khí hậu nóng

a Biến đổi về sinh lý nhiệt độ: da đặc biệt là da trán rất nhạy cảm đối với

nhiệt độ không khí bên ngoài Biến đổi về cảm giác nhiệt của da trán như sau:

28  29oC Cảm giác lạnh

29  30oC Cảm giác mát

30  31oC Cảm giác dễ chịu 31,5  32,5oC Cảm giác nóng 32,5  33,5oC Cảm giác rất nóng 33,5oC Cảm giác cực nóng Thân nhiệt (ở dưới lưỡi) nếu thấy tăng thêm 0,31oC là cơ thể có sự tích nhiệt Thân nhiệt ở 38,5oC được coi là nhiệt báo động, có sự nguy hiểm, sinh chứng say nóng

b Chuyển hóa nước: Cơ thể người hàng ngày có sự cân bằng giữa lượng

nước ăn uống vào và thải ra; ăn uống vào từ 2,53 lít và thải ra khoảng 1,5 lít

qua thận, 0,2 lít qua phân, lượng còn lại theo mồ hôi và hơi thở để ra ngoài

Làm việc trong điều kiện nóng bức, lượng mồ hôi tiết ra có thể từ 57 lít trong một ca làm việc, trong đó mất đi một lượng muối ăn khoảng 20 gam, một

số muối khoáng gồm các ion Na, K, Ca, Fe, I và một số nguyên tố C, B1, PP Do mất nhiều nước, tỷ trọng máu tăng lên, tim phải làm việc nhiều để thải lượng nhiệt thừa của cơ thể (chuyển một lít máu ra ngoài làm mất đi một lượng nhiệt khoảng 2,5 kcal) Vì thế nước qua thận còn 1015% so với mức bình thường, nên chức phận thận bị ảnh hưởng Mặt khác do mất nhiều nên phải uống nước

Trang 34

bổ sung, nên làm cho dịch vị bị loãng ra, làm mất cảm giác thèm ăn và ăn mất ngon, chức năng thần kinh bị ảnh hưởng làm giảm sự chú ý, giảm phản xạ, kéo dài thời gian phản ứng nên dẫn rới dễ bị tai nạn

c Bệnh lý: Trong điều kiện vi khí hậu nóng, các bệnh thường tăng lên gấp

đôi so với lúc bình thường Rối loạn bệnh lý do vi khí hậu nóng thường gặp là chứng say nóng và chứng co giật, làm cho con người bị chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và đau thắt lưng Thân nhiệt có thể lên cao tới 3940oC, mạch nhanh, nhịp thở nhanh Trường hợp nặng cơ thể bị choáng, mạch nhỏ, thở nông

2.4.2 Ảnh hưởng của vi khí hậu lạnh

Lạnh làm cho cơ thể mất nhiệt nhiều, nhịp tim, nhịp thở giảm và tiêu thụ ôxy tăng Lạnh làm cho các cơ vân, cơ trơn co lại gây hiện tượng nổi da gà, cách mạch máu co thắt sinh cảm giác tê cóng chân tay, vận động khó khăn Trong điều kiện vi khí hậu lạnh dễ xuất hiện một số bệnh viêm dây thần kinh, viêm khớp, viêm phế quản, hen và một số bệnh mãn tính khác do máu lưu th«ng kém

và sự đề kháng của cơ thể giảm

2.4.3 Ảnh hưởng của bức xạ nhiệt

Trong các phân nóng, các dòng bức xạ nhiệt chủ yếu do các tia hồng ngoại có bước song đến 10 µm, khi hấp thụ tia này tỏa ra nhiệt, bức xạ nhiệt phụ thuộc vào độ dài bước sóng, cường độ dòng bức xạ, thời gian chiếu xạ, diện tích

bề mặt chiếu, gián đoạn hay liên tục, góc chiếu, luồng bức xạ và quần áo Các tia hồng ngoại trong vùng ánh sáng thấy được và các tia hồng ngoại có bước sóng đến 1,5µm có khả năng thấm sâu vào cơ thể, ít bị da hấp thụ Vì thế lúc làm việc dưới nắng có thể bị chứng say nắng do các tia hồng ngoại có khả năng xuyên qua hộp sọ nung nóng màng não và các tổ chức Những tia có bước sóng khoảng

3 µm gây bỏng da mạnh nhất Điều đó chứng tỏ không những cần bảo vệ khỏi ảnh hưởng của nhiệt độ cao mà cả nhiệt độ thấp

Ngoài ra tia hồng ngoại còn gây các bệnh giảm thị lực, đục nhân mắt… Tia tử ngoại có 3 loại:

- Loại A có bước sóng từ 400315 nm

- Loại B có bước sóng từ 315280 nm

Trang 35

- Loại C có bước sóng nhỏ hơn 280 nm

Tia tử ngoại A xuất hiện ở nhiệt độ cao hơn, thường có trong tia lửa hàn, đèn dây tóc, đèn huỳnh quang, tia tử ngoại B thường xuất hiện trong các đèn thủy ngân, lò hồ quang,… Tia tử ngoại gây các bệnh về mắt như giảm thị lực, bỏng da, ung thư da Tia laze hiện nay được ứng dụng nhiều nhất trong công nghiệp, trong nghiên cứu khoa học, nó gây bỏng da, bỏng võng mạc,…

2.5 Các biện pháp phòng chống vi khí hậu xấu

độ không khí ngoài trời nơi làm việc được tiêu chuẩn hóa phụ thuộc vào thời gian trong năm (mùa nóng, mùa khô, mùa ẩm,…)

Lập thời gian biểu sản xuất sao cho những công đoạn sản xuất tỏa nhiều nhiệt không cùng một lúc, mà rải ra trong ca lao động

Lao động trong các điều kiện nhiệt độ cao cần được nghỉ ngơi thỏa đáng,

để cơ thể người lao động lấy lại được cân bằng

b Quy hoạch nhà xưởng và các thiết bị:

Sắp xếp các nhà xưởng nóng trên mặt bằng xí nghiệp phải sao cho sự thông gió tốt nhất, nên sắp xếp xen kẽ các phân xưởng nóng với phân xưởng mát

Cần chú ý hướng gió trong năm khi bố trí các phân xưởng nóng tránh ánh nắng mặt trời chiếu vào phân xưởng qua các cửa Xung quanh các phân xưởng nóng phải thoáng gió, có lúc cần bố trí các thiết bị nhiệt vào một khu vực xa nơi làm việc của người lao động

c Thông gió:

Trong các phân xưởng tỏa nhiều nhiệt (như các thiết bị tỏa nhiệt, nhiều người làm việc,…) cần có các hệ thống thông gió tự nhiên và cưỡng bức

Trang 36

d Làm nguội:

Bằng cách phun nước hạt mịn để làm mát, làm ẩm không khí, quần áo người lao động, ngoài ra còn có tác dụng làm sạch bụi trong không khí Để cách nhiệt, người ta có thể dùng màn chắn bằng nước cách ly nguồn nhiệt với xung quanh Màn chắn nước thường bố trí trước cửa lò Màn nước dày 2 mm có thể hấp thụ 8090% năng lượng bức xạ Nước để phun phải dùng nước sạch (nước dùng để ăn), độ mịn của các hạt bụi nước khoảng 5060 µm và đảm bảo cho độ

ẩm nằm trong khoảng 1314 g/m3 Có nhiều thiết bị tỏa nhiệt cần phải dùng vòi tắm khí để giảm nhiệt, vận tốc gió phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường

Để tạo điều kiện dễ chịu khi làm việc ở nhiệt độ cao, người ta quy định với từng nhiệt độ thì có vận tốc gió tương ứng, ví dụ:

Nhiệt độ không khí (oC) Vận tốc gió (m/s)

e Thiết bị và quá trình công nghệ:

Trong các phân xưởng nhà máy nóng độc cần được tự động hóa và cơ khí hóa, điều khiển và quan sát từ xa, để làm giảm nhẹ lao động và nguy hiểm cho người lao động Đưa những ứng dụng các thiết bị truyền hình vào điều khiển và quan sát từ xa

Có thể giảm nhiệt trong các nhà máy có thiết bị tỏa nhiệt lớn bằng cách giảm sự thoát nhiệt vào môi trường Để đạt được mục đích đó cần phải dùng các biện pháp tăng cường cách nhiệt cho các thiết bị tỏa nhiệt như:

- Dùng những vật liệu có tính cách nhiệt cao như sa mốt, manhetit, diatomit,…

- Làm nhiều lớp cách nhiệt khác để tăng tính cách nhiệt nhưng không làm tăng thêm trọng lượng thiết bị

- Dùng các màn chắn nhiệt mà thực chất là gương phản xạ nhiệt bên trong thiết bị nhiệt, nhờ đó phía ngoài thiết bị, nhiệt độ không cao lắm

Trang 37

Các cửa sổ thiết bị là nơi nhiệt thất thoát ra ngoài, cho nên diện tích cửa

sổ phải là tối thiểu, những lúc không cần thiết nên đóng kín

Trong trường hợp vỏ các thiết bị nhiệt do điều kiện kỹ thuật mà nhiệt độ vẫn còn cao không những gây nóng cho môi trường mà còn làm hỏng thiết bị, thì cần phải làm nguội vỏ thiết bị, có nhiều phương pháp làm nguội nhưng phổ biến là dùng hộp nước và nước hóa hơi Một trong các phương pháp bảo vệ nữa

là dùng màn chắn nhiệt khác với kiểu màn phản xạ nhiết trong thiết bị đã nói trên Đây là màn chắn nhiệt ngoài thiết bị, nó không những chắn bức xạ nhiệt

mà còn ngăn tia lửa và các vẩy thép bong ra khi nguội kim loại lỏng, sắt thép,… trong luyện kim Màn chắn có hai loại: loại phản xạ và loại hấp thụ, có loại cố định và loại di động

Màn chắn nhiệt thường được chế tạo bằng sắt tráng kẽm, tôn trắng, nhôm,

lá nhôm mỏng,… có thể một lớp và có thể nhiều lớp, ở gần giữa hai lớp có nước lưu chuyển để làm giảm nhiệt rất có hiệu quả

f Phòng hộ cá nhân:

Trước hết ta nói về quần áo bảo hộ, đó là loại quần áo chịu nhiệt chống bị bỏng khi có tia lửa bắn vào như than nóng đỏ, xỉ lỏng, nước kim loại nóng chảy,… nhưng lại phải thoáng khí để cơ thể trao đổi tốt với môi trường bên ngoài, áo phải rộng thoải mái bỏ ngoài quần, quần lại phải ngoài giày vì thế quần áo bảo hộ trường hợp này phải may từ những loại vải có thể là vải bạt, sợi bông hoặc da ni thậm chí có khi bằng sợi amiăng thủy tinh,… Để bảo vệ đầu, cần những loại mũ chống nóng và tránh bị bỏng, bảo vệ chân, tay bằng giày chịu nhiệt, găng tay đặc biệt, bảo vệ mắt bằng kính màu để giảm tối đa bức xạ nhiệt cho mắt, mắt kính có khi được phủ một lớp kim loại mỏng phản xạ tốt bức xạ

g Chế độ uống:

Quá trình lao động trong điều kiện nóng bức, mồ hôi ra nhiều, theo mồ hôi là các muối khoáng, vitamin Để giữ cân bằng nước trong cơ thể cần cho người lao động uống nước có pha thêm các muối: kali, natri, canxi, phốt pho và

bổ sung thêm các vitamin B, C, đường, axit, hữu cơ Nên uống ít một Theo kinh

Trang 38

nghiệm người Việt Nam, chúng ta có nhiều thức uống từ thảo mộc như: chè xanh, rau má, rau muống thường chứa 1g ion kali và 30 mg sinh tố C

2.5.2 Các biện pháp phòng chống vi khí hậu lạnh

Ở nước ta nhất là miền Bắc mùa đông lạnh cần phải đề phòng cảm lạnh

do bị mất nhiều nhiệt hoặc bị gió lùa, vì vậy đầu tiên là phải đủ quần áo ấm, quần áo nên xốp ấm nhưng thoải mái và nhà xưởng phải được thiết kế theo quy định nhằm chống gió lùa Bảo vệ chân tay cần có ủng, giày ấm, găng tay ấm, phải chú ý giữ khô Nếu lao động trong điều kiện vi khí hậu lạnh phải chú ý chế

độ ăn đủ calo chi cho lao động và chống sét Khẩu phần ăn cần những chất giàu năng lượng như dầu, mỡ (nên đạt 3540%)

3 TIẾNG ỒN VÀ RUNG ĐỘNG TRONG SẢN XUẤT

3.1 Những khái niệm chung về tiếng ồn và rung động

3.1.1 Tiếng ồn:

Người ta gọi tiếng ồn nói chung là những âm thanh gây khó chịu quấy rối

sự làm việc và nghỉ ngơi của con người Về mặt vật lý âm thanh là dao động sóng trong môi trường đàn hồi gây ra bởi sự dao động của các vật thể Không gian trong đó có sóng âm lan truyền gọi là trường âm Áp suất dư trong trường

âm gọi là áp suất âm p đơn vị là dyn/cm2 hay là bar Cường độ âm I là số năng lượng sóng truyền qua điện tích bề mặt 1 cm2 vuông góc với phương truyền sóng trong 1 giây (erg/cm2.s hoặc W/cm2)

Cường độ âm và áp suất âm liên hệ với nhau theo biểu thức:

I = C

p2

Với: ρ - mật độ của môi trường g/cm2; C – tốc độ của sóng, cm/s

Trong không gian tự do, cường độ âm tỷ lệ với bình phương khoảng cách

r đến nguồn âm

I = 2

r

r4

I

Với: Ir là cường độ âm ở cách nguồn điểm một khoảng r

Trang 39

Tai chúng ta tiếp nhận âm nhờ dao động của áp suất âm tỷ lệ với biến đổi cường độ âm I biến đổi n lần thì áp suất âm biến đổi n lần Để đánh giá cảm giác nghe, chỉ những đặc trưng vật lý của âm là chưa đủ vì tai chúng ta phân biệt cảm giác nghe không theo sự tăng tuyệt đối của cường độ âm (hay áp suất âm)

mà theo sự tăng tương đối của nó Cũng vì thế mà người ta không đánh giá cường độ âm và áp suất âm theo đơn vị tuyệt đối mà theo đơn vị tương đối và dùng thang logarit thay cho thang thập phân để thu hẹp phạm vi trị số đo Khi đó

ta có mức cường độ âm đo bằng đềxiben (dB)

W

Trong đó: W - công suất âm, W; Wo -ngưỡng không hay ngưỡng quy ước

Wo=10-12 W

Như vậy khi âm thanh có áp lực bằng 2.10-5 N/m2 hay cường độ Io = 10-12

W/m2 thì có mức công suất âm bằng 0 dB

Dao động âm mà tai nghe được có tần số từ 1620Hz đến 1620 kHz Giới hạn này ở mỗi người không giống nhau, tùy theo lứa tuổi và trạng thái cơ quan thính giác Dao động âm có tần số dưới 1620Hz tai người không thể nghe

Trang 40

được gọi là hạ âm, còn dao động âm có tần số trên 1620Hz cũng không nghe được gọi là siêu âm

Phạm vi âm nghe được không chỉ giới hạn trong những tần số xác định

mà còn trong những trị số áp suất hoặc cường độ nhất định Trên hình 3.2 biểu diễn các trị số giới hạn của áp suất bằng hai đường cong Đường dưới tương ứng với ngưỡng nghe Trị số áp suất ở ngưỡng nghe đối với các tần số khác nhau cũng khác nhau Trị số trung bình của áp suất ngưỡng nghe trong phạm vi tần

số 10005000Hz đối với người có tai thính khoảng 2.10-4 dyn/cm2 = 1.10-5 N/m2 Càng xa phạm vi này theo thang tần số về phía dưới và phía trên độ nhạy cảm càng giảm đi

Đường cong trên gọi là ngưỡng đau tai Những âm thanh vượt quá các trị

số của ngưỡng này có thể gây tổn thương hoặc phá hỏng cơ quan thính giác Như vậy tai người có tính nhạy cảm khác nhau đối với các âm có tần số và mức

âm khác nhau

Hình 3.2: Phạm vi thu nhận âm thanh

Sự đánh giá chủ quan cảm giác âm thanh thể hiện qua mức độ nghe to

Để đánh giá định kỳ lượng mức nghe to người ta dùng phương pháp so sánh chủ quan âm cần đo với âm tiêu chuẩn Khi thay đổi mức âm tiêu chuẩn có thể làm cho âm đo và âm tiêu chuẩn nghe to bằng nhau Theo quy định quốc tế, người ta lấy âm hình sin tần số 1000 Hz dưới dạng sóng âm phẳng làm tiêu chuẩn

Ngày đăng: 24/11/2023, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Ấu, Nhữ Văn Bách - Giáo trình: Phá vỡ đất đá bằng phương pháp khoan nổ mìn. Hà Nội, 1996 Khác
2. Hồ Sĩ Giao, Nguyễn Sỹ Hội, Trần Mạnh Xuân - Khai thác mỏ vật liệu xây dựng. Nhà xuất bản Giáo dục, 1990 Khác
3. Trần Mạnh Xuân - Các quá trình sản xuất trên mỏ lộ thiên. Hà Nội, 1997 Khác
4. Nguyễn Sỹ Hội - Kỹ thuật an toàn khai thác mỏ lộ thiên. Hà Nội, 2001 Khác
5. Đàm Trọng Thắng, Bùi Xuân Nam, Trần Quang Hiếu - Nổ mìn trong ngành mỏ và công trình. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 2015 Khác
6. Nguyễn Anh Tuấn, Trần Quang Hiếu, Phạm Văn Việt – Công nghệ khai thác đá khối tiên tiến. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 2016 Khác
7. Hồ Sỹ Giao, Bùi Xuân Nam, Vũ Đình Hiếu – Kỹ thuật Môi trường Mỏ lộ thiên. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 2015 Khác
8. Hồ Sĩ Giao, Bùi Xuân Nam, Nguyễn Anh Tuấn. Khai thác khoáng sản rắn bằng phương pháp lộ thiên. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2009 Khác
9. QCVN 02:2008/BCT - Quy chuẩn Việt Nam về an toàn trong bảo quản, vận chuyển, sử dụng và tiêu hủy vật liệu nổ công nghiệp Khác
10. QCVN 04: 2009/BCT - Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về An toàn trong Khai thác mỏ Lộ thiên Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w