Ngày 02012016, bà Nguyễn Thị Hảo (sinh năm 1978) nộp đơn khởi kiện chồng là ông Nguyễn Văn Nguyệt (sinh năm 1976) tại TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề quan hệ hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ
KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
Mã số hồ sơ: LS.DS 07/B3.TH2_DA1/HNGĐ
Diễn án lần: 01_Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản Ngày diễn án:
Giảng viên hướng dẫn:
Họ và tên :
Ngày sinh :
Vai diễn :
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
MỤC LỤC
PHẦN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 1
1 Tóm tắt nội dung tranh chấp 1
2 Người tham gia tố tụng trong phiên tòa sơ thẩm 3
3 Quan hệ pháp luật tranh chấp 3
4 Thời hiệu khởi kiện 3
5 Thẩm quyền của Tòa án 4
PHẦN II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA NGUYÊN ĐƠN 4
1 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 4
2 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 4
PHẦN III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM 4
1 Hỏi bị đơn – ông Nguyễn Văn Nguyệt 4
2 Hỏi nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hảo 5
3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Thoa 6
PHẦN IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGUYÊN ĐƠN 6
PHẦN V NHẬN XÉT VỀ VIỆC ĐÓNG VAI TẠI PHIÊN DIỄN ÁN 11
Trang 3PHẦN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Tóm tắt nội dung tranh chấp
Ngày 02/01/2016, bà Nguyễn Thị Hảo (sinh năm 1978) nộp đơn khởi kiện chồng là ông Nguyễn Văn Nguyệt (sinh năm 1976) tại TAND thành phố
Hải Dương, tỉnh Hải Dương, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề quan hệ hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung, nội dung vụ việc như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hảo và ông Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 quyển số 01/1999 ngày 26/3/1999 Sau khi kết hôn cả hai chung sống hạnh phúc, sau hơn 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng ly thân từ cuối năm 2014 Nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, các bên đã nhiều lần không thể hàn gắn, xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà Hảo yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt
Đối với yêu cầu này, ông Nguyện đồng ý ly hôn với bà Hảo, thống nhất với lời trình bày của bà Hảo về điều kiện kết hôn, quá trình chung sống của vợ chồng, cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, ly thân từ cuối năm 2014, nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể gàn gắn được nữa
- Về con chung: Bà Hảo và ông Nguyệt có 02 con chung là trẻ Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2000 và trẻ Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007.
Bà Hảo yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
Đối với yêu cầu này, ông Nguyện không đồng ý, ông Nguyệt yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Đức Anh, giao cho bà Hảo trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nhi, cả hai không phải cấp dưỡng nuôi con chung
Ngày 22/01/2016, trẻ Đức Anh có đơn đề nghị với nguyện vọng được ở với mẹ; ngày 25/01/2016, trẻ Đức Anh có đơn đề nghị thay đổi nguyện vọng được ở với cha; tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/7/2016, trẻ Đức Anh có nguyện vọng ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn Trẻ Nhi có nguyện vọng ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn theo Đơn đề nghị ngày 20/01/2016
- Về tài sản chung:
Theo bà Hảo, bà và ông Nguyệt có tài sản chung bao gồm Quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác trên đất tại Thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, tọa lạc tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H497 do UBND huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương) cấp ngày 31/12/2005, đứng tên Nguyễn Thị Hảo và Nguyễn Văn Nguyệt Bà Hảo yêu cầu được chia 1/2 quyền sử dụng đất, xin được nhận phần không có tài sản trên đất và không yêu cầu chia tài sản trên đất
Trang 4Đối với yêu cầu này, ông Nguyện không đồng ý chia đôi quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 496 với bà Hảo vì cho rằng đây không phải tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản của bố mẹ (mẹ là bà Nguyễn Thị Thoa, bố là ông Nguyễn Văn Cang) và các anh em trong gia đình (ông Nguyễn Văn Cương, ông Nguyễn Văn Quyết và ông Nguyễn Văn Chuyển) vì bố mẹ và các anh em của ông đóng góp tiền để mua đất; ông Nguyệt không làm bất cứ thủ tục gì để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là do UBND xã Thượng Đạt thực hiện; ông Nguyệt yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Nam Sách cấp Ông Nguyệt đề nghị chia đôi tài sản trên đất bao gồm: ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 01 giếng khơi, 01 bể gạch xi măng khoảng 1,6m2; ông Nguyệt nhận hiện vật và trả bà Hảo 1/2 giá trị tài sản trên đất
Bà Nguyễn Thị Thoa xác định thửa đất trên là của vợ chồng bà, cho ông
Nguyệt và bà Hảo ở nhờ chứ không cho hẳn, bà không đồng ý chia đất cho bà Hảo, đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyệt và
bà Hảo Ông Nguyễn Văn Cang thống nhất với lời trình bày của bà Thoa.
Ông Nguyễn Văn Cương xác định thửa đất trên là do bà Thoa, ông
Quyết, ông Chuyển và ông Nguyệt đóng góp cùng mua đất, ông Cang và những người khác không có liên quan gì; gia đình thống nhất cho ông Nguyệt và bà Hảo làm nhà ở trên đất, từ khi ông Nguyệt và bà Hảo ở đến nay không ai có tranh chấp gì
Ông Nguyễn Văn Quyết xác định thửa đất trên là do ông Cang, bà Thoa,
ông Chuyển và ông cùng đóng góp mua của UBND xã Thượng Đạt vào năm 1994; gia đình ông đã tặng cho ông Nguyệt, không tặng cho chị Hảo, nay xác định thửa đất là tài sản riêng của ông Nguyệt nên ông không có ý kiến gì
Ông Nguyễn Văn Chuyển xác định Thửa đất số 496 là do ông Cang, bà
Thoa, ông Quyết và ông cùng đóng góp mua của UBND xã Thượng Đạt vào năm 1994; gia đình ông đã tặng cho ông Nguyệt làm tài sản riêng, nay ông không có ý kiến gì, ông Nguyệt có chia cho bà Hảo hay không là quyền của ông Nguyệt
Ngoài ra, bà Hảo và ông Nguyệt có nhận thuê khoán của UBND xã Thượng Đạt với diện tích 1.965m2 đất ruộng ao khoán sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng với thời hạn thuê từ tháng 01/2013 đến hết tháng 12/2016 Bà Hảo đề nghị được tiếp tục nhận thuê khoán với UBND xã Thượng Đạt 1/2 thửa đất để sử dụng vào việc chăn nuôi, trồng trọt; phần của ai người đó
sử dụng, không ai phải trả chênh lệch cho ai Trong quá trình giải quyết vụ án,
bà Hảo và ông Nguyệt đã thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với diện tích đất thuê khoán của UBND xã Thượng Đạt
- Về nợ chung: bà Hảo và ông Nguyệt có nợ chung là khoản vay với
ngân hàng Agribank là 30.000.000 đồng, còn nợ ngân hàng 10.000.000 đồng
Trang 5tiền gốc và tiền lãi phát sinh Ngày 28/06/2016, ông Nguyệt đã tự nguyện thanh toán toàn bộ số tiền vay (cả gốc và lãi) cho ngân hàng, do đó, các bên thống nhất không còn nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nợ chung
Ngày 20/06/2016, bà Hảo và ông Nguyệt gửi TAND thành phố Hải Dương Biên bản thỏa thuận giá trị tài sản thửa đất với diện tích 216m2 và không yêu cầu Tòa án định giá tài sản
Ngày 12/07/2016, TAND thành phố Hải Dương mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tại buổi hòa giải, các bên thống nhất được về việc ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung; không thống nhất được về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chia tài sản chung khi ly hôn, bà Hảo không đồng ý yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Ngày 03/08/2017, TAND thành phố Hải Dương ra quyết định số 73/2017/QĐST-DS quyết định đưa vụ án ra xét xử
2 Người tham gia tố tụng trong phiên tòa sơ thẩm
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo, sinh năm: 1978, địa chỉ: Thôn Nam
Giang, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm: 1976, địa chỉ: Thôn
Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Bà Nguyễn Thị Thoa, sinh năm: 1944, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Ông Nguyễn Văn Cang, sinh năm: 1930, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I,
xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Ông Nguyễn Văn Cương, sinh năm: 1967, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt
I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Ông Nguyễn Văn Quyết, sinh năm: 1969, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I,
xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Ông Nguyễn Văn Chuyển, sinh năm: 1978, địa chỉ: Đội 3, thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
3 Quan hệ pháp luật tranh chấp
Căn cứ khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015 thì đây là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
Trang 64 Thời hiệu khởi kiện
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 155 BLDS năm 2015 thì tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về ly hôn là yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản và tranh chấp chia tài sản khi ly hôn là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện Do đó, có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết mà không bị áp dụng thời hiệu khởi kiện
5 Thẩm quyền của Tòa án
Căn cứ khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015, đây là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015, đây là tranh chấp
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú Như vậy, Tòa án
nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này
PHẦN II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA NGUYÊN ĐƠN
1 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt
- Về con chung: có 02 con chung là trẻ Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2000 và trẻ Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007, nay yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
- Về tài sản chung: có tài sản chung là Quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác trên đất tại Thửa đất số 496, diện tích 216m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H497 do UBND huyện Nam Sách cấp ngày 31/12/2005, đứng tên Hoàng Thị Hảo và Nguyễn Văn Nguyệt, nay yêu cầu được chia 1/2 quyền sử dụng đất và nhận phần không có tài sản trên đất và không yêu cầu chia tài sản trên đất
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
2 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao);
- Giấy khai sinh trẻ Nguyễn Thị Nhi và trẻ Nguyễn Đức Anh (bản sao);
- Đơn đề nghị ngày 20/01/2016 của trẻ Nguyễn Thị Nhi (bản chính);
- Đơn đề nghị ngày 22/01/2016 của trẻ Nguyễn Đức Anh (bản chính);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H497 do UBND huyện Nam Sách cấp ngày 31/12/2005 (bản sao)
Trang 7PHẦN III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
1 Hỏi bị đơn – ông Nguyễn Văn Nguyệt
- Ông Nguyệt cho biết, công việc hiện tại và thu nhập của ông?
- Lúc đi làm vắng nhà thì ai chăm sóc, trông chừng cháu Đức Anh?
- Kể từ khi ly thân đến nay, tại sao ông lại ngăn cản cháu Đức Anh gặp mẹ?
- Theo Biên bản xác minh tại UBND xã Thương Đạt, trước đây ông có hành vi bạo lực với cháu Đức Anh khi cháu gặp bà Hảo, ông giải thích nguyên nhân tại sao?
- Theo Biên bản xác minh tại UBND xã Thượng Đạt, khi thực hiện kê khai, làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông là người tiến hành thực hiện các thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông
có xác nhận không?
- Mặc dù không yêu cầu nhưng khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông và bà Hảo, ông có thắc mắc hay khiếu nại gì với UBND
xã, huyện không? Tại sao ông khai rằng đây là tiền của gia đình ông nhưng khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông và bà Hảo, ông vẫn chấp nhận và sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó đến nay?
- Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông bao gồm mẹ và các anh em, thành viên trong gia đình có ý kiến gì không? Các thành viên trong gia đình ông có ý kiến, thắc mắc hay tranh chấp gì đối với thửa đất này không?
- Khi thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền tại ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn có bàn bạc với bà Hảo không? Tại sao ông lại dùng quyền sử dụng đất nêu trên vay Ngân hàng khi cho rằng diện tích đất nêu trên không phải của gia đình ông?
2 Hỏi nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hảo
- Bà Hảo cho biết tại sao sau một thời gian kết hôn lâu dài, bà lại quyết định ly hôn?
- Kể từ khi ly thân, bà Hảo đã sống cùng với ai? Sống ở đâu?
- Kể từ khi ly thân, bà Hảo có được gặp cháu Đức Anh hay không?
- Hiện tại bà đang làm công việc gì? Ở đâu? Mức thu nhập bao nhiêu?
- Bà có khẳng định cho Hội đồng xét xử biết với mức thu nhập của mình,
bà hoàn toàn có thể chăm lo cho cháu Nhi và cháu Đức Anh không?
Trang 8- Khi mẹ gia đình ông Nguyệt tặng cho đất cho vợ chồng bà, có ai trong gia đình phản đối không?
- Khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyệt có ý kiến gì với chị về việc này không? Có ai biết và không phản đối không? Kể từ khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay, thửa đất trên có phát sinh bất kỳ tranh chấp nào không?
- Bạn nêu cho Hội đồng xét xử được rõ quá trình xây dựng và tạo lập nhà
và tài sản trên đất của hai vợ chồng từ năm 1999 đến nay?
- Việc đã xây nhà và làm các công trình phụ trên đất rồi dọn ra ở từ tháng 8/1999 đến nay, có ai trong gia đình có ý kiến phản đối không?
3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Thoa
- Bà có biết việc ông Nguyệt và bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa đất kia không? Nếu có thì sau khi bà biết, bà có phản đối hay khiếu nại gì không?
- Tại thời điểm bà biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh
và chị Hảo, bà có yêu cầu, hay khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã, huyện hay không?
- Từ năm 1999 đến nay, đối với thửa đất nêu trên, bà có thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế đất hay thực hiện các hoạt động cải tạo, sử dụng không?
PHẦN IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và Luật sư đồng nghiệp,
Tôi là Luật sư Nguyễn Văn A, đến từ Văn phòng luật sư X, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Ngày hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hảo
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các chứng cứ có mà các bên cung cấp theo đúng quy định của pháp luật, qua phiên xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm pháp lý như sau:
1 Về yêu cầu ly hôn:
Căn cứ theo các Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của bà Hảo (BL số 20,
22, 61, 108), các Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của ông Nguyệt (BL số 18, 24), và Biên bản hòa giải ngày 19/5/2016 (BL số 115), Biên bản hòa giải ngày 17/6/2016 (BL số 138), Biên bản hòa giải ngày 12/7/2016 (BL số 175) thì lời
khai của bà Hảo và ông Nguyệt là phù hợp nhau, phù hợp với tài liệu xác minh tại địa phương theo Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 tại UBND xã Thượng
Đạt (BL số 73) thể hiện: bà Hảo và ông Nguyệt tự nguyện kết hôn tại UBND xã
Trang 9Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận kết
hôn số 09 quyển số 01/1999 ngày 26/3/1999 (BL số 02) nên là hôn nhân hợp
pháp; trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã ly thân từ năm 2014, bà Hảo nhiều lần phải bỏ về nhà mẹ đẻ,
cả hai xác định không còn tình cảm vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, không thể hàn gắn được nữa, nay cả hai đều chấp thuận ly hôn
Nhận thấy, bà Hảo và ông Nguyệt đã sống ly thân thời gian dài, tình trạng hôn nhân thực sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; do đó, yêu cầu ly hôn của bà Hảo là có căn
cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Hảo được ly hôn ông Nguyệt
2 Về yêu cầu nuôi con chung:
Trong quá trình chung sống, bà Hảo và ông Nguyệt có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007), cả 02 đều chưa đủ 18 tuổi Hiện cháu Nhi hiện đang ở cùng với bà Hảo và cháu Đức Anh đang ở với ông Nguyệt Bà Hảo có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chưa thành niên và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án
quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi
mặt của con” Tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp thuận yêu cầu
được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung của Nguyên đơn để bảo đảm quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho 02 cháu, bởi các lý do như sau:
Xét thấy, bà Hảo hiện đang làm công nhân tại Công ty Trấn An thu nhập
bình quân khoảng 6.000.000 đồng/tháng (BL số 116), đây là mức thu nhập ổn
định, bà Hảo có thể cung cấp bảng lương cho Tòa án chứng minh thu nhập ổn định của mình, với mức lương 6 triệu ở thời điểm hiện tại, có thể lo cho cháu Nhi và cháu Đức Anh ăn học và chi trả các khoản phí sinh hoạt hằng ngày của cháu Ngược lại, ông Nguyệt làm nông nghiệp và chăn nuôi theo lời khai của
ông tại Biên bản hòa giải ngày 19/5/2017 (BL số 117), thu nhập không ổn định,
chủ yếu là làm thuê theo mùa vụ do gia đình không có đất nông nghiệp để trồng trọt và chăn nuôi, phải thuê đất để canh tác
Hiện tại, bà Hảo đang ở chung nhà với mẹ ruột cùng cháu Nhi, có chổ ở
ổn định cho cả cháu Nhi và cháu Đức Anh, bà Hảo còn có mẹ ruột phụ giúp trong việc chăm sóc các cháu, bà ngoại thay mẹ đưa đón các cháu đi học Ngược lại, bà nội các cháu là bà Nguyễn Thị Thoa, sinh năm 1944, hiện nay đã
73 tuổi, ông nội các cháu là ông Nguyễn Văn Cang, sinh năm 1930, hiện nay đã
87 tuổi, theo Biên bản lấy lời khai ngày 31/5/2016 thì ông Cang hiện tại sức
khỏe đã yếu, không đi xa được (BL số 131), do đó, ông bà nội các cháu không
Trang 10thể giúp đỡ đưa đón các cháu đi học, chăm sóc các cháu chu đáo như bà ngoại được
Như vậy, bà Hảo có thu nhập và chổ ở ổn định, hoàn toàn có đủ khả năng
và điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai cháu một cách tốt nhất
Ngoài ra, ông Nguyệt cũng là một người nghiện chơi bài bạc và hay chửi bới, đánh đập các cháu, cụ thể là trong thời gian cháu Đức Anh ở với ông Nguyệt thì ông Nguyệt đã có hành vi cấm cản không cho cháu Đức Anh được gặp mẹ, nếu gặp mẹ sẽ đánh cháu Đối chiếu với Biên bản xác minh ngày
09/3/2016 (BL số 73) ông Đỗ Văn Tư – Cán bộ Tư pháp xã Thượng Đạt xác
nhận ông Nguyệt có các hành vi bạo lực với cháu Đức Anh và không cho chị Hảo được gặp mặt cháu Đức Anh, sự việc này cũng có sự chứng kiến của bà con hàng xóm xung quanh Do đó, nếu tiếp tục giao cháu Đức Anh cho ông Nguyệt nuôi, hành vi này có thể tiếp diễn làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, chia cắt tình cảm mẹ con, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tinh thần của cháu Nhận thấy, nếu một trong hai cháu ở chung với ông Nguyệt sẽ lớn lên trong môi trường giáo dục không tốt
Mặc khác, các con chung đều có nguyện vọng ở với bà Hảo Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện
vọng của con Theo Đơn đề nghị ngày 20/01/2016 của cháu Nhi (BL số 30) và Đơn đề nghị ngày 22/01/2016 của cháu Đức Anh (BL số 31) và gần đây nhất là
Biên bản lấy lời khai ngày 5/7/2016 của cháu Đức Anh có sự chứng kiến của bà
nội cháu là bà Nguyễn Thị Thoa (BL số 166), thì cháu Nhi và cháu Đức Anh
đều có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn
Điều đặc biệt quan trọng là sau khi bà Hảo và ông Nguyệt ly hôn, dù bên nào nuôi dưỡng trực tiếp thì cả hai cháu đã thiếu đi tình cảm gần gũi của bên còn lại nên cần nuôi dưỡng tình cảm chị em, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Cháu Đức Anh đang ở độ tuổi cả tâm lý và thể chất đều chưa trưởng thành, là lứa tuổi cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng tình cảm nên việc cháu Anh về ở chung với mẹ và chị gái để bồi đắp tình cảm là hoàn toàn hợp lý
Như vậy, đề nghị giao cháu Nhi và cháu Đức Anh cho bà Hảo trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với thực tế, nguyện vọng của con chung và đảm bảo cho các cháu được phát triển toàn diện về sau
Đối chiếu với hồ sơ vụ án tại các Biên bản lấy lời khai và Biên bản Hòa
giải ngày 19/5/2016 (BL số 115), Biên bản hòa giải ngày 17/6/2016 (BL số 138), Biên bản hòa giải ngày 12/7/2016 (BL số 175), bà Hảo giữ nguyên yêu
cầu ông Nguyệt không cần thực hiện cấp dưỡng cho con và bà Hảo có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con và việc không yêu cầu cấp dưỡng là hoàn