BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Ngọc Kiều Vy PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT TRÍ
Trang 1Nguyễn Ngọc Kiều Vy
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT TRÍ NÃO CỦA JOHN MEDINA TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 6 VÀ 7 HOÁ
HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Ngọc Kiều Vy
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT TRÍ NÃO CỦA JOHN MEDINA TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 6 VÀ 7 HOÁ
HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học Mã số: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM HỒNG BẮC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực,khách quan và chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác, cácthông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc và được phép công bố.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2018
Học viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Kiều Vy
Trang 4đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo dạy lớp Cao học chuyên ngành
Lí luận và phương pháp dạy học Hóa học khóa 27 Trường Đại học Sư phạm Thànhphố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho chúng
em trong suốt khóa học
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, khoa Hóahọc Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ rất nhiều trong quátrình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn những người bạn đồng hành của lớp cao học chuyên ngành Líluận và phương pháp dạy học Hóa học khóa 27, quý thầy cô và các em học sinh cáctrường THPT DTNT Nơ Trang Lơng và THPT Vũng Tàu đã tạo mọi điều kiện tốt nhấtđể tôi có thể thực hiện đề tài
Cuối cùng, con xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, những người đã thườngxuyên động viên, khuyến khích, hỗ trợ để con có thể hoàn thành luận văn
Một lần nữa, xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
Tác giả
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG QUY LUẬT TRÍ NÃO CỦA JOHN MEDINA TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH 5 1.1 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông và phương pháp dạy học hiện nay ở Việt Nam 5
1.1.1 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông 5
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 5
1.2 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh 6
1.2.1 Khái niệm năng lực 6
1.2.2 Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh THPT 7
1.2.3 Năng lực giải quyết vấn đề 8
1.2.4 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 10
1.3 Các quy luật trí não theo John Medina và ý tưởng vận dụng trong dạy học 13
1.3.1 Đôi nét về tác giả John Medina và cuốn sách Luật trí não “Brain Rules”13 1.3.2 Một số quy luật trí não và ý tưởng vận dụng trong dạy học 14
1.4 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học Hoá học THPT 23
1.4.1 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề 23
1.4.2 Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ 26
1.4.3 Các kĩ thuật dạy học tích cực 26
Trang 61.5 Thực trạng vận dụng quy luật trí não trong dạy học và biện pháp phát triển
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy học
hoá học ở một số trường trung học phổ thông 30
1.5.1 Mục đích điều tra 30
1.5.2 Đối tượng điều tra 30
1.5.3 Kết quả điều tra 30
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT TRÍ NÃO VÀO DẠY HỌC CÁC CHƯƠNG 6, 7 HOÁ HỌC LỚP 10 THPT NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH 35 2.1 Phân tích nội dung, cấu trúc, đặc điểm dạy học chương 6 và 7 Hoá học lớp 10 trung học phổ thông 35
2.1.1 Mục tiêu, cấu trúc nội dung, cấu trúc logic chương 6 Oxi – Lưu huỳnh35 2.1.2 Mục tiêu, cấu trúc nội dung, lưu ý khi dạy học chương 7 Tốc độ phản ứng – Cân bằng hoá học 38 2.2 Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS 41
2.2.1 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trung học phổ thông trong dạy học môn Hoá học 41 2.2.2 Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học hoá học 44 2.3 Các biện pháp vận dụng quy luật trí não nhằm phát triển NLGQVĐ&ST cho học sinh thông qua dạy học hoá học 47
2.3.1 Thu hút sự chú ý của học sinh vào hoạt động giải quyết vấn đề 48
2.3.2 Xây dựng tình huống có vấn đề và khuyến khích học sinh đặt câu hỏi 50
2.3.3 Sử dụng tối ưu các phương tiện trực quan nhằm rèn luyện các thao
tác tư duy cho HS trong hoạt động GQVĐ 57
2.3.4 Kết hợp hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm trong hoạt động
Trang 72.4 Thiết kế kế hoạch bài dạy một số bài học trong chương 6, 7 hoá học lớp 10
có vận dụng quy luật trí não của John Medina nhằm phát triển
NLGQVĐ&ST cho học sinh 73
2.4.1 Kế hoạch dạy học 1: Bài 33 Axit sunfuric – Muối sunfat (2 tiết) 73
2.4.2 Kế hoạch dạy học 2: Bài 36 Tốc độ phản ứng (2 tiết) 101
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 102
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 102
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 102
3.3 Tiến trình thực nghiệm 102
3.3.1 Chọn địa bàn và đối tượng thực nghiệm 102
3.3.2 Trao đổi với GV dạy thực nghiệm trước khi TNSP một số VĐ: 104
3.3.3 Đánh giá thực nghiệm sư phạm 104
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 109
3.4.1 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm 109
3.4.2 Kết quả đánh giá độ bền kiến thức thông qua bài kiểm tra 110
Tiểu kết chương 3 118 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9Bảng 1.1 Những biểu hiện/ tiêu chí của năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo của học sinh trung học phổ thông 12
Bảng 2.1 Nội dung kiến thức chương 6 Oxi – Lưu huỳnh, Hoá học 10 36
Bảng 2.2 Nội dung kiến thức chương 7 Tốc độ phản ứng và cân bằng hoá học, Hoá học 10 39 Bảng 2.3 Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học môn Hoá học 41 Bảng 2.4 Bảng kiểm quan sát các mức độ của NL GQVĐ và ST (dành cho GV) 45 Bảng 3.1 Danh sách lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 102
Bảng 3.2 Kết quả học tập trước tác động của lớp thực nghiệm và đối chứng 103
Bảng 3.3 Phân tích các tiêu chí đánh giá NLGQVĐ&ST câu 5 (bài 1) 104
Bảng 3.4 Phân tích các tiêu chí đánh giá NLGQVĐ&ST câu 15 (bài số 2) 106
Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất, tần số tích luỹ của HS Trường THPT Nơ Trang Lơng (TN1–ĐC1) và Trường THPT Vũng Tàu (TN2–ĐC2) (bài 1) 110
Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất, tần số tích luỹ của HS trường THPT Nơ Trang Lơng (TN1–ĐC1) và Trường THPT Vũng Tàu (TN2–ĐC2) (bài 2) 111
Bảng 3.7 Các tham số đặc trưng của các bài kiểm tra 112
Bảng 3.8 Phân loại kết quả học tập của HS trường THPT Nơ Trang Lơng 112
Bảng 3.9 Phân loại kết quả học tập của HS trường THPT Vũng Tàu 113
Bảng 3.10 Điểm trung bình NLGQVĐ&ST của HS lớp TN và ĐC qua 2 bài kiểm tra 115
Bảng 3.11 Điểm trung bình NL của từng tiêu chí GV đánh giá HS lớp TN thông qua bảng kiểm quan sát 116
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cấu trúc logic chương Oxi – Lưu huỳnh Hoá học 10 THPT 38
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra HS lớp TN1 – ĐC1 (bài 1)
Trường THPT Nơ Trang Lơng 111
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra HS lớp TN2 – ĐC2 (bài 1)
Trường THPT Vũng Tàu 111
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra HS lớp TN1 – ĐC1 (bài 2)
Trường THPT Nơ Trang Lơng 112
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra HS lớp TN2–ĐC2 (bài 2)
Trường THPT Vũng Tàu 112
Hình 3.5 Phân loại kết quả học tập của HS Trường THPT Nơ Trang Lơng (bài 1).113
Hình 3.6 Phân loại kết quả học tập của HS Trường THPT Nơ Trang Lơng (bài 2).113
Hình 3.7 Phân loại kết quả học tập của HS của Trường THPT Vũng Tàu (bài 1) 113
Hình 3.8 Phân loại kết quả học tập của HS của Trường THPT Vũng Tàu (bài 2) 113
Hình 3.9 Biểu đồ sự tiến bộ NLGQVĐ&ST của HS 2 lớp TN qua 2 lần đánh giá .116
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Theo nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XII về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, chương trình giáo dục Việt Nam xác định nhiệm vụ “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng sự phát triển phẩm chất, năng lực của người học”, “cuộc cách mạng về
phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triển khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập sáng tạo ngay trong quá trình học
tập ở nhà trường phổ thông Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể tháng 7/2017 cũng chỉ rõ cácnăng lực (NL) chung trong đó năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo(NLGQVĐ&ST) là một trong các NL quan trọng và cốt lõi cần tập trung phát triểncho học sinh (HS)
Như vậy, ở mọi cấp học, đặc biệt là với HS trung học phổ thông (THPT), pháttriển NLGQVĐ&ST trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng Đối tượng HS này
đã và đang hình thành và phát triển các thao tác tư duy cần cho NLGQVĐ&ST Đểphát triển NL nói chung có thể tiếp cận bằng nhiều cách Hiện nay các nhà giáo dụcđang quan tâm và ứng dụng rất nhiều phương pháp (PP) và kĩ thuật dạy học khácnhau để người giáo viên (GV) truyền thụ kiến thức và phát triển NL cho HS Có thể
ví quá trình này như quá trình phát triển của một cái cây với phần lá là Các phương pháp, kĩ thuật dạy học; phần thân là Quan điểm, lí thuyết học tập và phần gốc rễ là
Quy luật hoạt động của não bộ Theo đó, gốc rễ của các phương pháp dạy học(PPDH) chính là các quy luật nhận thức của bộ não chi phối các hoạt động dạy họccủa GV và HS
Hiểu rõ bí mật vận động của bộ não, GV có thể thiết kế các bài giảng phù hợpvới quy luật nhận thức của người học Đặc biệt, đối với quá trình phát triểnNLGQVĐ&ST cho HS, vận dụng các quy luật của trí não là hết sức cần thiết
Luật trí não (Brain Rules) của tác giả John Medina giới thiệu 12 quy luật ôngnghiên cứu về cách thức hoạt động của não bộ Với mỗi quy luật ông đưa ra những
Trang 12lập luận khoa học và những gợi ý nhằm khám phá và ứng dụng chúng vào cuộc sống,đặc biệt là ở trường học Cuốn sách này nhận được khá nhiều bình luận, chủ yếu làkhen ngợi của những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, được tờ báo NewYork Times bình chọn thuộc loại best seller Khi nghiên cứu về các quy luật trí nãonày tôi tìm thấy nhiều ý tưởng liên hệ với quá trình dạy học nói chung và trong mônHoá học nói riêng Hoá học là môn khoa học thực nghiệm (TN), HS không chờ đợikiến thức và tiếp nhận một cách thụ động, người thầy không chỉ là người thuyết trìnhkiến thức dưới dạng có sẵn mà cần kích thích trí tò mò và sáng tạo (ST) của HS.Kiến thức hoá học luôn khiến HS hứng thú vì sự bí ẩn của nó, chứa đựng vô vàn VĐgần gũi và thiết thực khiến HS tự tìm tòi giải quyết Nếu GV biết cách thức khai tháccác quy luật trí não để phát triển NL tư duy cho HS, vận dụng các PPDH phù hợp,môn Hoá học sẽ là một môn khoa học giúp phát triển NL toàn diện cho HS, trong đóquan trọng nhất là NLGQVĐ&ST
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực giải quyết vấn
đề và sáng tạo cho học sinh thông qua vận dụng các quy luật trí não của John Medinatrong dạy học chương 6 và 7 Hoá học lớp 10 THPT” với mong muốn góp phần vàoviệc hiểu rõ quy luật hoạt động của bộ não, trên cơ sở đó đưa ra biện pháp vận dụngđể phát triển NLGQVĐ&ST cho HS thông qua dạy học một số nội dung hoá học lớp10
Nghiên cứu việc vận dụng một số quy luật trí não của John Medina trong dạyhọc các chương 6, 7 hoá học lớp 10 chương trình cơ bản nhằm phát triển năng lựcgiải quyết vấn đề và sáng tạo của HS ở trường THPT
3 Nhiệm vụ của đề tài
– Nghiên cứu cơ sở lí luận về một số quy luật trí não theo John Medina, các tài liệu liên quan đến dạy học GQVĐ, chương trình Hoá học lớp 10 các chương 6, 7.– Điều tra thực trạng mức độ hiểu biết về các quy luật trí não của GV và HS,mức độ quan tâm và các biện pháp sử dụng nhằm phát triển NLGQVĐ&ST cho HStrong dạy học hoá học (DHHH) ở THPT
Trang 13– Đề xuất các biện pháp vận dụng các quy luật trí não của John Medina nhằm phát triển NLGQVĐ&ST trong DHHH.
– Thiết kế một số kế hoạch dạy học minh hoạ có vận dụng một số quy luật trí não của John Medina; TN sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài.– Thiết kế và sử dụng bộ công cụ đánh giá NLGQVĐ&ST của HS thông qua vận dụng các quy luật trí não trong dạy học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
– Khách thể nghiên cứu: Quá trình DHHH ở trường THPT
– Đối tượng nghiên cứu: một số quy luật trí não của John Medina có liên quantới giáo dục, NLGQVĐ&ST trong dạy học chương 6, 7 hoá học lớp 10 ở trườngTHPT
5 Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng các quy luật trí não của John Medina trong dạy học nội dung cácchương 6, 7 hoá học lớp 10, chương trình cơ bản ở trường THPT
6 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng một số quy luật trí não của John Medina vào quá trình dạy họchoá học lớp 10 các chương 6, 7 phù hợp với đối tượng HS sẽ góp phần phát triểnNLGQVĐ&ST cho HS ở trường THPT
7 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu 7.1 Phương pháp nghiên cứu
7.1.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
– Đọc và nghiên cứu các tài liệu, văn bản có liên quan đến đề tài
– Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hoá
7.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– PP điều tra thực tiễn về NLGQVĐ&ST của HS, mức độ hiểu biết và vận dụngcác quy luật trí não trong dạy học hoá học ở trường THPT
– TN sư phạm, đánh giá tính khả thi và hiệu quả các đề tài
7.1.3 Phương pháp toán học
– Phân tích số liệu
– Thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Trang 147.2 Phương tiện nghiên cứu
– Các loại tài liệu tham khảo: sách (Luật trí não của John Medina, SGK, sách
GV, sách bài tập, các sách tham khảo hoá học,…), báo, tạp chí, bài báo khoa học vàmột số trang web hoá học, PPDH,…
– Máy tính, phần mềm hỗ trợ dạy học (Mindmap, PowerPoint,…)
– Phần mềm xử lí số liệu
8 Đóng góp mới của đề tài
– Nghiên cứu cơ sở lí luận về vận dụng các quy luật trí não của John Medina trong dạy học hoá học
– Đề xuất biện pháp vận dụng một số quy luật trí não trong dạy học các chương
6, 7 hoá học lớp 10 THPT nhằm phát triển NLGQVĐ&ST cho HS
– Thiết kế một số kế hoạch dạy học có vận dụng các quy luật trí não nhằm phát triển NLGQVĐ&ST cho HS trong dạy học các chương 6, 7 hoá học lớp 10 THPT.– Điều tra và đánh giá thực trạng mức độ hiểu biết về các quy luật trí não của
GV và HS, mức độ quan tâm và các biện pháp sử dụng nhằm phát triển NLGQVĐ
&ST cho HS trong dạy học hoá học (DHHH) ở THPT
– Xây dựng và sử dụng bộ công cụ đánh giá NLGQVĐ&ST của HS thông qua vận dụng các quy luật trí não trong dạy học
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG QUY LUẬT TRÍ NÃO CỦA JOHN MEDINA TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO
HỌC SINH1.1 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông và phương pháp dạy học hiện nay
ở Việt Nam
1.1.1 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá XI (2013)
đã khẳng định nhu cầu bức thiết khi đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thônghiện nay là: “Phát triển phẩm chất, NL người học, đảm bảo hài hoà giữa dạy chữ, dạyngười và định hướng nghề nghiệp.”
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã đề xuất 3 nhóm NL chung cần tậptrung phát triển cho HS bao gồm: NL tự chủ và tự học; NL giao tiếp và hợp tác; NLgiải quyết vấn đề và sáng tạo (NLGQVĐ&ST) Từ đó có thể thấy NLGQVĐ&ST làmột trong những NL cần thiết mà GV nên đặc biệt quan tâm để hình thành và pháttriển cho HS THPT trong quá trình dạy học nói chung và trong DHHH nói riêng.Như vậy, việc nghiên cứu các biện pháp nhằm hướng đến việc phát triển NL,NLGQVĐ&ST cho HS là phù hợp với nhu cầu của nền giáo dục hiện tại mà ViệtNam đang hướng đến
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2012) đã làm rõ 2 nhiệm vụ quantrọng cần thực hiện để từng bước đổi mới PPDH với định hướng chung của giáo dụcphổ thông là trang bị cho HS những kiến thức khoa học kĩ thuật hiện đại, tinh tú nhấtcủa nhân loại để họ có thể sử dụng được vào lao động sản xuất, tiếp theo là phảichuẩn bị, rèn luyện một cách có hệ thống cho HS từ khi còn bé để mỗi cá nhân phảitìm được con đường riêng, sáng tạo ra được một phương pháp mới phù hợp với hoàncảnh riêng của mình
Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) cần tiến hành dựa trên 2 nhiệm vụ này,vừa trang bị kiến thức khoa học hiện đại vừa rèn luyện NL nhận thức về khoa họcbằng cách tự giải quyết các VĐ học tập và cuộc sống một cách ST mang tính cá
Trang 16nhân Đổi mới PPDH cần thực hiện toàn diện ở hoạt động của cả hai chủ thể: ngườidạy và người học Trong đó vai trò của người GV với tư cách người thiết kế, điềukhiển và định hướng hoạt động của HS, còn HS cần là người tự lực thực hiện cácnhiệm vụ mà GV đưa ra với sự trợ giúp của GV
Người GV cần tổ chức quá trình học tập của HS tương tự với quá trình nghiêncứu của các nhà khoa học Người GV luôn mong muốn HS làm quen với cách suynghĩ, làm việc khoa học và ST từ chính hoạt động học tập của bản thân Do vậy cácPPDH theo hướng phát triển NL cần tập trung vào hoạt động nhận thức khoa học củachính bản thân người học Tuy nhiên, để phát huy tối ưu hoạt động nhận thức củangười học, GV cần quan tâm đến cách thức mà người học suy nghĩ, tư duy và hànhđộng, được thể hiện thông qua các quy luật hoạt động của bộ não Như vậy, GV cầnxây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động dạy học dựa trên cách thức hoạt động củabộ não nhằm hướng tới mục tiêu là phát triển NL cho HS
1.2 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh
1.2.1 Khái niệm năng lực
Năng lực được nhiều nhà tâm lí học, nhà triết học, nhà giáo dục học trong vàngoài nước quan tâm nghiên cứu Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩakhác nhau B.M Chieplôv cho rằng có hai yếu tố cơ bản liên quan đến khái niệm
NL Thứ nhất, NL là những đặc điểm tâm lí mang tính cá nhân Mỗi cá thể khác nhaucó NL khác nhau về cùng một lĩnh vực, vì vậy không thể nói rằng “Mọi người đều có
NL như nhau!” Thứ hai, khi nói đến NL, không chỉ nói tới các đặc điểm tâm líchung chung mà NL còn phải gắn với một hoạt động nào đó và được hoàn thành cókết quả tốt (tính hướng đích) (Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, 2010)
Theo Roegiers Xavier khẳng định “NL là tập hợp trật tự các KN tác động lêncác nội dung trong một loại tình huống cho trước để GQVĐ do tình huống này đặtra” Định nghĩa này nêu nên ba thành phần nổi bật của năng lực: NL = Kĩ năng + Nộidung + Tình huống (Roegiers Xavier, 1996)
Theo Québec–Ministere de l’Educatison cho rằng NL là “khả năng vận dụngnhững kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cáchphù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” Theo định
Trang 17nghĩa này NL được cấu thành từ các yếu tố kiến thức, kinh nghiệm, KN, thái độ và
cả sự hứng thú (Québec–Ministere de l’Educatison, 2004)
Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2014) cho rằng:
Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giảiquyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vựcnghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệmcũng như sự sẵn sàng hành động
Theo các quan niệm này năng lực là khả năng kết hợp của các yếu tố tri thức, kĩnăng, kĩ xảo, kinh nghiệm, thái độ tích cực, tinh thần trách nhiệm để thực hiện vàhoàn thành các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thuộc các lĩnh vực nghềnghiệp, xã hội và cá nhân
Đồng tình với những ý kiến trên, trong đề tài này, chúng tôi sử dụng quan niệm
NL theo chương trình giáo dục tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 07/2017) như sau:
NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất có sẵn có vàquá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩnăng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thànhcông một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể
1.2.2 Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh THPT
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo(07/2017) đề xuất NL của HS trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2017gồm 3 nhóm NL: các NL chung, NL chuyên môn và nhóm NL chuyên biệt (NL đặcthù môn học)
- Nhóm NL chung: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác,
NLGQVĐ&ST
- Nhóm NL chuyên môn: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và
xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất
Đối với môn Hoá học, có 5 NL đặc thù: NL sử dụng ngôn ngữ hoá học, NL
TN hoá học, NL tính toán, NLGQVĐ, NL vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống(Bộ Giáo dục, 2014)
Trang 18VĐ là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quyluật cũng như tri thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ để giải quyết, gây ra khó khăn cản trở
mà người giải quyết cần vượt qua VĐ học tập là nội dung kiến thức mà người họccần nắm vững, tồn tại khách quan, số đông HS chưa nhận ra, phải qua hoạt động họctập thì các em mới lĩnh hội được
VĐ luôn tồn tại khách quan, độc lập với chủ thể Khi cùng tiếp nhận một VĐ,các chủ thể khác nhau có phản ứng khác nhau Sẽ có HS nhanh chóng trả lời câu hỏi,có HS suy nghĩ một thời gian sau mới có câu trả lời, có những HS không hiểu nộidung của câu hỏi, phụ thuộc vào trạng thái tâm lí, kiến thức, KN sẵn có của chủ thể
1.2.3.2 Quá trình giải quyết vấn đề
Khái niệm về GQVĐ theo một số tác giả như Jean–Paul Reeff, Anouk Zabal vàChristine Blech cho rằng:
GQVĐ là khả năng suy nghĩ và hành động trong những TH không có quy trình,thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn Người GQVĐ có thể ít nhiều xác định đượcmục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức biết cách làm thế nào để đạtđược nó Sự am hiểu TH có VĐ và lí giải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập
kế hoạch và suy luận tạo thành quá trình GQVĐ (Nguyễn Trọng Khanh, 2011).Như vậy, có thể thấy GQVĐ là một quá trình tư duy phức tạp, bao gồm khảnăng phát hiện VĐ, đưa ra luận điểm các giả thuyết, lên kế hoạch kiểm chứng giảthuyết, thực hiện và đánh giá, rút ra kết luận,… từ đó có thể đưa ra một hoặc nhiềugiải pháp khắc phục những khó khăn, thách thức của VĐ
Trong học tập cũng như trong thực tiễn, để GQVĐ, tác giả Nguyễn Cương đãđưa ra quy trình để GQVĐ gồm ba bước sau:
Bước 1: Nhận biết vấn đề: Phân tích TH đặt ra, nhận biết được VĐ.
Trang 19Bước 2: Tìm các phương án giải quyết: Tìm các phương án khác nhau để
GQVĐ, so sánh, liên hệ với những cách GQVĐ tương tự đã biết cũng như tìm cácphương án giải quyết mới Khi có khó khăn hoặc không tìm ra phương án giải quyếtthì cần trở lại việc phân tích lại VĐ để kiểm tra lại việc nhận biết và hiểu VĐ
Bước 3: Quyết định phương án giải quyết: Các phương án giải quyết đã được
tìm ra cần được phân tích, so sánh và đánh giá xem có thể thực hiện được việcGQVĐ hay không Nếu có nhiều phương án có thể giải quyết thì cần so sánh để xácđịnh phương án tối ưu Nếu việc kiểm tra các phương án đã đề xuất đưa đến kết quả
là không giải quyết được VĐ thì cần trở lại giai đoạn tìm kiếm phương án giải quyết.Khi đã quyết định được phương án thích hợp, giải quyết được VĐ tức là đã kết thúcviệc GQVĐ (Nguyễn Cương, 2006)
1.2.3.3 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Dựa trên hoạt động GQVĐ thì người có NL GQVĐ sẽ có các ý tưởng, khảnăng, các thao tác thực hiện khi tiến hành GQVĐ, họ biết cách phát hiện VĐ (nhậnbiết và chấp nhận VĐ), hình thành giả thuyết (phân tích các thông tin liên quan đếnvấn và tìm kiếm nguyên nhân của VĐ), đề ra được giải pháp hợp lí (giải thích chocác nguyên nhân này) và tiến hành GQVĐ một cách hiệu quả, biết cách ĐG giảipháp GQVĐ và rút ra kết luận để có được giải pháp tối ưu nhất
Theo nghiên cứu của tác giả Đinh Quang Báo ở bậc học THPT, NL GQVĐđược biểu hiện ở các hoạt động:
Phân tích được TH trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêu được tìnhhuống có VĐ trong học tập và trong cuộc sống
Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến VĐ; đề xuất và phân tíchđược một số giải pháp GQVĐ; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất;
Thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ; suy ngẫm về cách thức và tiến trìnhGQVĐ để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới (Đinh Quang Báo, 2013)
Từ những thông tin trên, trong luận văn này, chúng tôi quan niệm NLGQVĐcủa HS là khả năng huy động kiến thức, KN, kinh nghiệm và các phẩm chất cá nhânkhác (cảm xúc, thái độ, động cơ, hứng thú) để thực hiện quá trình GQVĐ khi phảiđối mặt với các VĐ trong học tập và cuộc sống mà ở đó con đường tìm ra lời giảikhông rõ ràng ngay lập tức
Trang 20Trong DHHH, HS có NL GQVĐ khi các em biết sử dụng kiến thức, KN củamôn Hoá học một cách tự tin vào việc giải quyết các VĐ thuộc các lĩnh vực học tậptrong môn Hoá học ở trường và các VĐ trong cuộc sống liên quan đến kiến thức hoáhọc
1.2.4 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
1.2.4.1 Khái niệm sáng tạo và NLGQVĐ&ST
Sáng tạo (ST) là hoạt động tạo ra bất kì cái gì có đồng thời tính mới và tính lợiích Tính mới là sự khác biệt của đối tượng cho trước so với đối tượng cùng loại rađời trước đó về mặt thời gian Còn tính lợi ích chỉ thể hiện ra khi đối tượng cho trướchoạt động hay làm việc theo đúng chức năng và trong phạm vi áp dụng của nó
Quá trình ST là tổ hợp các phẩm chất và NL mà nhờ đó con người trên cơ sởkinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra những ý tưởng mới, độc đáo,hợp lí trên bình diện cá nhân hay xã hội Khái niệm này cho thấy 3 quan niệm khácnhau về bản chất của quá trình ST theo tâm lý học như sau:
Thứ nhất, bản chất của ST là ý tưởng hay nói cách khác, ý tưởng là ngọn nguồn
của quá trình ST Khởi đầu của ST ở bất kì cấp độ nào đều phải từ ý tưởng Ý tưởngnảy sinh trong suy nghĩ, tâm trí của con người và sẽ được đào sâu nghiên cứu, kếtthúc là một sản phẩm nhất định Như vậy, ý tưởng và sản phẩm là sự khởi đầu và kếtthúc của quá trình ST
Thứ hai, bản chất của ST được nhìn nhận như là “đặt vấn đề”, cụ thể hơn đó là
sự nêu lên VĐ mới Cũng quan điểm này, Einstein đã đưa ra luận điểm khá độc đáo.Theo ông, việc thiết lập VĐ quan trọng hơn quá trình giải quyết VĐ vì giải quyết VĐchỉ là công việc của KN toán học hay kinh nghiệm Nêu lên được VĐ mới, nhữngkhả năng mới, nhìn nhận những VĐ dưới góc độ mới đòi hỏi phải có trí tưởng tượng
và nó đánh dấu bước tiến bộ của khoa học
Thứ ba, bản chất của ST là hoạt động cao nhất của con người.
Bộ não không những là một cơ quan gần gũi và tái hiện kinh nghiệm cũ củachúng ta, nó còn là cơ quan phối hợp, chỉnh lí một cách ST và xây dựng nên nhữngtình thế mới bằng những kinh nghiệm cũ đã hình thành trước đó (Huỳnh Văn Sơn,2009)
Trang 21Theo R.L Solsor: “Sự ST là một hoạt động nhận thức mà nó đem lại một cáchnhìn nhận hay giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay tình huống có vấn đề” (TrầnTrọng Thủy, 2000).
Điều này cho thấy hoạt động ST được thể hiện khi HS đối mặt với VĐ và HS
ST dựa trên NL tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, xúc cảm, động cơ và ý chí
Đối với HS trong hoạt động giải quyết VĐ:
NL ST là các khả năng hình thành ý tưởng mới, đề xuất được giải pháp mới haycải tiến cách làm mới một sự vật, có các giải pháp khác nhau để giải quyết một VĐ,
sự tò mò, thích đặt các câu hỏi để khám phá sự vật xung quanh (Bộ Giáo dục và Đàotạo, 2014)
Tuy nhiên trong quá trình học tập, những ý tưởng gì HS “tự nghĩ ra” khi GVchưa dạy mà HS tự đọc sách hoặc trao đổi với bạn bè mà phát biểu được đều coi nhưcó mang tính ST ST là sự phát triển cao nhất của NL nhận thức mà ở đó bản thân
HS phải tự tìm thấy con đường logic dẫn đến kết quả từ các kinh nghiệm hoạt độngthực tiễn của bản thân
Trên cơ sở khái niệm NLGQVĐ và NLST đã trình bày ở trên, chúng tôi quanniệm đối với HS THPT: NLGQVĐ&ST là khả năng nhận thức của cá nhân HS hìnhthành các ý tưởng khi đối mặt với tình huống có VĐ, độc lập tư duy và tự lực giảiquyết VĐ mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp có sẵn thông thường.Cách tốt nhất để hình thành và phát triển NL của HS là đặt HS vào vị trí chủ thểcủa hoạt động tự lực, thái độ tích cực chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện các KN để pháttriển NL và mong muốn tìm hiểu khoa học, vận dụng chúng để đạt được những điềutốt đẹp trong học tập và cuộc sống Như vậy trách nhiệm của người GV là tìm ra biệnpháp hữu hiệu để rèn luyện NLGQVĐ&ST cho HS trong quá trình dạy học Nhữngbiện pháp này cần tác động mạnh vào các yếu tố nền tảng để phát triểnNLGQVĐ&ST cho HS như:
Hứng thú: mức độ hứng thú, sự tập trung chú ý và động lực khao khát mong
muốn GQVĐ để tìm hiểu khoa học
Kiến thức: lí thuyết hoá học và lí thuyết quá trình GQVĐ liên quan đến hoá học
và những VĐ vận dụng kiến thức hoá học liên quan đến thực tiễn đời sống
Trang 22Môi trường thuận lợi: HS được rèn luyện các thao tác tư duy, tự lực GQVĐ
trong TH có VĐ GV tạo ra
1.2.4.2 Biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo,07/2017), những biểu hiện của NL GQVĐ&ST của HS THPT được thể hiện quabảng 1.1
Bảng 1.1 Những biểu hiện/ tiêu chí của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trung học phổ thông
Phát hiện và làm rõ Phân tích được TH trong học tập, trong cuộc sống; phát
hiện và nêu được TH có VĐ (TH có VĐ) trong học tập,VĐ
trong cuộc sống
Đề xuất, lựa chọn Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến VĐ;
đề xuất và phân tích được một số giải pháp GQVĐ; Lựagiải pháp
chọn được giải pháp phù hợp nhất
Thực hiện và đánh giá Thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ; Suy ngẫm về
cách thức và tiến trình GQVĐ để điều chỉnh và vận dụnggiải pháp GQVĐ
trong bối cảnh mới
Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp
Nhận ra ý tưởng mới từ các nguồn thông tin khác nhau; Phân tích các nguồn
thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tincậy của ý tưởng mới
Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống;
Hình thành và triển khai Suy nghĩ không theo lối mòn; Tạo ra yếu tố mới dựa trên
những ý tưởng khác nhau; Hình thành và kết nối các ýý tưởng mới
tưởng; Nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thayđổi của bối cảnh; Đánh giá rủi ro và có dự phòng
Đặt được nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp
Tư duy độc lập nhận thông tin một chiều; Không thành kiến khi xem
Trang 241.3 Các quy luật trí não theo John Medina và ý tưởng vận dụng trong dạy học 1.3.1 Đôi nét về tác giả John Medina và cuốn sách Luật trí não “Brain
Rules”
John Medina là nhà sinh học phân tử phát
triển và là nhà nghiên cứu về sự phát triển của
não người Hiện ông là Giám đốc Trung tâm
Nghiên cứu Ứng dụng Quy luật Trí não trong
Học tập của Trường Đại học Seattle Pacific
Ông cũng tham gia giảng dạy tại khoa Công
nghệ Sinh học, Trường Đại học Y khoa
Washington
Ông không chỉ thành công trên cương vị một nhà khoa học được viện hàn lâmQuốc gia phong tặng danh hiệu học giả năm 2004 mà còn là một người thầy rất đượcyêu quý (Ông liên tục giành giải thưởng Thầy giáo của năm do Hội Sinh viên ngànhCông nghệ sinh học bầu chọn) Giáo sư John Medina có một niềm say mê suốt đờivới việc nghiên cứu cách thức hoạt động của bộ não khi phản ứng với thông tin và tổchức thông tin Ông rất quan tâm đến việc thúc đẩy sự hợp tác nghiên cứu giữa haingành khoa học trí não và giáo dục để có được những biện pháp tốt nhất vận dụngtrong quá trình dạy học và phương thức giáo dục ở nhà trường và trong cuộc sống
Cuốn sách Brain Rules của John Medina được xuất bản đầu tiên vào năm 2008,
tuy nhiên đến nay vẫn là một cuốn sách được ưa chuộng Cuốn sách được nhà xuất
bản Thế Giới phát hành và tái bản hàng năm với tên Luật trí não, Mai Khanh dịch.
John Medina đề cập đến 12 quy luật về cách thức hoạt động của bộ não và ông gọi
chúng là các quy luật trí não 12 quy luật trí não bao gồm:
+ Quy luật 1: Luyện tập thể chất giúp tăng cường năng lực trí não
+ Quy luật 2: Não người cũng tiến hoá
+ Quy luật 3: Mỗi bộ não được kết nối khác nhau
+ Quy luật 4: Chúng ta không chú ý đến những điều nhàm chán
+ Quy luật 5: Nhắc lại để nhớ
+ Quy luật 6: Nhớ để nhắc lại
+ Quy luật 7: Ngủ tốt, suy nghĩ tốt
Trang 25+ Quy luật 8: Những bộ não bị căng thẳng học tập không giống nhau
+ Quy luật 9: Kích thích nhiều giác quan
+ Quy luật 10: Thị giác là quân bài chủ trong tất cả các giác quan
+ Quy luật 11: Bộ não của đàn ông và phụ nữ khác nhau
+ Quy luật 12: Chúng ta là những nhà thám hiểm mạnh mẽ và tự nhiên
Mỗi chương trong cuốn sách được trình bày một cách hấp dẫn và lôi cuốn Mởđầu, John Medina giải thích những thông tin khoa học về bộ não kết hợp với các ví
dụ thực tế, những câu chuyện y khoa, từ đó nảy sinh ra các ý tưởng trong đó có rấtnhiều ý tưởng có thể vận dụng trong học tập Ở cuối mỗi chương đều có phần tóm tắtngắn gọn mà giúp người đọc có thể tập trung vào các nội dung và có những ý tưởngvận dụng được ngay Trịnh Minh Giang – Giám đốc hệ thống giáo dục VIP school đã
ca ngợi: “Cuốn Brain Rules của John Medina là một bài giảng sống động về quy luật
của trí não Lối hành văn dễ hiểu và có tính đối thoại cao của tác giả giúp cho ngườiđọc trở thành những người tự học qua sách một cách tự nhiên và tự nguyện.” (JohnMedina, 2018)
1.3.2 Một số quy luật trí não và ý tưởng vận dụng trong dạy học
1.3.2.1 Quy luật 1: Luyện tập thể chất giúp tăng cường năng lực trí não
– Mô tả quy luật: Hoạt động rèn luyện thể chất trong quá trình học thực sự giúp
người học nâng cao khả năng nhận thức, nếu thực hiện có hiệu quả sẽ giúp cho nhiềuý tưởng mới nảy sinh Điều này đã được tác giả kiểm chứng thông qua những trắcnghiệm thần kinh Ông đã khẳng định: “Những người thường xuyên rèn luyện cơ thểcó thể nâng cao NL nhận thức, đôi khi rất đáng kinh ngạc, so với những người khôngchịu vận động” (John Medina, 2018) tr.29 Nếu chúng ta thường xuyên vận động sẽcó khả năng ghi nhớ dài hạn, khả năng lập luận, cả sự chú ý và cách giải quyết VĐluôn tốt hơn khi “ngồi lì” một chỗ Ngay cả với những VĐ mới thì vận động trongkhi giải quyết cũng tăng cường khả năng gợi nhớ và sử dụng những dữ kiện liênquan đến kiến thức đã học từ trước
– Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Để cải thiện các KN suy nghĩ, phải vận
động và rèn luyện thể chất thường xuyên Có thể vận dụng tích hợp vào các hoạtđộng khởi động, hoạt động nhóm, trò chơi có tính tốc độ
Trang 261.3.2.2 Quy luật 2: Não người cũng tiến hoá
– Mô tả quy luật: Theo
Medina, não bộ luôn phát triển để
thích nghi với cuộc sống tự nhiên
thật sự khắc nghiệt "Não dường
như được tạo ra để giải quyết các
VĐ có liên quan tới sự sống còn
trong một môi trường luôn luôn
thay đổi, và nó thực hiện chức
năng ấy trong sự vận động gần như
không ngừng nghỉ." (John Medina,
2018, tr.18) Medina cũng giới
thiệu về cấu trúc của bộ não Mỗi phần đảm nhận một chức năng riêng và khi đối mặtvới một VĐ, từng phần của bộ não sẽ chi phối suy nghĩ, cảm xúc và các hành độngcủa chúng ta để thực hiện GQVĐ Cấu trúc của bộ não được mô tả như trên, trong
đó: Phần 1: Cấu trúc thần kinh cổ xưa nhất của bạn chính là thân não, hay còn gọi là
“não thằn lằn” Phần não này kiểm soát mọi hoạt động của cơ thể, nó giữ cho não
chúng ta luôn hoạt động Phần 2: Não động vật có vú đóng vai trò quan trọng trong
các quy luật trí não Nó kiểm soát và chi phối cảm xúc và tác động vào các giác quancủa con người Nó khiến chúng ta cảm nhận sự giận dữ, sợ hãi, vui thích hoặc gợinhớ những trải nghiệm cảm xúc trong quá khứ, cảm xúc giúp thông tin được ghi nhớthành kí ức ngắn hạn, sau đó chuyển đổi các kí ức ngắn hạn thành kí ức lâu dài Nằmchính giữa trung tâm não, nó xử lí các tín hiệu được gửi đi từ gần như mọi ngócngách của toàn bộ các giác quan và có nhiều kết nối nhất của não để điều kiển mọi
giác quan Phần 3: Phần não người nằm ở bề mặt của não (vỏ não), có chức năng kết
nối các thông tin để tạo ra thông tin mới Não người đưa học tập, tư duy và giải phápGQVĐ lên một cấp độ cao hơn khi ứng dụng các kiến thức kinh nghiệm đã tích luỹkhi não thú hoạt động để tạo ra tín hiệu hành động cho phần não thằn lằn
– Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Chúng ta có tới ba phần não trong đầu.
Trong dạy học, GV nên tìm cách kết nối 3 bộ não này với nhau Có thể bắt đầu với
“não thằn lằn” bằng cách tạo ra mong muốn hoạt động để giải quyết nhiệm vụ học
Trang 27tập, sau đó là bộ não “thú” kích thích và kết nối cảm xúc với các giác quan, gợi nhớcác kinh nghiệm, kiến thức, kí ức, rồi phủ lên trên tất cả là vỏ não, não “con người”hoạt động mạnh mẽ ST và giải quyết nhiệm vụ đạt hiệu quả cao.
1.3.2.3 Quy luật 3: Mỗi bộ não được kết nối khác nhau
– Mô tả quy luật: Mọi người truyền mọi thứ vào bộ nhớ khác nhau Không có
hai bộ não lưu trữ thông tin ở cùng một nơi (trên vỏ não) Mỗi bộ não được cấu tạokhác nhau nên cách tiếp cận sẽ không giống nhau
– Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Quy luật này khi vận dụng trong dạy học
được John Medina khái quát trong hai ý tưởng lớn là lớp học nên nhỏ hơn và dạy học
cá nhân hoá, dạy học theo phong cách khác nhau, dạy học phân hoá
+ Lớp học nên nhỏ hơn: Các lớp quy mô nhỏ hơn giúp mang lại thành tích tốthơn, do GV có thể theo dõi khả năng tiếp thu của HS dàng hơn Bên cạnh đó, nếu
GV có thể tiếp cận gần với khả năng tư duy của HS sẽ giúp GV nắm bắt mức độ hiểubiết của HS Do GV chỉ có thể theo dõi được số lượng HS nhất định nên phải có giớihạn về số lượng HS trong một thời điểm GV quan sát, xem mỗi HS đang ở đâu trongcác mức độ hiểu biết về nội dung bài học kịp thời nhận biết các lỗ hổng kiến thức mà
HS đã bỏ rơi hoặc tụt lùi phía sau
+ Dạy học cá nhân hoá: Để kết nối với từng bộ não của từng cá nhân HS, sẽ rấtkhó cho GV trong một lớp học rất đông HS nhưng bị giới hạn về thời gian Do đó đểcó thể cá nhân hóa hoạt động học của HS GV cần đến sự hỗ trợ của phương tiệncông nghệ thông tin trong dạy học như các phần mềm máy tính
1.3.2.4 Quy luật 4: Chúng ta không chú ý đến những điều nhàm chán
– Mô tả quy luật: Trong quy luật này, John Medina đặc biệt quan tâm đến sự
chú ý “Những thông điệp thu hút sự chú ý của bạn được kết nối với trí nhớ, mốiquan tâm và nhận thức” (John Medina, 2018, tr.124) Khẳng định này của ông là một
cơ sở vững chắc khi GV muốn phát triển NL cho HS, hay nói cách khác là phát triểnkhả năng nhận thức khoa học của HS thì GV cần tập trung vào việc làm thế nào đểthu hút sự chú ý của HS với nội dung bài học hơn là tập trung nhiều vào kiến thứcbài học Bởi vì “bộ não càng chú ý tới tác nhân kích thích nào đó thì thông tin được
mã hoá càng chi tiết hơn” (John Medina, 2018, tr.122) HS hoạt động xử lí thông tinnhiều hơn do đó thông tin được lưu trữ lâu dài hơn và HS ghi nhớ lâu hơn Để giúp
Trang 28GV áp dụng quy luật này, John Medina giới thiệu mô hình thiết kế tiết học với nhữngphân đoạn chỉ kéo dài đúng 10 phút/1 phân đoạn Ông đưa ra ý tưởng về các “lưỡicâu” kết hợp phân đoạn 10 phút và ý nghĩa trước chi tiết và vai trò của cảm xúc đốivới sự chú ý
– Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Lưỡi câu kích thích cảm xúc và những phân
đoạn 10 phút
Người dạy chỉ có 10 phút (600 giây) tương tác với HS, được HS lắng nghe; sauthời điểm này, sự tập trung của HS sẽ giảm đi nhanh chóng và những hoạt động tiếptheo sẽ kém hiệu quả nếu ở giây thứ 601 không có sự thay đổi Thời điểm này cần cómột sự kích thích để HS vượt qua rào cản 10 phút và tiếp tục với những 10 phút tiếptheo Medina đã đưa ra ý tưởng vận dụng bằng cách sử dụng “những chiếc lưỡi câu”với dụng ý sau:
+ Lưỡi câu phải kích hoạt được cảm xúc như nỗi sợ hãi, niềm vui, sự ngờ vực,
sự tò mò… Những sự kiện trong lưỡi câu nếu tràn đầy cảm xúc thì sẽ có khuynhhướng dễ ghi nhớ hơn các sự kiện trung lập bởi vì những sự kiện này sẽ tồn tại lâuhơn trong kí ức chúng ta và có thể nhớ lại một cách chính xác
+ Lưỡi câu phải thích hợp chứ không chỉ là những câu chuyện hay sự kiện đơnthuần Nghĩa là nó phải phù hợp với nội dung trước đó để tâm trí của người học đangnghĩ về kiến thức trong khi họ vẫn thư giãn
+ Lưỡi câu phải nằm giữa 2 phân đoạn Đặt ở cuối 10 phút để để xem lại, tómtắt, nhắc lại nội dung bài giảng; đặt ở đầu mỗi 10 phút nhằm giới thiệu kiến thức mớihoặc nội dung mong đợi…
Ý tưởng thứ hai có thể vận dụng trong dạy học là GV nên quan tâm đến ý nghĩatrước chi tiết “Bộ não xử lí ý nghĩa trước chi tiết” ”(John Medina, 2018, tr.150),chính vì thế cần cung cấp cho bộ não những ý chính, khái niệm cốt lõi từ ban đầu.Bên cạnh đó, bộ não cũng thích tính hệ thống, thứ bậc, cho nên bắt đầu với nhữngkhái niệm khái quát sẽ tự nhiên dẫn đến việc lí giải thông tin một cách có hệ thống
Do đó ý tưởng là GV cung cấp dàn ý của bài giảng ngay đầu tiết học, nhắc lại nhiềulần về vị trí của các nội dung nằm rải rác trong tiết học để ngăn cản sự mất phươnghướng và lấy lại sự tập trung của người học
Trang 291.3.2.5 Quy luật 5: Nhắc lại để nhớ
– Mô tả quy luật: “Não của chúng ta không được hình thành đầy đủ từ khi mới
sinh ra … mà những gì chúng ta hiểu biết về thế giới là do chúng ta hoặc trực tiếptrải nghiệm, hoặc học hỏi qua người khác… ảnh hưởng rộng lớn của trí nhớ đối vớinão chúng ta chính là điều thật sự khiến chúng ta có thể nhận thức” (John Medina,
2018, tr.161) Điều này cho thấy trong học tập, để tác động tích cực vào nhận thứccủa người học cần cải thiện khả năng ghi nhớ Việc học tập là quá trình chúng ta ghinhớ bằng cách làm cho bộ não hình thành các kết nối thần kinh mới và tạo ra các mốiliên kết giữa kiến thức mới và kiến thức cũ Nhưng nếu chúng ta không củng cố cáckết nối đó thì chúng sẽ bị mất Và sự mất mát này xảy ra nhanh chóng Nó đượcchứng minh rằng 90% những gì mọi người học trong môi trường lớp học bị lãngquên trong vòng 30 ngày – và phần lớn việc quên đó diễn ra trong hai giờ đầu tiênsau giờ học Nhưng có một số điều sẽ giúp tăng cường kết nối thần kinh và cho phépthông tin mới được gắn kết Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng suy nghĩ hoặc nói vềmột sự kiện ngay lập tức sau khi nó đã xảy ra sẽ tăng cường trí nhớ cho sự kiện đó
Do đó, trong học tập, HS sẽ giữ lại kiến thức vừa tiếp xúc nếu được cung cấp nhiều
cơ hội để xử lí thông tin sau đó mã hoá những gì chúng vừa học vừa nghe, hoặc suynghĩ để lưu trữ trong bộ não Quá trình ghi nhớ sẽ tối ưu khi não bộ được tác độngvào các yếu tố sau: (1) Mã hoá thông tin kĩ lưỡng tại thời điểm học hỏi thì trí nhớcàng bền vững hơn: Điều này cho thấy rằng trong khi học tập, GV cần chú ý tới hoạtđộng phân tích và làm rõ thông tin, tạo điều kiện để HS hoạt động trí não xử lí thôngtin vừa ghi nhận bằng nhiều hình thức khác nhau, có thể tái hiện thông tin bằng lời,bằng chữ viết, hình ảnh hoặc đặt ra các câu hỏi (2) Dấu vết trí nhớ dường như đượclưu trữ cùng nơi não nhận và xử lí thông tin đầu tiên Chúng ta thường nghĩ rằng kí
ức sẽ được lưu trữ tập trung tại một nơi nào đó trên vỏ não để khi muốn tái hiệnchúng chỉ cần “truy cập” vào đúng vùng này nhưng không, kí ức chúng ta sẽ nằm rảirác và việc miêu tả kí ức cần sự hợp tác từ những vùng não khác nhau
Từ yếu tố trên để có thể tái hiện một cách nhanh chóng và chính xác chúng tacần tái tạo lại những điều kiện xung quanh sự mã hoá ban đầu, hay nói cách khác làtìm đúng vùng đã lưu trữ thông tin đầu tiên
Trang 30– Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Các ví dụ thực tế, lời giới thiệu hấp dẫn và
môi trường quen thuộc
+ Các ví dụ thực tế: Người học càng tập trung vào ý nghĩa của thông tin đượcgiới thiệu thì tiến trình mã hoá diễn ra càng kĩ lưỡng Nó có nghĩa là khi HS muốnđưa một thông tin nào đó vào hệ thống trí nhớ, họ cần phải đảm bảo hiểu chính xác ýnghĩa của thông tin đó Để hỗ trợ cho quá trình này, các ví dụ thực tế đem lại nhiềuhiệu quả vì chúng phát huy tối đa sự ưa thích so mẫu tự nhiên của não Thông tin dễđược xử lí hơn nếu nó được liên kết tức thì với thông tin đang tồn tại sẵn trong nãongười học Người học so sánh hai thông tin đầu vào, tìm sự giống nhau và khác nhaungay khi họ mã hoá thông tin mới Điều này có thể thực hiện bằng cách liên hệ kiếnthức bài học với những TH thực tế và các ví dụ trong thực tiễn
+ Lời giới thiệu hấp dẫn: Những lời giới thiệu đầu tiên, hấp dẫn có ý nghĩaquyết định đối với chất lượng giờ học bởi kí ức của một sự kiện được lưu giữ trongcùng nơi ban đầu đã được huy động để lĩnh hội sự kiện học hỏi Não càng huy độngnhiều cấu trúc phức tạp càng tạo ra nhiều căn cứ trong thời điểm học hỏi việc truycập thông tin càng dễ dàng hơn
+ Môi trường quen thuộc: Người học cải thiện cơ hội ghi nhớ thông tin nếu môitrường mà họ đã cập nhật thông tin đó lúc đầu được tái tạo Trong giáo dục, môitrường nhớ lại cần được tái lập để hỗ trợ môi trường mã hoá để cải thiện việc lĩnh hộikiến thức
1.3.2.6 Quy luật 6: Nhớ để nhắc lại
– Mô tả quy luật: Cách thức để trí nhớ dài hạn trở nên bền vững hơn là dần dần
hợp nhất thông tin mới và nhắc lại nó trong những khoảng thời gian nhất định bằngcách củng cố chúng “Một khi trí nhớ đã được định hình, nó không bao giờ quay lạitrạng thái mỏng manh ban đầu nữa” (John Medina, 2018, tr.201) và “Kí ức có thểkhông cố định vào thời điểm học tập, nhưng việc nhắc lại từng ít một trong nhữngkhoảng nghỉ cụ thể thì có thể giúp cố định kí ức” (John Medina, 2018, tr.208) Nhưvậy quá trình nhắc lại kiến thức vừa tiếp thu có thể diễn ra ngay sau một nội dungnhỏ trong tiết học bằng một hoạt động nhắc lại kiến thức hoặc một bài tập vận dụngkiến thức, hay GV có thể tổ chức hoạt động củng cố ở cuối tiết học Trong suốt thờigian diễn ra hoạt động củng cố, thông tin sẽ được trình bày một cách cô đọng HS sẽ
Trang 31có cơ hội kiểm tra lại việc ghi chép của họ trong những lần tiếp xúc đầu tiên vớithông tin đó, so sánh chúng với những điều GV nói tới trong bài tập Điều này khiếnviệc thu nhận thông tin sẽ chi tiết và tỉ mỉ hơn Nối tiếp quá trình củng cố này là cáctiết ôn tập luyện tập sau khoảng một tuần, và xa hơn là các bài kiểm tra định kì nhưkiểm tra sau một chương hoặc một học kì.
– Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Tạo các hoạt động ôn tập, củng cố và giải
quyết các bài tập trong bài kiểm tra là cách nhớ để nhắc lại tốt nhất Ngoài ra, một số
kĩ thuật dạy học GV có thể dùng với mục đích yêu cầu HS tái hiện lại quá trình hoạtđộng và tiếp thu kiến thức trước đó như: kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật sử dụng tròchơi, kĩ thuật SĐTD, kĩ thuật sử dụng bảng biểu, sơ đồ, kĩ thuật sử dụng bài tập dùngtrong hoạt động củng cố sau mỗi bài học và các bài kiểm tra
1.3.2.7 Quy luật 9: Kích thích nhiều giác quan
– Mô tả quy luật: Có một vòng tuần hoàn ngắn giữa quá trình xử lí các thông
tin mà các giác quan khác nhau thu nhận được với việc khơi gợi niềm hứng thú tìmhiểu của bộ não cảm nhận về thế giới khoa học Điều này ảnh hưởng đến việc học tập
là kích thích thêm nhiều giác quan ở cùng một thời điểm Các giác quan có thể đượckết hợp theo 3 bước sau:
Bước 1: Cảm nhận: Đây là bước chuyển đổi các thông tin bên ngoài mà chúng
ta ghi nhận bằng các giác quan thành một “ngôn ngữ” của bộ não
Bước 2: Truyền thông tin: Các thông tin đã được chuyển đổi thành công sẽđược gửi đến não để xử lí Tất cả các tín hiệu thu nhận được từ việc nhìn, nghe, nếm,ngửi và va chạm đều được xử lí độc lập ở “não thú” (xem lại quy luật 2)
Bước 3: Nhận thức: Đây chính là bước quan trọng nhất khi các giác quan bắtđầu kết hợp thông tin với nhau để hoàn thiện thông tin ban đầu theo một logic nhấtđịnh, đó là quá trình nhận thức và tư duy của con người
Chúng ta học tốt hơn khi kích thích nhiều giác quan cùng một lúc Càng sửdụng nhiều giác quan trong học tập, bộ não càng có khả năng nắm giữ nhiều thôngtin quan trọng Học tập đa giác quan được thừa nhận là cải thiện đáng kể chất lượnghọc tập Chúng tăng tốc các phản ứng, tăng cường độ chính xác, cải thiện phát hiệnkích thích và làm giàu khả năng mã hoá trong thời điểm học tập
Trang 32– Ý tưởng vận dụng trong dạy học:
+ Các tiết học đa giác quan: Chúng ta cần giới thiệu thông tin trong một trảinghiệm đa giác quan và sau đó nhắc lại không chỉ thông tin đó mà còn là các kiểu trìnhbày Có thể là, mở đầu được trình bày bằng thị giác, tiếp đó là thính giác, thứ ba là diễnđạt lại bằng lời nói kết hợp với ngôn ngữ cơ thể
+ Dạy học đa phương tiện: GV nên sử dụng đa dạng các phương tiện dạy họchơn là chỉ dạy học bằng phấn trắng bảng đen và lời nói Các phương tiện dạy học khi sửdụng GV nên lưu ý đến 5 nguyên tắc sau (John Medina, 2018, tr.98):
Nguyên tắc đa phương tiện: Người học học tập qua từ ngữ và hình ảnh tốt hơn
Nguyên tắc gắn kết: Người học học tập tốt hơn khi các thông tin ngoài lề khôngđược đề cập đến
Nguyên tắc phương thức: Người học học từ hình động có lời dẫn dắt tốt hơn là hình ảnh động với văn bản trên màn hình
1.3.2.8 Quy luật 10: Thị giác là quân bài chủ trong tất cả các giác quan
– Mô tả quy luật: “Cho đến nay, thị giác chiếm vị trí thống trị trong hầu hết mọi
giác quan của chúng ta, nắm giữ một nửa tiềm lực của não” (John Medina, 2018,tr.379) Chúng ta học tập và ghi nhớ tốt nhất thông qua hình ảnh chứ không phảithông qua ngôn ngữ viết và nói Sử dụng hình ảnh trong giảng dạy là phương pháptối ưu; “Bài đọc và trình bày bằng lời nói không chỉ kém hiệu quả hơn trình bày bằngtranh ảnh để ghi nhớ một loại thông tin nào đó; chúng là phương pháp kém hiệuquả”(John Medina, 2018, tr.368) Ông còn đưa ra thêm số liệu chứng minh lập luậnnày: “Nếu thông tin được trình bày bằng lời nói, thì 72 giờ sau khi trình bày, conngười chỉ ghi nhớ được khoảng 10% Con số đó lên tới 65% nếu bạn thêm vào mộtbức tranh” (John Medina, 2018, tr.368)
– Ý tưởng vận dụng trong dạy học:
Trang 33+ GV nên sử dụng các phương tiện trực quan Các bức tranh không chỉ cungcấp thông tin mà còn bởi màu sắc, kích thước, sự định hướng Phương pháp sử dụnghoạt hình, video mô phỏng, video hay clip thí nghiệm là những hình ảnh động, sự vậnđộng trong hoạt hình là ưu điểm giúp tạo nên sự khác biệt với các hình ảnh đơn thuầnkhác Sử dụng phần mềm hoạt hình đơn giản hoặc các trang web trực tuyến để giúp HStạo ra những ý tưởng về những điều họ đang học hoặc chia sẻ cho nhau bằng những bàihọc hoạt hình, việc học sẽ cải thiện Tuy nhiên nếu GV kết hợp được cả 2 hình thứctrên thì thật tuyệt vời, một thí nghiệm hoá học nhưng chứa đựng câu chuyện vui vẻ líthú như một bộ phim hoạt hình.
+ Hãy trình bày bằng PowerPoint: Việc trình bày thông tin với sự hỗ trợ củaPowerPoint sẽ có thể chứa đựng cả hình ảnh tĩnh và hình ảnh động (phim hoạt hình,video, hình ảnh động, các hiệu ứng) dường như là phương tiện tối ưu nhất để GV vậndụng tốt quy luật 9 và 10 Biết được bộ não phụ thuộc nhiều vào đầu vào bằng hình ảnhnhư thế nào, người GV nên cố gắng tìm ra nhiều biện pháp tốt để kích thích thị giáchiệu quả trong suốt quá trình giảng dạy
1.3.2.9 Quy luật 12: Chúng ta luôn là những nhà thám hiểm mạnh mẽ và tự nhiên
– Mô tả quy luật: Quy tắc cuối cùng của Medina là quy tắc lớn nhất, quan trọng
nhất và cũng liên quan mật thiết đến quá trình học tập và nhận thức về thế giới.Chúng ta học nhờ sự chủ động khám phá, mong muốn tìm hiểu thế giới như nhữngđứa trẻ Điều này bắt đầu từ lúc sinh ra và không bao giờ kết thúc dù chúng ta có lớnlên Medina nói: “Tôi tin chắc rằng nếu trẻ em được phép tò mò, chúng sẽ tiếp tụctriển khai xu hướng tự nhiên của chúng để khám phá và khám phá cho đến khi chúng
là 101 tuổi” (John Medina, 2018, tr.129) Xu hướng học tập của một đứa trẻ đó là sựtò mò Trẻ em xem khám phá sự mới mẻ là niềm vui Medina so sánh sự khám phánhư một thứ loại đô–ping khiến trẻ nhỏ mong muốn được phát hiện nhiều hơn đểđược vui hơn Học tập không chỉ mang lại niềm vui mà còn mang đến khả năng làmchủ, nuôi dưỡng sự tự tin biết chấp nhận những khó khăn thách thức và tìm cáchvượt qua nhằm phát triển trí tuệ Đó là những biểu hiện của tính tò mò Do vậy tò mòrất quan trọng Medina đưa ra lời khuyên cho các nhà giáo dục: “Tôi nghĩ chúng ta
Trang 34nên làm tốt việc kích thích tính tò mò suốt đời, tại nơi làm việc và đặc biệt là trong các trường học của chúng ta.” (John Medina, 2018, tr.432)
– Ý tưởng vận dụng trong dạy học: Sự tò mò không chỉ tồn tại ở trẻ nhỏ mà nó
nằm trong mỗi con người ở bất kì độ tuổi nào Người GV chỉ cần tìm cách để khaithác “ham muốn” bẩm sinh này để người học chủ động khám phá thế giới xungquanh Ngoài ra, Medina đưa ra gợi ý tạo môi trường thực tế cho quá trình học tậpcủa HS bằng cách đặt HS vào những TH của những người làm việc trong thực tế,những khó khăn gặp phải trong thực tế Ông sử dụng ví dụ về giáo dục y khoa, dựatrên ý tưởng rằng mọi người học cách trở thành bác sĩ bằng cách giả vờ là bác sĩ hay
là bác sĩ học nghề, bằng cách “sống” trong môi trường thực tế của bệnh viện hoặcđưa ra trường hợp thực tế đầy thử thách để nghiên cứu
1.4 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học Hoá học THPT
1.4.1 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
HS chủ động, tích cực suy nghĩ để GQVĐ
+ Cơ sở tâm lí học: Các nhà tâm lí học cho rằng con người chỉ tư duy tích cựckhi nảy sinh nhu cầu tư duy trước VĐ cần giải quyết để đạt được kết quả tốt nhất.Rubinstein đã nói: “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện TH có VĐ” PPDH nêu và GQVĐdựa trên cơ sở tâm lí học của HS mà đặt ra cho HS những trở ngại khó khăn nhằm tạo
ra nhu cầu khám phá, tích cực hoạt động trên mức độ NL hiện có của HS để vượt quatrở ngại này HS có thể suy nghĩ độc lập hoặc dưới sự dẫn dắt của GV để đạt được kếtquả mong muốn là những tri thức mới, sự phát triện về mặt nhận thức và phương thứchành động
Trang 35+ Cơ sở thuyết nhận thức: Quá trình nhận thức là một quá trình xử lí thông tin.Bộ não xử lí các thông tin tương tự như một hệ thống kĩ thuật Quá trình nhận thức làquá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi Chúng ta tiếp thu cácthông tin bên ngoài, xử lí, đánh giá, từ đó quyết định các hành vi ứng xử ngược trở lạivới thông tin đã tiếp thu Trung tâm của lí thuyết nhận thức là các hoạt động trí tuệ baogồm xác định, phân tích, hệ thống hoá các sự kiện kiện tượng, nhớ lại kiến thức đã học
và giải quyết các VĐ, phát triển hình thành các ý tưởng mới Đây là cơ sở lí luận quantrọng để vận dụng các quy luật trí não nhằm phát triển NLGQVĐ
&ST cho HS PPDH nêu và GQVĐ dựa trên cơ sở về quan điểm dạy học nhận thức.Quá trình GQVĐ của HS là quá trình xử lí thông tin của bộ não
Trong DH, bằng nghiệp vụ sư phạm của mình, GV cần chuyển các VĐ học tậptrở thành những nội dung có vấn đề để gây ra những biến đổi tâm lí trong suy nghĩ,nhận thức của HS Khi HS tiếp cận với các nội dung có VĐ sẽ có nhu cầu khám phá,nghiên cứu, có thể chưa giải quyết được ngay nhưng bằng cách huy động vốn kiếnthức KN đã đó để tích cực suy nghĩ và hi vọng giải quyết được VĐ đó Đây chính là
cơ sở phù hợp với quy luật 2 và quy luật 12, GV cần tạo ra các TH có VĐ kích thíchtình tò mò khám phá của HS bằng cách lồng ghép các chi tiếp kích thích cả 3 cấutrúc của bộ não là tác động vào cảm xúc (não thú), nhu cầu mong muốn giải quyết(não thằn lằn) và các ý tưởng ST (não người)
1.4.1.2 Hình thức và mức độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Dựa theo mức độ và sự tham gia của GV và HS trong quá trình dạy học nêu vàGQVĐ có thể phân chia quá trình dạy học nêu và GQVĐ thành bốn hình thức nhưsau:
+ Thứ nhất: GV nêu VĐ và trình bày cách giải quyết còn HS thì chú ý vào hoạt
động làm mẫu của GV Đây là mức độ mà tính độc lập HS thấp hơn hết so với cácmức độ bên dưới Hình thức này có thể được sử dụng với những nội dung quá mới
mẻ hoặc khó khai thác kinh nghiệm vốn có của HS
vào sự hướng dẫn, gợi ý của GV Hình thức này được sử dụng nhiều đối với những bàinghiên cứu kiến thức mới, phù hợp với mọi đối tượng HS tuỳ thuộc vào mức độ câu hỏigợi ý của GV
Trang 36lực huy động kiến thức, đề xuất các giải pháp giải quyết VĐ, thực hiện và đánh giá giảipháp Hình thức này chỉ phù hợp với những HS khá giỏi, đã có kinh nghiệm tự lựcGQVĐ và có mong muốn tự khám phá những VĐ trong học tập và cuộc sống
+ Thứ tư: HS tự nêu VĐ và độc lập GQVĐ, HS là người đặt ra câu hỏi và tự trả
lời các câu hỏi để GQVĐ, vai trò của GV chỉ là người điều chỉnh và định hướng mụctiêu cần đạt được Đây là hình thức dạy học mà tính độc lập của HS được phát huy caonhất và NLGQVĐ&ST của HS được phát triển đạt mức độ tối ưu nhất (Dự án
+ Giải thích và làm rõ các thông tin trong TH trên
+ Phát biểu VĐ và đặt ra mục tiêu giải quyết VĐ (phát biểu lại VĐ dưới dạng câu hỏi, xác định rõ mục tiêu cần giải quyết)
Bước 2: Tìm kiếm giải pháp
+ Phân tích VĐ, tức là làm rõ mối liên hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm, giữa cái đã cho và những kiến thức đã học
+ Đề xuất hướng giải quyết VĐ, có một hoặc nhiều hướng giải quyết khác nhau
+ Hình thành được một giải pháp Nếu có nhiều giải pháp khác thì cần so sánh xem giải pháp nào là hợp lí nhất
Bước 3: Trình bày và đánh giá giải pháp theo hướng đã chọn, việc thực hiện
hướng giải quyết VĐ có thể được thực hiện nhiều lần đến khi tìm được hướng đi hợplí
Bước 4: Kết luận và vận dụng
+ Rút ra kiến thức mới hoặc những khả năng vận dụng kiến thức mới
+ Đề xuất VĐ mới có liên quan
Trang 371.4.2 Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ
Là PP đặt HS vào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận ) theo các nhóm
HS có thể theo cặp (2HS) hoặc theo nhóm nhỏ (từ 4 đến 5HS) Một trong những lí dochính để sử dụng PP này là nhằm khuyến khích HS trao đổi và biết cách làm việchợp tác với người khác (vì vậy còn gọi là PP DH hợp tác theo nhóm hay thảo luậnnhóm)
Mục tiêu của DH hợp tác theo nhóm nhỏ không chỉ phát huy tính tích cực, tựgiác, khả năng chủ động sáng tạo trong hoạt động nhận thức của HS mà còn tạo điềukiện để mọi người cùng tham gia, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, chuẩn bịcho hình thức lao động phân công hợp tác trong cộng đồng, qua cách học này nhiều
kĩ năng xã hội cũng được hình thành và phát triển
Để đạt được hiệu quả tối ưu, trình tự của một tiết học DH hợp tác theo nhómnhỏ có thể tiến hành như sau:
+ Làm việc chung cả lớp: Nêu VĐ, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ; hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
+ Làm việc theo nhóm: Phân công trong nhóm; cá nhân làm việc độc lập rồitrao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm; cử đại diện trình bày kết quả làm việc theonhóm
+ Tổng kết trước lớp: Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, thảo luận chung; GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc VĐ tiếp theo trong bài
1.4.3 Các kĩ thuật dạy học tích cực
1.4.3.1 Kĩ thuật công não
– Khái niệm: Công não (động não, huy động ý tưởng) là một kĩ thuật nhằm huyđộng những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong nhóm.Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng
Kỹ thuật công não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển từ những năm 1950, dựa trên kĩthuật Ấn độ Prai–Barshana
– Bốn quy tắc của công não (Dự án Việt Bỉ, 2010): Không đánh giá, phê phánquá trình thu thập ý tưởng của các thành viên; Liên hệ với những ý tưởng đã đượctrình bày; Khuyến khích số lượng các ý tưởng; Cho phép sự tưởng tượng và liêntưởng
Trang 38– Các bước tiến hành:
+ GV nêu chủ đề và xác định rõ VĐ cần huy động ý tưởng
+ HS lần lượt đưa ra ý kiến của mình bằng cách: phát biểu hoặc ghi giấy (yêu cầu tất cả HS đều tham gia, HS nêu sau không nên nêu lại ý kiến của HS trước)
+ Đánh giá, lựa chọn các ý kiến phù hợp hoặc phân nhóm các ý tưởng
được Vận dụng trong quá trình GQVĐ:
+ Kĩ thuật này có thể được sử dụng để giới thiệu mục tiêu bài học nhằm giúp
HS xác định trình độ kiến thức, kĩ năng đã có liên quan đến việc học bài mới vàkhoảng trống (lỗ hổng) kiến thức cần phải đạt trong quá trình học tập GV sử dụng kĩthuật này để xác định các VĐ trọng tâm cốt lõi trong bài học bằng các câu hỏi hoặccác thông tin HS muốn biết ở cột W, giúp HS tập trung vào các kiến thức quan trọngcần lĩnh hội
+ Qua việc nhìn lại những gì đã học được sau bài học, HS nhận thức được sựtiến bộ trong quá trình học, phân tích những thông tin nào mới được biết sau khinghiên cứu Quá trình HS ghi nhận các kiến thức đã học vào cột L giúp HS tái hiệnlại quá trình đã GQVĐ đế rút ra kiến thức, khái quát kiến thức đã học được hoặc trảlời những câu hỏi (VĐ trọng tâm) nêu ở cột W
+ Giúp HS nắm bắt thông tin, biết cách tự học thông qua việc đánh giá những
gì đã có, xác định mục tiêu học tập cá nhân cũng như nhìn lại quá trình học tập.+ Nếu kĩ thuật này được tiến hành theo nhóm cũng giúp nâng cao mối quan hệ giao tiếp, cộng tác giữa HS trong nhóm HS học cách chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau
Trang 39– Cách tiến hành: GV sử dụng bảng KWL với nội dung gồm 3 cột như sau:
Những điều đã biết Những điều muốn biết Những điều đã học được
Trước khi học tập, GV yêu cầu HS viết vào cột K những gì mà họ cho là đã biết
về nội dung bài học hoặc chủ đề Sau đó động viên, khuyến khích HS ghi vào cột Wnhững gì mà các em thắc mắc từ những kiến thức của cột K mà em chưa giải thíchđược, hoặc những kiến thức mà em cho là cần phải biết, phải học để có thể đạt được
mục tiêu bài học Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, HS điền vào cột L của phiếu
những gì vừa học được Lúc này, HS xác nhận sự chính xác về những điều các em đãviết ở cột W và so sánh với những điều các em vừa học được về bài học Để đảm bảohiệu quả của hoạt động GV có thể tổ chức cho HS chia sẻ ý kiến với nhau
1.4.3.3 Mảnh ghép
– Khái niệm: là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp giữa cá nhân, nhóm
và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sựtham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác.– Cách tiến hành:
+ Vòng 1: Nhóm chuyên gia: Lớp học được chia thành các nhóm (khoảng từ 3– 6 HS) Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khác nhau.Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề vàghi lại những ý kiến của mình Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viêntrong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trởthành chuyên gia của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời củanhóm ở vòng 2
+ Vòng 2: Nhóm mảnh ghép: Hình thành nhóm mới gồm một số thành viên ởnhóm chuyên gia, tuy nhiên tất cả các nhóm chuyên gia đều phải có thành viên trongmỗi nhóm mới gọi là nhóm mảnh ghép
Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia
sẻ đầy đủ với nhau, lần lượt trình bày lại kết quả đã nghiên cứu cở nhóm chuyên gia
Trang 40Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu, được tất cả nội dung ở vòng 1 thìnhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới nàyphải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1) Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụtrình bày và chia sẻ kết quả
– Vận dụng trong quá trình GQVĐ:
+ Đối với những VĐ cần nghiên cứu có nhiều nội dung nhỏ, mỗi nội dung nhỏ rời rạc và không có sự liên kết chặt chẽ nhất định thì GV có thể chọn kĩ thuật này.+ Mỗi nhóm chuyên gia nghiên cứu một VĐ riêng biệt: HS hoạt động cá nhânnghiên cứu VĐ, độc lập đề xuất ý tưởng sau đó thảo luận với nhóm để thống nhấthướng GQVĐ và rút ra kết luận về VĐ nghiên cứu
+ Khi hoạt động ở nhóm mảnh ghép, mỗi HS trong nhóm chuyên gia có cơ hộitái hiện lại quá trình GQVĐ và trình bày lại VĐ đã nghiên cứu theo cách hiểu biết củabản thân Khi cả nhóm đã nắm vững các phần kiến thức khác nhau, các HS sẽ hợp tácđể cùng vận dụng chúng giải quyết một VĐ mới một cách hiệu quả và ST
1.4.3.4 Sơ đồ tư duy
– Khái niệm: Kĩ thuật sơ đồ tư duy (bản đồ tư duy) (SĐTD) là một cách ghi
chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kếtnối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quátđược các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng
Bước 4: Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm, nội dung, VĐ liênquan luôn được kết nối với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một bức tranh tổngthể mô tả về khái niệm, nội dung, chủ đề trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.– Vận dụng trong quá trình GQVĐ