1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

“PHÂN TÍCH CÁC VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI. LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY CÁC VAI TRÒ ĐÓ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI”

28 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Các Vai Trò Của Tài Chính Công Đối Với Nền Kinh Tế - Xã Hội. Liên Hệ Việc Phát Huy Các Vai Trò Đó Tại Thành Phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Hồ Thanh Bằng, Phạm Hồng Hà, Trần Thị Hậu, Dương Công Hiệu, Trịnh Thị Thảo, Tống Thị Thu, Hoàng Thị Thùy, Nguyễn Thị Thanh Thùy
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Minh Hạnh
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Thảo Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 77,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự do hóa thương mại hiện nay không còn là một xu thế mà đã trở thành một thực tiễn sôi động và phổ biến của nền kinh tế thế giới. Để phát triển, các quốc gia phải xây dựng mô hình “kinh tế mở”, chuyển từ xu hướng bảo hộ thương mại (bảo hộ mậu dịch) sang thương mại tự do nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước. Tự do hóa thương mại không những tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển mở rộng thị trường, có thêm vốn và công nghệ, tập hợp lực lượng để bảo vệ lợi ích của mình mà còn giúp cho các nước này cải cách cơ cấu và thể chế nền kinh tế. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được thành lập năm 1992 trên cơ sở Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) ký năm 1992. Theo đó, các rào cản thương mại đối với hàng hóa dần được dỡ bỏ cùng với các hoạt động thuận lợi hóa thương mại hàng hóa được xúc tiến. AFTA đã và đang mang lại những lợi ích rất lớn cho các nền kinh tế thành viên, doanh nghiệp, người dân ASEAN. Vậy việc thực thi các cam kết về thuế quan của Việt Nam sau khi gia nhập AFTA cụ thể như thế nào? Điều này sẽ được phân tích trong bài thảo luận của Nhóm 1 chúng em với đề tài: “Thuế quan của Việt Nam trong bối cảnh thực hiện AFTA”. Qua thực trạng ấy, chúng em cũng xin đưa ra một số đánh giá về cơ hội và thách thức mà chính sách thuế quan của AFTA mang lại.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN

Trang 2

1.1+1.2, word

48 Nguyễn Thị Thanh Thùy 20D260050 Nội dung 2.2.1

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tự do hóa thương mại hiện nay không còn là một xu thế mà đã trở thành một thựctiễn sôi động và phổ biến của nền kinh tế thế giới Để phát triển, các quốc gia phải xâydựng mô hình “kinh tế mở”, chuyển từ xu hướng bảo hộ thương mại (bảo hộ mậudịch) sang thương mại tự do nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗinước Tự do hóa thương mại không những tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển

mở rộng thị trường, có thêm vốn và công nghệ, tập hợp lực lượng để bảo vệ lợi ích củamình mà còn giúp cho các nước này cải cách cơ cấu và thể chế nền kinh tế

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được thành lập năm 1992 trên cơ sở Hiệpđịnh khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Hiệp định về Chương trình ưuđãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) ký năm 1992 Theo đó, các ràocản thương mại đối với hàng hóa dần được dỡ bỏ cùng với các hoạt động thuận lợi hóathương mại hàng hóa được xúc tiến AFTA đã và đang mang lại những lợi ích rất lớncho các nền kinh tế thành viên, doanh nghiệp, người dân ASEAN Vậy việc thực thicác cam kết về thuế quan của Việt Nam sau khi gia nhập AFTA cụ thể như thế nào?Điều này sẽ được phân tích trong bài thảo luận của Nhóm 1 chúng em với đề tài:

“Thuế quan của Việt Nam trong bối cảnh thực hiện AFTA” Qua thực trạng ấy, chúng

em cũng xin đưa ra một số đánh giá về cơ hội và thách thức mà chính sách thuế quancủa AFTA mang lại

Trang 4

I.2 Vai trò và tác động của Thuế quan

Vai trò

Điều tiết hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu Lượng hàng hóa xuất khẩu và nhậpkhẩu phụ thuộc vào sự tiêu thụ hàng hóa, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả Giá cảlên xuống làm giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Một bộ phận quan trọngtác động đến sự lên xuống của giá cả hàng hóa ngoại thương đó là thuế quan Thuếquan đánh thấp hay đánh cao ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa, do đó thôngqua mức thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu người ta gián tiếp Điều tiết hoạtđộng xuất nhập khẩu hàng hóa

Thuế quan có tác dụng bảo hộ thị trường nội địa vì đánh thuế cao vào những hànghóa nhập khẩu, giúp các nhà sản xuất trong nước bằng giá rẻ có thể cạnh tranh vớihàng hóa nhập khẩu Đặc biệt thuế quan giúp các xí nghiệp sản xuất non trẻ ở trongnước có thời gian để phát triển và sinh lời nhằm có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩutrong tương lai Vì những xí nghiệp non trẻ thường phải chi phí ban đầu cao, chưa cóthị trường rộng lớn nên những xí nghiệp này có thể bị bóp chết trong trường hợpthương mại tự do khi bị hàng nhập khẩu cạnh tranh

Thuế quan có tác dụng tăng thu cho ngân sách quốc gia với chi phí rẻ hơn so vớinhiều loại thuế tiêu dùng, vì điểm thu thuế nhập khẩu ít hơn nhiều so với các điểm củaloại thuế tiêu dùng

Thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất nghiệp vì sản phẩm thay thế hàngnhập khẩu là do việc đánh thuế cao gây nên sẽ đòi hỏi mở thêm sản xuất tạo thêm công

ăn việc làm giải quyết bớt nạn thất nghiệp trong nội địa

Thuế quan là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực đốivới các bạn hàng phải nhượng bộ trong đàm phán

Trang 5

Đối với hàng hóa nhập khẩu, nhà nước giảm mức thuế quan để khuyến khích tăngquy mô nhập khẩu.

Là khoản thu quan trọng đối với ngân sách nhà nước

Thuế quan có thể bảo vệ các nhà sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh từ nướcngoài Bằng cách làm tăng giá bán của hàng nhập khẩu

Tác động tiêu cực

Khi đánh thuế nhập khẩu, người sản xuất trong nước có lợi, nhưng người tiêu dùng

bị thiệt hại do phải trả thêm tiền của việc tăng giá hàng nhập khẩu từ mức giá thế giớicộng thêm với thuế nhập khẩu Điều này ảnh hưởng đến khả năng mua sắm hàng nhậpkhẩu của người dân tại Quốc gia đó Giá xe ô tô nhập khẩu quá đắt như Việt nam hiệnnay chính là một biểu hiện rõ nhất

Việc áp dụng thuế quan cũng làm giảm hiệu quả tổng thể của toàn bộ nền kinh tế.Bởi vì khoản thuế này sẽ khuyến khích các công ty nội địa sản xuất những sản phẩm

Mà theo lý thuyết có thể được sản xuất một cách hiệu quả hơn ở nước ngoài

Tạo nên hiệu ứng phân phối lại thu nhập: Là công cụ để phân biệt đối xử trong quan

hệ thương mại kinh tế, gây áp lực trong quá trình đàm phán kinh tế thương mại

Phân loại thuế quan

Thuế quan được phân chia dựa trên nhiều yếu tố

Theo đối tượng đánh thuế:

 Thuế quan xuất khẩu

 Thuế quan nhập khẩu

 Thuế quan quá cảnh

Trang 6

Theo phương pháp tính thuế

 Thuế quan tính theo giá trị đơn hàng: Là tỷ lệ % thỏa thuận quy định giữa cácbên Ví dụ quy định mức thuế suất là 10% trên giá CIF đối với hàng nhập khẩu, 5%trên giá FOB đối với hàng xuất khẩu

 Thuế quan tính theo trọng lượng: Được tính theo trọng lượng, số lượng củahàng hóa Với phương pháp này, thuế xuất nhập khẩu khó tính toán do sự cập nhậpthay đổi liên tục trên thị trường

Theo mức thuế:

 Thuế quan tối thiểu,

 Thuế quan tối đa,

 Thuế quan ưu đãi

Theo mục đích:

 Thuế quan tài chính

 Thuế quan bảo hộ

II Thực trạng thuế quan của Việt Nam trước và sau khi gia nhập AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)

2.1 Chính sách thuế quan của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA

Một số văn bản quy phạm pháp luật về thuế quan của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA:

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được ban hành ngày 29 tháng

12 năm 1987, có hiệu lực từ ngày 29 tháng 12 năm 1987

Luật 64-LTC/HĐNN8 về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được ban hành ngày 26tháng 12 năm 1991, có hiệu lực từ ngày 4 tháng 1 năm 1992

Văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩuđược ban hành ngày 5 tháng 7 năm 1993

Pháp lệnh số 32-LCT/HĐNN8 về Hải quan, ban hành ngày 23 tháng 2 năm 1990,

có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1990

Trang 7

Nghị quyết số 292/NQ-UBTVQH9 về chương trình giảm thuế nhập khẩu của ViệtNam để thực hiện Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung(CEPT) của các nước ASEAN, ban hành và có hiệu lực từ ngày 8 tháng 11 năm 1995.Nghị quyết số 91/CP về ban hành Danh mục hàng hóa để thực hiện Hiệp định vềChương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN chonăm 1996, được ban hành ngày 18 tháng 12 năm 1995 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1năm 1996.

Quyết định số 280/TTg về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩukèm theo Nghị định số 54/CP ngày 28 tháng 8 năm 1993, được ban hành ngày 28tháng 5 năm 1994

1.2 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA)

1.2 Giới thiệu chung về AFTA

AFTA là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khốiASEAN, được ký kết vào năm 1992 Ban đầu, có 6 nước tham gia AFTA là Brunei,Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Sau đó, các nướcCampuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam tham gia AFTA khi được kết nạp vàoASEAN

AFTA là một sáng kiến nhằm giảm hoặc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi thuếquan đối với thương mại nội khối ASEAN Sáng kiến này liên quan đến việc ký kếtHiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa các quốc gia ASEAN để thúc đẩy hợp táckinh tế sâu sắc hơn với tổng dân số hơn 660 triệu người

Hoàn cảnh ra đời:

Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trongmôitrường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN trướcnhữngthách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ và

nỗ lực vủatoàn hiệp hội, những thách thức đó là:

Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệttrong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càngmấtđi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế

Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như KhuvựcMậu dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu Âu của EU, NAFTA sẽtrởthành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hóa ASEAN khi thâmnhậpvào những thị trường này

Trang 8

Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộngrãicho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiênnhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và các nước Đông

Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừaphải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực Để đốiphó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan, Hội nghịThượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập một Khu vực Mậudịch Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)

Mục tiêu chính của AFTA là thúc đẩy hội nhập kinh tế và hợp tác khu vực giữa các nướcthành viên Thương mại được thành lập để tạo thuận lợi cho việc tạo ra một thị trường và

cơ sở sản xuất duy nhất trong khu vực ASEAN để đạt được các mục tiêu sau:

Tạo thuận lợi thương mại: AFTA đặt mục tiêu thúc đẩy thương mại và hợp tác giữa cácquốc gia ASEAN Nó giảm thuế (0% đến 5%) dựa trên lịch trình, hợp lý hóa các quy tắcthương mại và đơn giản hóa các quy trình hải quan Hiệu quả này giúp tăng cường hoạt độngkinh tế và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Tiếp cận thị trường được mở rộng, cho phép cácdoanh nghiệp ASEAN tiếp cận nhiều người tiêu dùng hơn bằng cách giảm các rào cảnthương mại, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có xuất khẩu cạnh tranh do chi phínhập khẩu thấp hơn

Thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế: Hiệp định thương mại ưu tiên thúc đẩy đầu tưbằng cách thiết lập một môi trường an toàn khuyến khích đầu tư trực tiếp trong khuvực và nước ngoài (FDI), do đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Đồng thời, điều nàycũng đảm bảo khả năng cạnh tranh toàn cầu Bằng cách thúc đẩy một cộng đồng kinh

tế hội nhập, hiệp định mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông quaviệc mở rộng phạm vi tiếp cận thị trường và khả năng phục hồi tốt hơn trước nhữngbiến động kinh tế

Phát triển vùng: Thương mại thúc đẩy tăng trưởng mạng lưới sản xuất địa phương, hợp lýhóa dòng chảy hàng hóa xuyên biên giới để tăng khả năng cạnh tranh của ngành và tăngcường hợp tác khu vực để giải quyết vấn đề chung Điều này chuẩn bị cho ASEAN cạnhtranh toàn cầu thông qua hội nhập và hợp tác kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranhcủa ngành và vị thế thương mại quốc tế

Quy định của AFTA về hạn ngạch - thuế quan

Mục tiêu chiến lược của Hiệp định AFTA là tăng cường năng lực sản xuất và khảnăngcạnh tranh của ASEAN, thúc đẩy hiệu quả kinh tế trong một thị trường và cơ sở sảnxuất đơnnhất Trên cơ sở đó, nội dung cơ bản của AFTA là Chương trình ưu đãi thuếquan có hiệulực chung (CEPT) với ba vấn đề chủ yếu, không tách rời là cắt giảm thuế,loại bỏ cáchàng rào phi thuế và hài hòa các thủ tục hải quan

Trang 9

Về thuế quan, ban đầu, các nước thống nhất sẽ cắt giảm thuế quan trong nội bộ ASEANxuống mức từ 0-5% trong giai đoạn 15 năm, tức là hoàn thành vào năm 2008.Tuy nhiên, vàotháng 9 năm 1994, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 26, cácnước ASEANquyết định đẩy tiến độ thực hiện AFTA sớm hơn 5 năm Theo đó, sáu nướcthành viên cũ

là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan sẽ hoànthànhCEPT (Chương trình thuế ưu đãi có hiệu lực chung) vào ngày 1 tháng 1 năm 2003.Bốnnước tham gia AFTA sau là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam sẽ có thờihạnhoàn thành CEPT muộn hơn

Trong CEPT, các mặt hàng cũng được phân loại để đưa vào các lộ trình cắt giảm thuế khácnhau, tùy thuộc vào mức độ nhạy cảm của mặt hàng đó đối với nền kinh tế từng nước thànhviên Ngay từ khi mới thực hiện CEPT, hầu hết các mặt hàng thuộc diện trao đổi thương mạitrong ASEAN đều được đưa vào danh mục thông thường (IL) để cắt giảm thuế về 0-5% theo

lộ trình nhanh nhất Một phần nhỏ các mặt hàng nhạy cảm được các nước đưa vào danh mụcnhạy cảm (SL), nhạy cảm cao (HSL) và danh mục loại trừ (GE) với lộ trình cắt giảm chậmhơn Đến nay, hơn 99% số dòng thuế của các nước ASEAN-6 đã được đưa về 0% và các nướcCLMV cũng đã có gần 99% dòng thuế được cắt giảm xuống 0-5%, đưa các nước ASEANgần hơn bao giờ hết tới mục tiêu thiết lập một thị trường và cơ sở sản xuất đơn nhất,tạo tiền đề xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN

Để thiết lập được khu vực mậu dịch tự do, việc cắt giảm thuế quan cần phải được tiến hànhđồng thời với việc loại bỏ các hàng rào phi thuế quan Các hàng rào phi thuế quan bao gồmcác hạn chế về số lượng (như hạn ngạch, giấy phép, v.v.), các khoản phụ thu, các quy định vềtiêu chuẩn chất lượng, v.v Các hạn chế về số lượng có thể được xácđịnh một cách dễdàng, do đó, được quy định loại bỏ ngay đối với các mặt hàng trong Chương trìnhCEPT được hưởng nhượng bộ từ các nước thành viên khác

Tuy nhiên, việc xác định và loại bỏ các rào cản phi thuế quan khác phức tạp hơn rấtnhiều và quy địnhphải được xóa bỏ dần dần trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm đượchưởng ưu đãi Ngoàira, CEPT cũng quy định việc các nước tiến tới thống nhất các tiêuchuẩn chất lượng, côngkhai chính sách và thừa nhận các chứng nhận chất lượng củanhau

Trên cơ sở Hiệp định CEPT, trong quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN,cácnước thành viên đã đưa ra và cam kết thực hiện việc xóa bỏ các rào cản phi thuế theo3 góilịch trình là giai đoạn 2008-2010 đối với các nước ASEAN-6, giai đoạn 2010-2012đối vớiPhi-líp-pin và giai đoạn 2013-2015, linh hoạt tới 2018 đối với CLMV Hiện nay,việc xóa

bỏ này vẫn đang được các nước ASEAN thực hiện theo kế hoạch đề ra Dự kiến trongthời gian tới, ASEAN sẽ xây dựng một cơ chế phù hợp để rà soát và tổng hợp các ràocản được loại bỏ

Việc đảm bảo thông thoáng, minh bạch các thủ tục hải quan, tạo thuận lợi chothương mại cũng là một nội dung cần thực hiện khi thiết lập khu vực thương mại tự do ASEAN Để tạo

Trang 10

điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu ASEAN tiến hành buôn bán trong nội bộ khu vực và để các cơ quan Hải quan các nước dễ dàng xác định mức thuếcho các mặt hàng, ASEAN đã thống nhất một biểu thuế quan chung(AHTN) trên cơ sở

Hệ thống hài hoà (HS) của Cơ quan hải quan thế giới (WCO) Biểu AHTN này đượcsửa đổi 5 năm một lần nhằm rà soát, cập nhật chính xác các mặt hàngđang được traođổi, buôn bán trong khu vực ASEAN xây dựng Biểu AHTN 2012 để bắt đầu chínhthức áp dụng từ đầu năm 2012 Mẫu tờ khai hải quan chung của khu vực đốivới cáchàng hóa thuộc diện được hưởng thuế suất CEPT cũng đã được thống nhất; cácthủ tụchải quan được đơn giản và minh bạch hóa để việc trao đổi thương mại diễn ranhanhchóng, thuận tiện

II Thực trạng thuế quan của Việt Nam trước và sau khi gia nhập AFTA 2.1 Chính sách thuế quan của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA

Chính sách thuế quan giai đoạn này tập trung vào mục đích tăng thu ngân sách nhànước và hướng về xuất khẩu, bảo hộ và thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triểntrong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động

Năm 1992, Luật thuế xuất nhập khẩu ra đời đã thống nhất được chế độ thu thuế giữahàng mậu dịch và hàng phi mậu dịch Vì vậy, đối tượng nộp thuế đã có sự thay đổi.Thuế xuất nhập khẩu sẽ đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu của các tổ chức kinh tếthuộc các thành phần kinh tế thông qua cửa khẩu biên giới, không phân biệt đó là hànghóa mậu dịch hay phi mậu dịch kể cả hàng hóa trong nước đưa vào khu chế xuất vàothị trường trong nước

Giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu theo hợp đồng thươngmại quốc tế, kể cả chi phí vận tải và bảo hiểm

Giá tính thuế của hàng hóa xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu theo hợp đồng thươngmại quốc tế, không bao gồm chi phí vận tải và bảo hiểm

Một số hạn chế:

Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này còn có một số hạn chế nhưsau:

Biểu thuế nhập khẩu có mức thuế suất khá là cao, bao gồm 36 mức áp dụng cho hơn

3000 mặt hàng với mức chênh lệch thuế suất lớn (0% đến 120%)

Có quá nhiều thuế suất thấp hơn 5% (chiếm hơn 50% tổng danh mục hàng hóatrong Biểu thuế xuất nhập khẩu) Mức thuế cao chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ cácmặt hàng Điều này làm cho thuế suất được phân bổ không đều, khiến cho chính sách

Trang 11

bảo hộ chỉ tập trung vào một số mặt hàng, đồng thời làm hạn chế nguồn thu ngân sáchnhà nước.

Mức thuế suất khá cao trong giai đoạn này sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình ViệtNam gia nhập AFTA Bởi gia nhập AFTA sẽ giảm thuế gần như toàn bộ các mặt hàng,trong đó có cả các mặt hàng có mức thuế cao trước khi Việt Nam tham gia vào AFTA.Khi mặt hàng có mức thuế suất khá cao được giảm thuế theo lộ trình xuống mức thấp

sẽ làm nguồn thu ngân sách nhà nước bị thiếu hụt, ngành sản xuất mặt hàng đó trongnước có thể chưa đủ sức cạnh tranh so với hàng nhập khẩu

Một số mặt hàng tiêu dùng trong nước chưa được sản xuất hoặc sản xuất với giá cao

và chất lượng chưa đạt tiêu chuẩn để thỏa mãn nhu cầu ngày càng thay đổi của ngườitiêu dùng trong nước Tuy nhiên, một số mặt hàng tiêu dùng này được nhập khẩu lại cómức thuế suất khá cao, khiến cho giá thành của hàng hóa sau khi nhập khẩu cao hơnrất nhiều so với hàng hóa tương tự trong nước Điều này có thể dẫn đến việc cácthương nhân sẽ có xu hướng gian lận thương mại gia tăng, do đó, công tác quản lýcũng gặp nhiều khó khăn hơn

Có thể nói rằng, thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA chủyếu đóng vai trò tăng thu ngân sách nhà nước, bảo hộ nền sản xuất trong nước còn nontrẻ Tuy nhiên, trẻ có thể hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thay đổi chínhsách thuế quan phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện trong nước là điều tất yếukhách quan

2.2 Chính sách thuế quan Việt Nam sau khi gia nhập AFTA

2.2.1 Sự thay đổi của các chính sách

Sau khi trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vàonăm 1995, một năm sau Việt Nam tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do của ASEAN(AFTA) Đây là những bước đi đầu tiên của Việt Nam thực hiện chiến lược đối ngoạitrên cơ sở đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ với đối tác, trong đó lấy hợptác kinh tế là nền tảng quan trọng Nội dung cơ bản của AFTA là Chương trình ưu đãithuế quan có hiệu lực chung (CEPT) với 3 vấn đề chủ yếu không tách rời nhau là cắtgiảm thuế, loại bỏ các hàng rào phi thuế và hài hòa hóa các thủ tục hải quan

Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ, chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận nhữngnguyên tắc trong kinh tế thị trường ở mức độ của khu vực và liên khu vực Kể từ khichính thức ký thỏa thuận tham gia CEPT/AFTA, Việt Nam đã nghiêm chỉnh thực hiệncác cam kết đã ký kết với các nước ASEAN, trong đó có các cam kết về thuế và hảiquan Cụ thể:

Cắt giảm thuế quan

Trang 12

Bản chất của CEPT là thỏa thuận giảm thuế trong nội bộ khối xuống còn 0 - 5%,tiến tới xóa bỏ các hạn ngạch nhập khẩu và những hàng rào phi quan thuế khác Theo

lộ trình đã cam kết thì Việt Nam bắt đầu thực hiện ưu đãi thuế quan từ năm 1996, ngaysau khi tham gia AFTA Khi đó, mức thuế quan trung bình của Việt Nam đối với hàngnhập khẩu từ AFTA đã giảm xuống còn 7,3% so với mức 13,8% khi mới gia nhập.Việt Nam cũng đưa 875 mặt hàng đầu tiên vào thực hiện CEPT, ở khung thuế suất 0 -5% Đến năm 2003, mức thuế suất trung bình của Việt Nam chỉ hơn 2%, là mức thuếsuất trung bình thấp thứ ba trong ASEAN, sau Singapore và Brunei

Trên cơ sở các thỏa thuận đã ký kết, hàng năm Bộ Tài chính đã ban hành thông tưquy định chi tiết danh mục các mặt hàng thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu đối vớihàng hóa có xuất xứ ASEAN và cắt giảm thuế xuất khẩu theo cam kết với các nướcASEAN Theo quy định của Hiệp định CEPT, các mặt hàng của Việt Nam được chiathành 2 nhóm chính:

Nhóm các mặt hàng cắt giảm và xóa bỏ thuế quan: chiếm hầu hết các mặt hàng, có

lộ trình giảm thuế từ năm 1996, giảm thuế suất xuống mức 0 - 5% vào năm 2006 vàxoá bỏ thuế quan vào năm 2015, một số mặt hàng được linh hoạt đến 2018 Ngoài ra,các mặt hàng công nghệ thông tin (phù hợp với diện mặt hàng của WTO) sẽ được xoá

bỏ thuế quan trong 3 năm: 2008 - 2010 Đồng thời các mặt hàng thuộc lĩnh vực ưu tiênhội nhập (12 lĩnh vực) sẽ được xóa bỏ sớm hơn là vào năm 2012, trong đó có 9 lĩnhvực hàng hoá gồm: gỗ và sản phẩm gỗ, ô tô, cao su, dệt may, sản phẩm nông nghiệp,thuỷ sản, điện tử, công nghệ thông tin, y tế

Nhóm hàng nông sản nhạy cảm: gồm 89 dòng thuế là các mặt hàng nông sản chưachế biến, gồm một số loại gạo, hoa quả, thực phẩm, đường Những mặt hàng nàykhông phải xoá bỏ thuế quan, có lộ trình giảm thuế từ năm 2004 xuống mức thuế suấtcao nhất là 5% vào năm 2013 Để bảo vệ sức khỏe con người, môi trường, giá trị vănhóa, đạo đức hay an ninh, quốc phòng, các nước được phép loại trừ (không phải cắtgiảm thuế) những mặt hàng vì mục đích này Trên cơ sở đó, mỗi nước đã tự xây dựngmột Danh mục các mặt hàng để loại trừ khỏi phạm vi thực hiện CEPT (GEL) và đãđưa vào đó những mặt hàng mang tính bảo hộ Từ năm 2005 đến nay, Việt Nam đãđưa nhiều mặt hàng GEL vào thực hiện CEPT, trong đó quan trọng nhất là các thiết bịtruyền phát (ra đa, điện thoại di động…), đồ uống có cồn và ô tô, xe máy

Theo Quyết định 36/2008/QĐ-BTC về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đểthực hiện CEPT/AFTA, trong năm 2010 Việt Nam áp dụng mức thuế 0 - 5% đối với99% dòng thuế nhập khẩu từ ASEAN Tính đến hết năm 2014, Việt Nam đã thực hiệncắt giảm thuế nhập khẩu về 0% cho gần 6.900 dòng thuế có xuất xứ ASEAN, chiếmkhoảng 72% trong tổng số 9.558 dòng thuế nhập khẩu Từ ngày 1/1/2015, Việt Nam

đã cắt giảm thêm 1.720 dòng thuế từ thuế suất hiện hành 5% xuống 0% Như vậy, chỉ

Trang 13

còn khoảng 7% dòng thuế, tương đương 687 mặt hàng được xem là nhạy cảm theothỏa thuận với ASEAN chưa cắt giảm ngay về 0% trong năm 2015 mà thực hiện dầnđến năm 2018 (gồm các mặt hàng nhạy cảm cần có lộ trình bảo hộ dài hơn, chủ yếu là:sắt thép, giấy, vải may mặc, ô tô, linh kiện phụ tùng ô tô, máy móc thiết bị, nguyên vậtliệu xây dựng, đồ nội thất )

Thông tư 165/2014/TT-BTC cũng quy định cụ thể lộ trình cắt giảm thuế đối với 7%

số mặt hàng nhạy cảm trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018 Qua đó, đã đảmbảo rằng, đến năm 2018, ngoại trừ danh mục 3% dòng thuế trong danh mục loại trừ,toàn bộ số dòng thuế còn lại được thực hiện cắt giảm theo đúng cam kết

Ngoài ra, Việt Nam còn loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phithuế quan khi tham gia trao đổi hàng hóa với các nước thành viên AFTA Những mặthàng đã được đưa vào Danh mục cắt giảm ngay (IL) sẽ phải bỏ các hạn chế về sốlượng Các hàng rào phi quan thuế khác sẽ được xóa bỏ dần trong vòng 5 năm sau khisản phẩm được hưởng ưu đãi Cuối cùng, Việt Nam và các nước ASEAN tiến tớithống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, công khai chính sách và thừa nhận các chứngnhận chất lượng của nhau cũng như thống nhất các biểu thuế, cách tính thuế, và cácthủ tục hải quan

Hài hòa hóa mã hàng hóa

Để đảm bảo thuận lợi cho giao thương hàng hóa và thực hiện thỏa thuận vớiASEAN, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quyđịnh về phân loại và xác định mã hàng hóa Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số49/2010/ TT-BTC ngày 12/4/2010 hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đốivới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Đây là một bước tiến lớn trong việc đưa các quyđịnh về hải quan của Việt Nam gần hơn với các thông lệ quốc tế và theo thỏa thuậnASEAN Theo đó, danh mục biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam được xâydựng trên cơ sở Danh mục Biểu thuế quan hài hoà ASEAN (AHTN) Đây là danh mụchàng hoá của các nước ASEAN được xây dựng trên cơ sở Hệ thống hài hòa mô tả và

mã hóa hàng hóa (HS) của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO)

Năm 2014, Luật Hải quan ra đời, nhiều bất cập trong lĩnh vực hải quan đã được giảiquyết triệt để Đây là nền tảng để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện quy định về phân loạihàng hóa Ngày 30/01/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 14/2015/TT-BTChướng dẫn về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa, phân tích để kiểmtra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam đã tham gia tích cực vào hoạt động hợp tác hải quan với các nước khi là một trong 7 quốc gia thuộc ASEAN thử nghiệm áp dụng Cơ chế hải quan một cửaASEAN (ASEAN Single Window - ASW) Mục tiêu của ASW là đẩy nhanh thời gian

Trang 14

thông quan hàng hóa trong bối cảnh hội nhập ASEAN bằng cách đơn giản hóa, minhbạch hóa thủ tục hải quan trên cơ sở trao đổi thông tin đáng tin cậy và an toàn quaphương tiện điện tử Đến năm 2014, Việt Nam và 6 nước khác tham gia thử nghiệm đãkết nối thành công cổng ASW về trao đổi dữ liệu điện tử giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D và tờ khai hải quan điện tử.

Điều chỉnh hệ thống thuế nội địa

Tuy không trực tiếp nằm trong nội dung cam kết với ASEAN, song trong nhữngnăm qua, hệ thống thuế nội địa của Việt Nam đã được điều chỉnh phù hợp với các camkết về thuế của Việt Nam với ASEAN, WTO và các cam kết quốc tế khác Quá trìnhđiều chỉnh ấy nhằm các mục tiêu chủ yếu sau đây:

Làm cho hệ thống thuế Việt Nam phù hợp với các thông lệ quốc tế;

Đơn giản hóa và minh bạch hóa hệ thống thuế để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý và tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh;

Xác định mức động viên hợp lý, đảm bảo số thu cho ngân sách nhằm phục vụ pháttriển kinh tế - xã hội đất nước

Về cơ bản, các mục tiêu nêu trên đã được hiện thực hóa trong những năm qua Cụthể:

Từng bước sửa đổi các sắc thuế chủ yếu trong hệ thống thuế để bao quát nguồn thu

và tăng thu hợp lý bù lại cho sự suy giảm nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.Điều chỉnh hợp lý thuế suất của các sắc thuế trong hệ thống thuế để vừa sức dân,vừa đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước Theo đó, thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp phổ thông đã nhiều lần được điều chỉnh giảm từ mức 32% đối với doanhnghiệp trong nước và 25% đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàithống nhất thành một mức 25% (năm 2004), xuống 20% vào năm 2016 Thuế thu nhập

cá nhân từ mức cao nhất là 50% giảm xuống còn 35% (năm 2009)

Ban hành thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thay thế cho thuế nhà đất (có hiệu lực từ01/01/2012), thay đổi cơ bản căn cứ tính thuế theo hướng phù hợp với khả năng sinhlợi của đất và thúc đẩy sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả

Ban hành sắc thuế mới - thuế bảo vệ môi trường (có hiệu lực từ 01/01/2012), buộccác nhà sản xuất sản phẩm gây ô nhiễm hoặc nhập khẩu sản phẩm gây ô nhiễm môitrường phải tính đủ chi phí xã hội vào giá thành sản phẩm; tạo nguồn thu bổ sung đểNhà nước thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường

Ngày đăng: 23/11/2023, 20:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kim ngạch, tốc độ tăng/giảm và tỷ trọng một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang ASEAN trong 9 tháng tính từ đầu năm 2014 - “PHÂN TÍCH CÁC VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI. LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY CÁC VAI TRÒ ĐÓ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
Bảng 1 Kim ngạch, tốc độ tăng/giảm và tỷ trọng một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang ASEAN trong 9 tháng tính từ đầu năm 2014 (Trang 17)
Bảng 2: Số dự án và tổng vốn đầu tư từ khu vực ASEAN vào Việt Nam trong các giai đoạn - “PHÂN TÍCH CÁC VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH CÔNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI. LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY CÁC VAI TRÒ ĐÓ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
Bảng 2 Số dự án và tổng vốn đầu tư từ khu vực ASEAN vào Việt Nam trong các giai đoạn (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w