1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam

454 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát Của Cơ Quan Dân Cử Đối Với Việc Thực Thi Chính Sách, Pháp Luật Về An Sinh Xã Hội Ở Việt Nam
Tác giả Phạm Minh Tuấn, Phạm Thị Thinh, Phạm Thị Ngọc Bích, Nguyễn Thị Hải Bền, Nguyễn Thị Trang, Trần Phan Bích Liễu
Trường học Thư viện Quốc gia Việt Nam
Chuyên ngành An sinh xã hội
Thể loại sách
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 454
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ hoạt động này cung cấp những luận cứ khoa học để sửa đổi, bổ sung

Trang 2

Chịu trách nhiệm xuất bản GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP GS.TS PHẠM MINH TUẤN Chịu trách nhiệm nội dung PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP

ThS PHẠM THỊ THINH Biên tập nội dung:

TS NGUYỄN THỊ TRANG TRẦN PHAN BÍCH LIỄU

PHẠM DUY THÁI PHẠM THU HÀ PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT

NGUYỄN THỊ TRANG NGUYỄN VIỆT HÀ

Số đăng ký xuất bản: 427-2021/CXBIPH/9-365/CTQG

Quyết định xuất bản số: 12-QĐ/NXBCTQG, ngày 18/02/2021

Trang 4

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam

Bùi Sỹ Lợi

Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam / Bùi Sỹ Lợi ch.b - H : Chính trị Quốc gia, 2020 - 452tr ; 24cm

Trang 6

T ẬP THỂ TÁC GIẢ

TS BÙI SỸ LỢI (Chủ biên)

GS.TS MAI NGỌC CƯỜNG

GS.TS NGUYỄN ĐÌNH HƯƠNG PGS.TS LÊ QUỐC HỘI

PGS.TS HOÀNG VĂN CƯỜNG

GS.TSKH LƯƠNG XUÂN QUỲ

Trang 7

L ỜI NHÀ XUẤT BẢN

iám sát của cơ quan dân cử là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội và hội đồng nhân dân Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân, từng bước đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước các cấp ngày càng được công khai, minh bạch

Giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật nói chung, chính sách, pháp luật về an sinh xã hội nói riêng là một trong những công việc quan trọng của các cơ quan dân cử và thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ hoạt động này cung cấp những luận cứ khoa học

để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; bảo đảm cho chính sách, pháp luật về an sinh xã hội được chấp hành, thực hiện nghiêm chỉnh trên phạm vi cả nước

Để góp phần làm rõ những vấn đề có ý nghĩa lý luận trong giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội trên cơ sở luận giải đặc điểm và bản chất, mục tiêu, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, phạm vi, hình thức, nội dung, nhân tố ảnh hưởng, quan niệm và các tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật G

Trang 8

xuất bản cuốn sách Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan

dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam do TS Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Ủy

ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội làm chủ biên Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước nằm trong Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, các tác giả đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh

xã hội ở nước ta những năm tới Nội dung chính của cuốn sách gồm ba chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả giám sát của cơ quan dân

cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; Chương II: Thực trạng về hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh

xã hội ở Việt Nam;

Chương III: Quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam trong những năm tới Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 10 năm 2020

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

Trang 9

M Ở ĐẦU

1 Giám sát của cơ quan dân cử là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội, Hội đồng nhân dân

Khoản 2, Điều 70, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ Quốc hội có nhiệm vụ: “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân

theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”

Khoản 8, Điều 19, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền:

“Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của thường trực hội đồng nhân dân,

ủy ban nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, ban của hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của hội đồng nhân dân cấp huyện”

Khoản 4, Điều 26, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định hội đồng nhân dân huyện có thẩm quyền: “Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở

địa phương, việc thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân huyện; giám sát hoạt động của thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, ban của hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của ủy ban

Trang 10

nhân dân cùng cấp và văn bản của hội đồng nhân dân cấp

Những quy định trên đây đã tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, từng bước đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn cuộc sống, đảm bảo cho hoạt động của quản lý nhà nước các cấp ngày càng được công khai, minh bạch

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân cũng vẫn còn nhiều hạn chế Những quy định pháp luật về chủ thể, đối tượng, nội dung, phạm vi, hình thức giám sát, còn nhiều bất cập Một loạt vấn đề như năng lực và trách nhiệm của chủ thể thực hiện giám sát; năng lực và nhận thức, mức độ tham gia của các đối tượng giám sát và của người dân; cách thức tổ chức thực hiện; các điều kiện thực hiện giám sát, chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động, đã làm cho hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội cũng như của hội đồng nhân dân chưa đạt được như mong muốn Điều này đang thể hiện ở mọi lĩnh vực của hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, trong đó có hoạt động giám sát thực thi chính sách, pháp luật an sinh xã hội

Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề an sinh xã hội Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước đã ghi

Trang 11

nhận những định hướng mục tiêu và các nội dung cốt lõi của chính sách bảo đảm an sinh xã hội Hiến pháp năm 2013 - Hiến pháp của thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế tại khoản 1, Điều 34 đã ghi rõ: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” Theo tinh thần của Hiến pháp, luật và các văn bản chính sách, pháp luật về an sinh xã hội trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và giảm nghèo, đã được ban hành, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội của người lao động, người già, người thất nghiệp, ốm đau bệnh tật và người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống

Mặc dù vậy, việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh

xã hội hiện đang còn nhiều bất cập: tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn thấp, tỷ lệ bao phủ của trợ giúp xã hội chưa cao Điều này đang là những thách thức đối với việc thực thi các quy định chính sách, pháp luật về

an sinh xã hội ở nước ta, đòi hỏi phải tăng cường giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội

Hiện nay, ở nước ta, chức năng giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội được thực hiện bởi nhiều tổ chức khác nhau như: Quốc hội, hội đồng nhân dân; cơ quan quản lý nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các đoàn thể chính trị - xã hội Tuy nhiên, việc phân định về nội dung, mục tiêu, phạm vi, hình thức cũng còn chưa thật rõ ràng, còn có sự chồng chéo Hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật an sinh xã hội chưa cao Theo đánh giá của Quốc hội, hoạt động giám sát, trong đó bao gồm giám sát việc thực thi chính sách an sinh xã hội vẫn là khâu yếu, có nhiều hạn chế, nhiều hoạt động còn hình thức, sự đổi mới còn chậm và hiệu quả chưa cao, chưa đáp

Trang 12

ứng yêu cầu cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân Trong khi đó, lại chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này để tạo cơ sở lý luận cho việc giám sát thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội một cách có hiệu quả Chính

vì thế, nội dung cuốn sách Nâng cao hiệu quả giám sát của

cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam không những có ý nghĩa

thực tiễn mà còn có ý nghĩa lý luận cấp bách nhằm góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật

về an sinh xã hội ở nước ta

Về mặt lý luận, cuốn sách này sẽ góp phần làm rõ đặc điểm và bản chất, chủ thể, đối tượng, phạm vi, hình thức và nguyên tắc hoạt động giám sát; nội dung và nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giám sát; đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật an sinh xã hội

Về mặt thực tiễn, trên cơ sở đánh giá được thực trạng giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; từ đó, nhóm tác giả

đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta trong những năm tới Những khuyến nghị được đưa ra sẽ là luận cứ cho việc hoàn thiện các văn bản pháp quy và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2020 - 2030

Trang 13

Xuất phát từ thực tế hoạt động giám sát thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, nội dung cuốn sách tập trung vào những điểm then chốt sau đây:

- Xây dựng được khung giám sát để phân định rõ chủ thể, đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thức, công cụ giám sát của cơ quan dân cử đối với thực thi chính sách, pháp luật về

an sinh xã hội

- Xây dựng quan điểm phương pháp luận và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta

- Trên cơ sở thực trạng hoạt động giám sát hiện nay, xác định quan điểm, phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật

về an sinh xã hội những năm tới

2 Giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật nói chung, pháp luật về an sinh xã hội nói riêng là một trong những mảng công việc quan trọng của các cơ quan dân

cử và thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

a) Trên thế giới

Thứ nhất, về vấn đề giám sát của cơ quan dân cử:

Elizabeth (2012) đã đề cập đến khái niệm, ý nghĩa của hoạt động giám sát của quốc hội và các cơ quan dân cử đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật Nghiên cứu đã chỉ

ra rằng, giám sát được áp dụng nhằm đánh giá chất lượng đầu ra của các quyết sách, thẩm định chính sách hoặc việc thực hiện chính sách, pháp luật Giám sát có thể phát hiện

sự lãng phí, thiếu hiệu quả của chính sách, thực hiện chính

Trang 14

sách, pháp luật Bên cạnh đó, giám sát được coi là một cách thức để tăng cường tiếng nói của người thụ hưởng chính sách, pháp luật và cũng chính là một điều kiện để thực hiện chính sách, pháp luật thành công

Elcock (2005) nghiên cứu về các nguyên tắc giám sát của

cơ quan dân cử đối với việc thực hiện các chính sách, pháp luật Elcock chỉ ra rằng, giám sát của cơ quan dân cử cần dựa trên các nguyên tắc như: đảm bảo tính giải trình, dựa trên sự hài lòng của người dân, thu hút sự tham gia của công chúng và hướng đến tính hiệu quả, hiệu lực của chính sách, pháp luật

Nghiên cứu của Eilen (2010) về tăng cường giám sát của

cơ quan dân cử đối với thực hiện các chính sách, pháp luật ở Philíppin đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất, mức

độ, phạm vi, hiệu quả của công tác giám sát, bao gồm: mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, mối quan hệ giữa các cơ quan giám sát và cơ quan hành chính, hệ thống đảng phái chính trị của quốc gia và địa phương và năng lực giám sát của cơ quan dân cử

Elizabeth (2012) đã nghiên cứu các công cụ giám sát của cơ quan dân cử đối với thực hiện pháp luật và chính sách ở một số nước trên thế giới như Nam Phi, Tanzania, Philíppin và rút ra kết luận: Các cơ quan giám sát cần phải tìm kiếm, đa dạng hóa việc áp dụng các công cụ giám sát, bao gồm: xem xét báo cáo, tài liệu, sử dụng các tiểu ban giám sát, tổ chức các phiên điều trần và các công cụ giám sát về tài chính, ngân sách

Công trình nghiên cứu Chức năng giám sát của Quốc hội

trong nhà nước pháp quyền của Rainer (2011) đã đề xuất một

số kiến nghị nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội như: xác định chính xác về pháp luật và về thực tiễn mục

Trang 15

đích, phạm vi, đối tượng, nội dung, công cụ, phương pháp giám sát Sau đó, cần tập trung vào các điều kiện bảo đảm cho việc giám sát có hiệu quả như: thành lập các thiết chế độc lập, thường xuyên hoặc lâm thời để thu thập thông tin và tổ chức đánh giá có hiệu quả hoạt động của cơ quan hành pháp (Ủy ban điều tra, Thanh tra của Quốc hội, Ủy ban thông tin )

Thứ hai, nghiên cứu về giám sát và đánh giá an sinh xã hội: (1) Nghiên cứu tính cấp thiết phải có sự giám sát, đánh giá chính sách, pháp luật về an sinh xã hội: Theo Stephanie

Brockerhoff (2013), quyền an sinh xã hội là một trong những quyền về kinh tế - xã hội được bảo đảm trong Hiến pháp Nam Phi, bao gồm một tập hợp rộng rãi của quyền trong Chương II dẫn trong Hiến pháp được dự báo là một trong những bản hiến pháp tiến bộ nhất trên thế giới: “Mọi người đều có quyền được tiếp cận với an sinh xã hội ; nếu họ không thể nuôi sống bản thân và người phụ thuộc của họ, trợ giúp xã hội thích hợp, Nhà nước phải thực hiện hợp lý lập pháp và các biện pháp khác, trong phạm vi nguồn lực sẵn có của mình, để đạt được việc thực hiện tiến

bộ của từng quyền”

Hiến pháp bảo đảm quyền an sinh xã hội cho tất cả và hỗ trợ xã hội cho những người không có thể chăm sóc bản thân hoặc người phụ thuộc của họ Đây là một tính năng nổi bật của Hiến pháp Nam Phi Mặt khác, việc cung cấp các quyền này là phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực Do các nguồn lực của nhà nước còn hạn chế nên nếu nhà nước chỉ có nghĩa vụ phải thực hiện quyền trong nguồn lực sẵn có của mình, thì việc thực hiện các quyền sẽ phụ thuộc vào việc có bao nhiêu nguồn lực sẵn có được ưu tiên cho việc thực hiện an sinh xã hội so với chi tiêu cho giáo dục, kinh tế, quốc phòng

Trang 16

Hiến pháp cũng đòi hỏi chính phủ phải có các biện pháp pháp lý để đạt được việc thực hiện các quyền an sinh xã hội Toà án Hiến pháp đã giải thích điều này có nghĩa là nó có thể đánh giá cho dù các phương tiện được lựa chọn có hợp lý và

có khả năng tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền về kinh tế - xã hội hay không Nói cách khác, Tòa án Hiến pháp xác định một chính sách hợp lý bằng cách đánh giá khả năng

và mức độ các chính sách được dự kiến có thể cải thiện mọi thứ so với mong muốn Tòa án Hiến pháp xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá khả năng đáp ứng của một chính sách hoặc chương trình với các tiêu chí như sau:

- Chương trình phải đầy đủ, chặt chẽ và có tính phối hợp;

- Nguồn lực tài chính và con người phù hợp phải được tính toán sẵn cho các chương trình;

- Nó phải được cân bằng, linh hoạt và thực hiện phòng ngừa phù hợp cho các nhu cầu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;

- Nó phải được hình thành một cách hợp lý và được thực hiện; phải được minh bạch và công chúng phải biết được nội dung hoạt động và hiệu quả đạt được;

- Cuối cùng, hiến pháp cũng buộc các nhà nước để bảo vệ, phát huy và thực hiện các quyền nêu trong Tuyên ngôn quốc

tế nhân quyền của Liên hợp quốc Các tòa án đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực thi an sinh xã hội bằng cách làm nổi bật sự liên kết chặt chẽ giữa an sinh xã hội và các giá trị hiến pháp nền tảng của phẩm giá con người, bình đẳng và tự do trong quyết định của mình

(2) Nghiên cứu về hệ thống giám sát, đánh giá chính sách, pháp luật về an sinh xã hội: Ủy ban Kế hoạch - Kinh

tế - Tổng hợp của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Bănglađét (2015) đã chỉ ra rằng, hệ thống giám sát và

Trang 17

đánh giá hệ thống an sinh xã hội sẽ phục vụ ba loại mục tiêu chính:

- Mục tiêu chiến lược (strategicgoal) là chiến lược an sinh

xã hội đạt được mục tiêu của mình để giảm đói nghèo, bất bình đẳng; đồng thời, có đóng góp trong việc cải thiện sự phát triển của con người và tăng trưởng kinh tế toàn diện

- Mục tiêu hoạt động (operationalgoal) là làm thế nào có thể quản lý nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội

- Mục tiêu học tập (learninggoal) là những gì có thể học được từ việc thực hiện các chiến lược an sinh xã hội

Cơ sở dữ liệu trong hệ thống giám sát và đánh giá các chiến lược an sinh xã hội do đó sẽ được yêu cầu ở ba cấp độ khác nhau: (1) Giám sát chương trình cá nhân; (2) Giám sát quá trình chiến lược an sinh xã hội; (3) Đánh giá tác động của hệ thống an sinh xã hội

1) Giám sát các chương trình cá nhân trong chiến lược

an sinh xã hội là hoạt động nhằm mục đích thu thập và tổng hợp thông tin về các chỉ số hiệu suất như: số lượng khách hàng phục vụ; số lượng lợi ích trả tiền; lợi ích trung bình mỗi người nhận; giá trị lợi ích thực tế như tỷ lệ hộ gia đình, thu nhập bình quân đầu người; giá cả để chuyển một đơn vị giá trị

Họ cũng sẽ theo dõi hiệu quả trước mắt của các chương trình, dưới tiêu đề chung khác nhau như: hiệu quả kinh tế và

xã hội; nhưng cũng có thể, trong một số trường hợp, dưới tiêu

đề cụ thể hơn như: các tác dụng giáo dục (đối với các chương trình với mục tiêu giáo dục) hoặc các tác dụng dinh dưỡng (cho các chương trình sức khỏe hoặc mục tiêu dinh dưỡng) Ví dụ

về các loại chỉ số có thể được sử dụng để giám sát dựa trên kết quả của các tiêu chí như:

Trang 18

- Về hiệu quả kinh tế: tăng đầu tư hộ dân; chuyển đổi cơ

cấu lao động và việc làm trong nước và tiền lương; sự cải thiện về cơ hội kinh tế, tài chính

- Về tác động xã hội: gia tăng lòng tự trọng, sự tự tin và

tiếng nói cho những người hưởng lợi; trao quyền cho phụ nữ, tăng giá trị, trọng lượng lời nói của các đối tượng này trong việc ra quyết định; giảm khoảng cách về giới trong đầu tư giáo dục trẻ em

- Về tác động giáo dục: tuyển sinh tăng và được duy trì;

cải thiện tình hình tham dự lớp học; tăng, nâng bậc và chuyển trường thứ cấp

- Về tác dụng dinh dưỡng: kéo dài thời gian cho con bú

(1 - 12 tháng); tăng tính đa dạng trong chế độ ăn uống (6 - 23 tháng); chế độ ăn uống của trẻ được cải thiện (6 - 23 tháng) - bao gồm việc nuôi con bằng sữa mẹ và tần số, chất lượng bữa ăn; cải thiện mức độ đa dạng trong chế độ ăn uống (cho phụ

nữ trong độ tuổi sinh sản)

Phần lớn các thông tin cần thiết để theo dõi các chương trình cá nhân sẽ đến từ các hệ thống quản lý và báo cáo của từng chương trình Điều quan trọng là những thông tin được tích hợp để có thể chia sẻ, tổng hợp và so sánh Điều này không có nghĩa là nhất thiết phải có một hệ thống quản lý và báo cáo duy nhất, tách biệt giữa các chương trình, chiến lược

và cũng không có nghĩa là phải có một cơ sở dữ liệu thống nhất về đối tượng thụ hưởng, mà thường là không thực tế Thay vào đó, nó đòi hỏi việc sử dụng các chỉ số chung cho các chương trình, cho phép so sánh và tổng hợp dữ liệu, và một định chung cho từng đối tượng trên tất cả các cơ sở dữ liệu Một công cụ giám sát và đánh giá quan trọng trong việc giám sát các chương trình cá nhân sẽ được sử dụng tại chỗ để

Trang 19

kiểm tra độc lập và khách quan nhằm xác minh tính toàn vẹn của dữ liệu được tạo ra thông qua các chương trình cá nhân 2) Giám sát là việc thực hiện tổng thể chiến lược an sinh xã hội tự giám sát và đánh giá trong lĩnh vực này sẽ trả lời những câu hỏi như: Làm chiến lược đạt được hưởng lợi? Làm chiến lược loại trừ mục đích hưởng lợi? Các kết quả mong muốn do chiến lược tạo ra? Tác động vào phần còn lại của dân số là gì?

Có cách tốt hơn để thiết kế các thành phần của chiến lược không? Chiến lược được quản lý có hiệu quả hơn không? Có các nguồn lực phân bổ có được chi tiêu một cách hiệu quả không? Hoạt động tài chính có theo thiết kế chiến lược không?

Điều này đòi hỏi các chỉ số cho phép theo dõi các khía cạnh tài chính, hoạt động và thể chế của chiến lược

- Về khía cạnh tài chính: Bao gồm các chỉ số như: tỷ lệ

phần trăm chi an sinh xã hội trên GDP; tỷ lệ phần trăm chi

an sinh xã hội của tổng chi tiêu công; tỷ lệ phần trăm chi hành chính so với tổng chi phí chương trình

- V ề khía cạnh hoạt động: Bao gồm các chỉ số như: số

hưởng lợi từ dịch vụ; số lượng lợi ích trả bằng tiền; lợi ích trung bình mỗi người nhận được; tỷ lệ phần trăm người hưởng lợi so với dân số

- Về khía cạnh thể chế: Bao gồm các chỉ số như: số lượng

cán bộ làm việc trong lĩnh vực này; số lượng nhân viên (ở cấp trung ương và cấp địa phương) được đào tạo; khả năng cải thiện tổng thể các mục tiêu, giải ngân, giao hàng và quản lý rủi ro hệ thống; nâng cao mức đáp ứng nhu cầu bổ sung; nâng cao phản ứng phía cung; nâng cao hiệu suất của chính phủ để duy trì và tiếp tục với chiến lược an sinh xã hội

3) Đánh giá tác động của hệ thống an sinh xã hội: Đây là vấn đề quan trọng nhất, làm nền cho sự ra đời của phương

Trang 20

pháp tiếp cận dựa vào hiệu quả hoạt động, đó là sự đánh giá tác động tổng thể của hệ thống an sinh xã hội; xem xét các vấn đề về tính hiệu quả và hiệu quả của chiến lược an sinh xã hội trong việc đạt được mục tiêu của nó và những tác động dài hạn ở các khu vực khác nhau như các chỉ số kinh tế, xã hội, giáo dục và dinh dưỡng Có thể được đề xuất theo các nhóm khác nhau dưới đây:

- V ề hiệu quả: giảm phần trăm tỷ lệ đói nghèo; giảm phần

trăm khoảng cách nghèo; giảm sự bất bình đẳng, dựa trên hệ

số gini1 hoặc đo lường khác; chi phí mỗi lần cắt giảm đơn vị khoảng cách nghèo;

- Tác động kinh tế: tăng chi tiêu hộ gia đình; tăng tiết

kiệm và giảm nợ; tăng đầu tư sản xuất hoặc kinh tế của hộ gia đình; tăng hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người

- Tác động xã hội: chuyển biến trong thái độ của giới xã

hội; lựa chọn sinh kế cải thiện và cơ hội; cải thiện thái độ đối với giáo dục của trẻ em gái

- Tác động giáo dục: giảm bất bình đẳng giới, cải thiện

kết quả học tập và thành tích học tập; số học sinh đến trường trung học và đại học cao hơn; tăng số năm đi học, giảm tình trạng lưu ban

- Tác động dinh dưỡng: tăng các chỉ số cải thiện sức khỏe

và dinh dưỡng (tiêm chủng, tỷ lệ mắc bệnh, đa dạng chế độ

ăn uống, lượng calo); giảm tình trạng thấp còi; giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh

(3) Nghiên cứu về giám sát của cơ quan dân cử trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội: Maarse và

1 Hệ số gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong thu nhập trên nhiều vùng miền, tầng lớp của một đất nước

Trang 21

cộng sự (2005) trình bày kết quả nghiên cứu so sánh quốc tế giám sát việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế xã hội Các quốc gia được nghiên cứu bao gồm: Bỉ, Đức, Thụy Sĩ và Hà Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc thể chế giám sát giữa các quốc gia này có nhiều sự khác biệt, nhưng các mục tiêu của giám sát thì có sự giống nhau nhất định như: bảo đảm tính hợp pháp của việc thực hiện; bảo đảm sự tin cậy và

ổn định; bảo đảm tính hiệu quả và hỗ trợ hoạch định chính sách Việc thực hiện quá trình giám sát tập trung vào ba nội dung: thu thập thông tin, đánh giá hiệu quả hoạt động của giám sát và can thiệp để điều chỉnh hành vi sai lệch Nghiên cứu cũng đề xuất những thay đổi trong việc giám sát, đặc biệt là tác động của thị trường cạnh tranh trong giám sát chính sách bảo hiểm y tế xã hội Nghiên cứu còn cho rằng, thị trường cạnh tranh sẽ làm thay đổi đáng kể vai trò của các cơ quan giám sát bảo hiểm y tế xã hội

Trang 22

nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Báo cáo nghiên cứu quy trình giám sát của Quốc hội của Văn phòng Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) (2013) đã đưa ra các cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và thực trạng quy trình, một số giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của Quốc hội và các cơ quan dân cử nói chung; tuy nhiên, vẫn chưa có quy trình giám sát cho các chính sách, pháp luật đối với an sinh xã hội

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân với 5 chương và 91 điều, quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; hội đồng nhân dân, thường trực hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng nhân dân, tổ đại biểu hội đồng nhân dân

và đại biểu hội đồng nhân dân; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động giám sát là văn bản pháp lý trao quyền giám sát cho Quốc hội và các cơ quan dân cử Luật được ban hành nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm sự thống nhất, khoa học trong xác định đối tượng, phạm vi, thẩm quyền, trình tự giám sát của từng chủ thể giám sát; bảo đảm quyền, trách nhiệm của chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát; phát huy vai trò của giám sát, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước,

Cho đến nay, vấn đề giám sát thực thi chính sách, pháp luật ở nước ta đã được nhiều công trình nghiên cứu, cả dưới góc độ chung và đi vào từng cơ chế, hình thức, chủ thể, đối tượng của hoạt động giám sát

Trang 23

Cuốn sách Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện

quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay do Đào Trí Úc và Võ

Khánh Vinh đồng chủ biên tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà khoa học về giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước Từ phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập trong hoạt động thực tiễn của cơ chế giám sát quyền lực nhà nước

ở Việt Nam, các tác giả chỉ rõ sự khác biệt giữa giám sát bên trong hệ thống quyền lực nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước và giám sát bên ngoài, không mang tính quyền lực nhà nước1

Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng Về cơ

chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam là công

trình đi sâu phân tích về cơ chế pháp lý giám sát đối với các hoạt động tư pháp bên trong nhà nước Công trình đã làm

rõ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp; phân tích quá trình hình thành, phát triển và thực trạng cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam; từ đó nêu lên những yêu cầu cấp thiết, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý, giám sát hoạt động

tư pháp ở Việt Nam hiện nay2

Cuốn sách Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt

Nam - Vấn đề và giải pháp của Nguyễn Sỹ Dũng và Vũ Công

Giao (2015) đã phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử trên cơ sở phân tích sự hình

1 Xem Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên): Giám sát và cơ

chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003

2 Xem Nguyễn Chí Dũng: Về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư

pháp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc

gia Hồ Chí Minh, 2009

Trang 24

thành chức năng giám sát ở nghị viện các nước trên thế giới

và của cơ quan dân cử ở Việt Nam; phân tích các quan niệm

về hoạt động giám sát; đối tượng của hoạt động giám sát; các công cụ được sử dụng trong hoạt động giám sát; mối quan hệ giữa hoạt động giám sát với các hoạt động khác của nghị viện

và hệ quả trách nhiệm của hoạt động giám sát Trên cơ sở đó, cuốn sách phân tích thực trạng hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam, đã làm rõ thực trạng và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của phạm vi hoạt động giám sát, của chủ thể giám sát, của công cụ giám sát, của các điều kiện đảm bảo thực hiện hoạt động giám sát Từ

đó, tác giả đã khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân

cử ở Việt Nam những năm tới1

Trương Thị Hồng Hà trong bài viết “Thực hiện pháp luật

về giám sát của Quốc hội - Thực trạng và vấn đề đặt ra” đã làm rõ hình thức phương pháp giám sát của Quốc hội, nêu ra những bất cập của các hình thức giám sát như: hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội, hình thức giám sát văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hình thức giám sát thông qua việc thành lập các đoàn giám sát tại địa phương, hình thức giám sát giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân, hình thức xét báo cáo; hình thức thành lập ủy ban lâm thời Bài viết cũng đã làm rõ trình tự, thủ tục của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội và cho

1 Xem Nguyễn Sỹ Dũng, Vũ Công Giao (đồng chủ biên): Hoạt động

giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam - Vấn đề và giải pháp,

Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015

Trang 25

rằng, trình tự, thủ tục của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội thời gian vừa qua còn bộc lộ những yếu kém và cần được giải quyết kịp thời nhằm nâng cao tính hiệu quả, thiết thực trong hoạt động giám sát của Quốc hội nước

ta1 Đồng thời, bài viết đã tiến hành đánh giá hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta trong thời gian qua và đặt ra những vấn đề nhằm đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội

Bài viết “Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội” của Trần Tuyết Mai cho thấy mục đích, nội dung giám sát của Quốc hội là nhằm bảo đảm cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh

và thống nhất Nội dung giám sát của Quốc hội bao gồm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp pháp đối với nội dung các văn bản do các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội ban hành cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước; thẩm quyền của các chủ thể thực hiện hoạt động giám sát, các hình thức giám sát2

Trong bài viết “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”, tác giả Bùi Sỹ Lợi cho rằng chức năng giám sát của Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Sẽ là thiếu hiệu quả nếu chỉ dừng lại ở việc sửa đổi các quy định pháp luật mà không tính đến các biện pháp bảo đảm cho hoạt động giám sát hiệu lực, hiệu quả Bài viết làm rõ các quy định hiện hành của pháp luật về

1 Xem Trương Thị Hồng Hà: “Thực hiện pháp luật về giám sát của Quốc hội - Thực trạng và những vấn đề đặt ra” tạp chí Nghiên cứu luật

pháp, 2009

2 Xem Trần Tuyết Mai: “Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội”, Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, số 01 (24), 2016

Trang 26

chức năng giám sát tối cao của Quốc hội như: nội dung và đối tượng giám sát; thẩm quyền, chủ thể giám sát; về các căn cứ thực hiện quyền giám sát; về các hình thức giám sát ; đồng thời làm rõ thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội nước

ta hiện nay, chỉ ra những mặt được và những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đã chỉ ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội như: (1) tiếp tục xây dựng, ban hành và cụ thể hóa các quy định pháp luật về hoạt động giám sát để xác định rõ, cụ thể phạm vi, thẩm quyền, đối tượng giám sát của chủ thể thực hiện quyền giám sát; (2) biện pháp tổ chức thu thập thông tin phục vụ giám sát; (3) thuê tổ chức đánh giá độc lập; (4) đổi mới hình thức, phương pháp, cách thức tổ chức giám sát; đổi mới hoạt động chất vấn; (5) nâng cao chất lượng báo cáo kết quả giám sát; (6) ban hành nghị quyết về nội dung giám sát làm cơ sở khắc phục hạn chế, tồn tại; 7) chú ý đến các điều kiện thực hiện như quỹ thời gian, chất lượng nhân lực”1

(2) Nghiên cứu về giám sát xã hội của các tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

và các đoàn thể

Cuốn sách Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động

của bộ máy Đảng và Nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do Đào Trí Úc chủ biên là công trình nghiên cứu chuyên

sâu của nhiều tác giả về cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước Các tác giả tập trung phân tích một cách khoa học, có hệ thống về bản chất

1 Bùi Sỹ Lợi: “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội”, quochoi.vn, ngày 09/12/2015

Trang 27

nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và yêu cầu xây dựng cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta Xác định vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ các chủ thể là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên trong cơ chế nhân dân giám sát Đảng và Nhà nước cũng như thực trạng của cơ chế này ở nước ta Cuốn sách đã tìm hiểu kinh nghiệm một số nước trên thế giới về hình thức giám sát của nhân dân trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước và đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước1

Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Mạnh Bình, Hoàn

thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay Đây là công trình

tác giả đi sâu vào phân tích, luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như yêu cầu hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam Luận án đã nêu rõ thể chế pháp lý là một yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta, phân biệt thể chế với thiết chế Tuy nhiên, luận án này chỉ đề cập đến cơ chế và thể chế pháp lý giám sát

xã hội - một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước2

1 Xem Đào Trí Úc (chủ biên): Cơ chế giám sát của nhân dân đối với

hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia - Sự

thật, Hà Nội, 2010

2 Xem Nguyễn Mạnh Bình: Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã

hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận

án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2009

Trang 28

Luận án Tiến sĩ Luật học của Hoàng Minh Hội Hoàn

thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước của Việt Nam đã nghiên cứu khá hoàn

chỉnh về cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay1

Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu

về vấn đề này, đã góp phần phân tích về các chủ thể, nội dung, hình thức giám sát thực thi chính sách, pháp luật từ phía nhân dân ở Việt Nam

(3) Nghiên cứu về vấn đề giám sát của cơ quan dân cử thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội

An sinh xã hội có mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ giảm nghèo bền vững và bảo đảm an ninh con người trước mọi rủi ro trong cuộc sống Khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường thì rủi ro đối với những đối tượng yếu thế càng nhiều hơn Chính vì điều đó, Đảng và Nhà nước đã xem phát triển

hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm an sinh cho mọi người dân là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hệ thống an sinh xã hội mang tính đa ngành và đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng biệt về các lĩnh vực khác nhau (về hỗ trợ tạo việc làm; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, xóa đói, giảm nghèo ) do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực

1 Xem Hoàng Minh Hội: Hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân

dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ

Luật học, Học viện Hành chính Quốc gia, 2014

Trang 29

hiện Các nghiên cứu này đã hỗ trợ phát triển hệ thống lý luận về an sinh xã hội và có nhiều đóng góp đáng ghi nhận cho xây dựng chính sách Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu riêng biệt về an sinh xã hội ở Việt Nam cùng với việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 đã đưa ra khái niệm về an sinh xã hội là: “An sinh xã hội là một hệ thống các chính sách

và chương trình do Nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình

và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản” Đây

là khái niệm đã nhận được sự đồng thuận cao của các ngành, các cấp, các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, nó vừa bảo đảm khả năng so sánh quốc tế vừa phù hợp với bối cảnh của Việt Nam và là cơ sở để phát triển một hệ thống an sinh xã hội cho mọi người dân Chiến lược an sinh xã hội cũng đề cập đến việc phải tăng cường giám sát hoạt động của hệ thống và kết quả thực hiện, đồng thời đã đề ra hệ thống gồm 23 chỉ tiêu cơ bản về an sinh xã hội để theo dõi hằng năm

Báo cáo RIM 20131 trình bày các phát hiện về mức độ đáp ứng của hệ thống chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh kinh tế đình trệ kéo dài Các phân tích chỉ ra nguyên nhân vì sao các chính sách đối phó với các tác động còn yếu và chỉ ra

1 Báo cáo RIM là báo cáo đánh giá tác động suy giảm tăng trưởng kinh tế đến việc làm và vai trò của hệ thống an sinh xã hội do Viện Khoa học, Lao động và Xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện

Trang 30

những khoảng trống trong thực thi chính sách là do việc giám sát việc tuân theo Hiến pháp của Quốc hội và các cơ quan dân cử ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập Ví dụ như: chưa xác định cụ thể đối tượng chịu giám sát Hiến pháp, quy định chưa rõ ràng, cụ thể nội dung giám sát Hiến pháp của Quốc hội và các cơ quan dân cử trong các văn bản quy phạm pháp luật; quy trình ban hành nghị quyết áp dụng chế tài xử lý hành vi, văn bản quy phạm pháp luật vi hiến của Quốc hội cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn Đặc biệt, cần xác định rõ ràng thẩm quyền ra phán quyết, áp dụng chế tài đối với hành vi vi hiến thuộc về Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thể hiện tập trung nhất đại diện ý chí của nhân dân

Trong một số đề tài nghiên cứu khoa học như: Luận cứ

khoa học xây dựng chiến lược về ưu đãi xã hội và bảo trợ xã hội do Đặng Kim Chung làm chủ nhiệm; Đổi mới chính sách

và cơ chế trợ giúp xã hội cho phù hợp với bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế và Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật người khuyết tật: do Nguyễn Hải Hữu làm

chủ nhiệm; Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế, mô

hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; và Xây dựng bộ chỉ số theo dõi, đánh gia hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội và xóa đói, giảm nghèo do Nguyễn

Thị Lan Hương làm chủ nhiệm đã đưa ra một bức tranh tổng quan về hệ thống an sinh xã hội, tính thiết yếu cần có sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân cử đối với các chính sách, pháp luật về an sinh xã hội Đề tài cấp nhà nước do Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm: Cơ sở khoa học của việc xây

dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015, đề tài cấp nhà nước (2009) thuộc Chương

Trang 31

trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước; bài viết của Nguyễn Hữu Dũng “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập”, Tạp

chí Lao động xã hội (số 332), tháng 4/2008 cũng đã làm rõ cơ

sở lý luận và các quan điểm, chính sách an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đánh giá thực trạng của hệ thống an sinh xã hội và việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay; một số tồn tại trong việc thực thi chính sách an sinh xã hội do thiếu sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan dân cử; từ đó, giải pháp cần tăng cường giám sát của các cơ quan nhà nước đối với chính sách an sinh xã hội ở nước ta

Trong bài viết Bảo đảm an sinh xã hội toàn dân và việc

sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Bùi Sỹ Lợi (2016) cũng đã đề

cập đến vấn đề cần phải giám sát thực hiện chính sách an sinh xã hội Theo đó tác giả cho rằng, các chính sách quy định phải bảo đảm mức an sinh tối thiểu cho các thành viên trong xã hội, đồng thời các chính sách phải có sự liên thông

và hướng tới xây dựng hệ thống tổ chức thực hiện, xác định đối tượng chi trả và giám sát thống nhất

Ngày 02/6/2011, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 31/2011/QĐ-TTg quy định việc công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội Quyết định này quy định phải công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội trong các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,

Trang 32

trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, ưu đãi đối với người có công; vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn

Tại khoản 4, Điều 3 của Quyết định ghi rõ: “Giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện, bảo đảm tính chính xác, kịp thời và hiệu quả”

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện pháp luật về an sinh

xã hội phải công khai các quy định pháp luật an sinh xã hội; điều kiện, tiêu chuẩn của đối tượng thụ hưởng; hồ sơ, quy trình, phương pháp lựa chọn đối tượng thụ hưởng, thời gian thực hiện; danh sách đối tượng, thứ tự ưu tiên, mức được thụ hưởng Các chủ thể này có thể lựa chọn trong số bảy hình thức công khai sau: (1) công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; (2) niêm yết tại trụ sở làm việc; (3) thông báo bằng văn bản đến các chủ thể có liên quan; (4) phát hành ấn phẩm; (5) thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; (6) đăng tải trên trang thông tin điện tử; (7) cung cấp thông tin theo yêu cầu của

cơ quan, tổ chức, cá nhân Thời gian công khai, minh bạch ít nhất là 5 ngày kể từ ngày thực hiện

Để thực hiện việc công khai, minh bạch thực hiện theo đúng tinh thần Quyết định số 31/2011/QĐ-TTg, cần tăng cường công tác kiểm tra của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội và cơ quan, tổ chức thực hiện việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân Việc kiểm tra này nhằm nắm bắt kịp thời những khó khăn, vướng mắc

Trang 33

trong quá trình thực hiện; phòng ngừa vi phạm pháp luật và xem xét, đánh giá hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về

an sinh xã hội

Đồng thời, việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh

xã hội cũng chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội, cơ quan truyền thông, báo chí và người dân

3 Một số nhận xét từ tổng quan các công trình đã nghiên cứu

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho

thấy hoạt động giám sát của cơ quan dân cử trong thực thi chính sách, pháp luật nói chung là tất yếu để bảo đảm cho việc đưa pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh

Thứ hai, các nghiên cứu ở các nước trên thế giới bên cạnh

việc khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội, đã có sự đánh giá việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội khá cụ thể; đây là gợi ý cho việc nghiên cứu vấn đề giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam

Thứ ba, ở nước ta, các quy định trong Hiến pháp và các

văn bản pháp luật đã ghi nhận khá đầy đủ và rõ ràng chức năng giám sát của Quốc hội và phương thức để thực hiện chức năng đó Đã có nhiều nghiên cứu về giám sát của cơ quan dân

cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật nói chung Nhiều

ý kiến cho rằng, những quy định hiện hành trong Hiến pháp

Trang 34

và các văn bản pháp quy đã tạo nên một “cây gậy pháp lý” cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong quá trình thực hiện quyền giám sát Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và cá nhân mỗi đại biểu Quốc hội nói riêng lại phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố, không chỉ phụ thuộc vào các quy định pháp luật hiện hành như nội dung và đối tượng giám sát, thẩm quyền và chủ thể giám sát, về các căn cứ thực hiện quyền giám sát, về các hình thức giám sát, mà còn phụ thuộc vào nhận thức, động lực, năng lực và kỹ năng của các chủ thể và vấn đề an sinh xã hội còn chưa được chú trọng nhiều

Thứ tư, tuy nhiên cho đến nay, những nghiên cứu của các

tác giả trong nước đều mới dừng ở việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với thực hiện quyền lực nói chung

Trong lĩnh vực an sinh xã hội, các bài viết và nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở nhu cầu giám sát an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách xã hội, mới chỉ nghiên cứu về thực hiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội Cho đến nay, chưa

có một công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích cơ sở lý luận cho hoạt động giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội Nói cách khác, lý luận và thực tiễn giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện đang là khoảng trống Do vậy cần phải có nghiên cứu, khảo sát chủ đề này một cách có

hệ thống, trên phạm vi rộng hơn và chuyên sâu hơn về khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc, phương thức, hình thức, nội dung, nhân tố ảnh hưởng và hiệu quả của giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội

Trang 35

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ GIÁM SÁT

CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

VỀ AN SINH XÃ HỘI

I- CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI

1 An sinh xã hội

1.1 Khái niệm

Có nhiều quan niệm khác nhau về an sinh xã hội:

Theo Liên hợp quốc, an sinh xã hội được tiếp cận trên quyền con người và được quy định tại Điều 25, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1948: “Mọi người dân và hộ gia đình đều

có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm: ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già hoặc các trường hợp bất khả kháng khác ”

Theo Ngân hàng Thế giới (WB): An sinh xã hội là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác

Trang 36

động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc

tử vong Cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng cho rằng: An sinh xã hội là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập Theo đó, an sinh xã hội có 5 thành phần: (1) các chính sách

và chương trình thị trường lao động; (2) bảo hiểm xã hội; (3) trợ giúp xã hội; (4) quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng và (5) bảo

vệ trẻ em

Năm 2009, Liên hợp quốc phát triển sáng kiến “sàn an sinh xã hội” với mục đích bảo đảm cho mọi người dân có mức thu nhập tối thiểu và tiếp cận được các dịch vụ xã hội thiết yếu, nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của con người được quốc tế và quốc gia thừa nhận, vì mục tiêu giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội Các cấu phần chính của “sàn an sinh

xã hội” bao gồm: (1) chăm sóc sức khỏe cơ bản; (2) thu nhập tối thiểu cho người trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng tạo thu nhập vĩnh viễn (người khuyết tật), hoặc

Trang 37

mất việc làm tạm thời (người bị thất nghiệp), hoặc thu nhập thấp hơn mức đủ sống (người nghèo); (3) thu nhập tối thiểu đối với người trên tuổi lao động (người cao tuổi) và dưới tuổi lao động (trẻ em)

Bên cạnh đó, “sàn an sinh xã hội” cũng nhấn mạnh đến các dịch vụ xã hội thiết yếu cho con người, bao gồm: (1) chăm sóc y tế cơ bản; (2) nước sinh hoạt hợp vệ sinh; (3) nhà ở; (4) giáo dục; (5) các dịch vụ khác, tùy theo ưu tiên của từng quốc gia

1.2 Đặc điểm chung

An sinh xã hội có những đặc điểm chung sau đây:

Thứ nhất, bản chất của an sinh xã hội là nhằm thực hiện

quyền cơ bản của con người, bảo đảm công bằng xã hội, góp phần xây dựng một xã hội hài hòa, đồng thuận, không có sự loại trừ, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước Đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân

Thứ hai, an sinh xã hội bảo đảm an toàn thu nhập ở mức

tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro, bao gồm các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con người như: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức tối thiểu đủ sống (được luật hóa hoặc quy định) Phấn đấu để có được một hệ thống an sinh xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi

ro xã hội không chỉ là mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia

mà còn là sự quan tâm chung của cộng đồng quốc tế

Trang 38

Thứ ba, các chính sách an sinh xã hội do nhà nước tổ

chức thực hiện là chính; ngoài ra, còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội Như vậy, an sinh xã hội dựa trên cơ sở chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước, xã hội và người dân, giữa các cá nhân, các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và biện pháp khác nhau, với mục tiêu bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội được bình đẳng về khả năng tiếp cận dịch vụ và chất lượng dịch vụ; trong đó, ưu tiên và nhấn mạnh đến nhóm đối tượng yếu thế

Thứ tư, an sinh xã hội là lưới an toàn cho mọi thành viên

trong xã hội An sinh xã hội có nội dung rất rộng và ngày càng được hoàn thiện trong quá trình nhận thức thực tiễn trong bối cảnh xã hội luôn biến đổi và phát triển không ngừng Phát triển hệ thống an sinh xã hội là tạo ra một lưới

an toàn gồm nhiều tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ nhau cho mọi thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau bởi những “rủi ro xã hội” Do đó, phạm vi của an sinh xã hội là bao phủ toàn dân và toàn diện (cơ bản đáp ứng được nhu cầu an sinh xã hội của người dân một cách toàn diện)

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới về phát triển hệ thống an sinh xã hội,

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra nhiều công ước và khuyến nghị về phát triển mạng lưới an sinh xã hội ở các

Trang 39

quốc gia thành viên, trong đó phải kể tới Công ước số 102 năm 1952 Quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội

Các nguyên tắc cơ bản đối với phát triển hệ thống an sinh

xã hội theo hướng toàn dân, mọi người được quyền bảo đảm an sinh và tiếp cận hệ thống an sinh xã hội; có sự chia sẻ trên cơ

sở gắn bó, đoàn kết, liên kết, tương trợ, bù đắp giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội và nhà nước; công bằng và bền vững, gắn trách nhiệm và quyền lợi, giữa đóng và hưởng; tăng cường trách nhiệm các chủ thể, thúc đẩy các nỗ lực tự an sinh của bản thân người dân, gia đình, cộng đồng

2 Chính sách, pháp luật về an sinh xã hội

2.1 Khái niệm

Chính sách, pháp luật về an sinh xã hội là một loại hình chính sách được thể chế hóa bằng pháp luật nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và phạm vi không gian nhất định; trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước

Trong cuốn sách An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới

năm 2020, các tác giả cho rằng: Chính sách an sinh xã hội

là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội

Trong cuốn sách Chính sách an sinh xã hội và vai trò của

nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở

Trang 40

Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Chiểu cho rằng: Chính sách

an sinh xã hội là những biện pháp bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả, không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội

Xuất phát từ đặc điểm của an sinh xã hội, chúng tôi quan niệm chính sách, pháp luật về an sinh xã hội là hệ thống chủ

trương, phương hướng và biện pháp của nhà nước nhằm bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh

tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cả cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa Đây là hệ thống chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội

2.2 Vai trò

Mục tiêu của chính sách, pháp luật về an sinh xã hội được thể hiện ở hai khía cạnh đối với nhà nước và đối với nhân dân

- Đối với nhà nước và cộng đồng, chính sách, pháp luật về

an sinh xã hội là một trong những hợp phần quan trọng trong chương trình xã hội của một quốc gia và là một công cụ

Ngày đăng: 23/11/2023, 16:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Mạnh Bình: “Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bình
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2010
3. Trần Thanh Bình: “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động nhân dân thực hiện giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động nhân dân thực hiện giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Trần Thanh Bình
Nhà XB: tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2003
4. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: Đề án Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020
7. Mai Ngọc Cường (Chủ biên): Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
8. Mai Ngọc Cường (Chủ nhiệm đề tài): Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015, Đề tài cấp nhà nước, Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2009
9. Mai Ngọc Cường: “Nhà nước với việc mở rộng phạm vi bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện”, tạp chí Kinh tế và phát triển, số 208 (II), 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước với việc mở rộng phạm vi bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện”, tạp chí "Kinh tế và phát triển
10. Mai Ngọc Cường: Những giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội cho người dân vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Đề tài trọng điểm cấp bộ, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội cho người dân vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
11. Nguyễn Hữu Chí: “Chính sách pháp luật về lao động, việc làm và thu nhập nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam”, tạp chí Luật học, tháng 3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách pháp luật về lao động, việc làm và thu nhập nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Nhà XB: tạp chí Luật học
Năm: 2015
12. Nguyễn Hữu Chí: Sửa đổi, bổ sung Điều 60, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 dưới góc nhìn quan hệ lao động tập thể, tạp chí Dân chủ và pháp luật, tháng 9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và pháp luật
13. Mai Sỹ Diến: “‘Tình hình xây dựng chương trình và tổ chức giám sát về thực thi chính sách xã hội của đoàn đại biểu Quốc hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2017”, tại Tọa đàm Nghiên cứu nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình xây dựng chương trình và tổ chức giám sát về thực thi chính sách xã hội của đoàn đại biểu Quốc hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2017
Tác giả: Mai Sỹ Diến
Nhà XB: Tọa đàm Nghiên cứu nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
14. Nguyễn Đăng Dung: “Nội dung các quy định về Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013”, in trong sách Viện Chính sách công và pháp luật: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Viện Chính sách công và pháp luật
Năm: 2014
15. Nguyễn Sỹ Dũng: Quyền giám sát của Quốc hội, nội dung và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền giám sát của Quốc hội, nội dung và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
16. Nguyễn Sỹ Dũng và Vũ Công Giao: Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Sỹ Dũng, Vũ Công Giao
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2015
17. Nguyễn Sỹ Dũng: “Giám sát về an sinh xã hội của nghị viện các nước trên thế giới”, in trong Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới và nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030, Đề tài KX01.24/16-20, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới và nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030
Tác giả: Nguyễn Sỹ Dũng
Năm: 2020
18. Nguyễn Chí Dũng: Cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam
19. Nguyễn Hữu Dũng: “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập”, tạp chí Lao động xã hội, số 332, tháng 4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: tạp chí Lao động xã hội
Năm: 2008
20. Nguyễn Hữu Dũng: “Yêu cầu, quan điểm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam”, in trong Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu, quan điểm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới
21. Nguyễn Thị Doan: “Tăng cường giám sát trong Đảng”, tạp chí Cộng sản, số 22, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường giám sát trong Đảng
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: tạp chí Cộng sản
Năm: 2004
22. Chu Dương: Thể chế nhà nước của các quốc gia trên thế giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế nhà nước của các quốc gia trên thế giới
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
23. Mai Thế Dương: Tăng cường công tác giám sát của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác giám sát của Đảng
Tác giả: Mai Thế Dương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mô hình cấu trúc của hệ thống an sinh xã - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Mô hình cấu trúc của hệ thống an sinh xã (Trang 47)
Sơ đồ 1.2: Mô hình cấu trúc hệ thống chính sách, - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Sơ đồ 1.2 Mô hình cấu trúc hệ thống chính sách, (Trang 48)
Bảng 2.2: Tổng hợp giám sát tối cao của Quốc hội - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.2 Tổng hợp giám sát tối cao của Quốc hội (Trang 165)
Bảng 2.3: Thống kê hoạt động giám sát chuyên đề của - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.3 Thống kê hoạt động giám sát chuyên đề của (Trang 169)
Bảng 2.5: Tổng hợp các hình thức giám sát - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.5 Tổng hợp các hình thức giám sát (Trang 174)
Bảng 2.7: Các chủ đề giám sát an sinh xã hội - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.7 Các chủ đề giám sát an sinh xã hội (Trang 181)
Bảng 2.9: Kết quả thực hiện mục tiêu việc làm - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.9 Kết quả thực hiện mục tiêu việc làm (Trang 189)
Bảng 2.12: Kết quả thực hiện mục tiêu nhà ở tối thiểu - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.12 Kết quả thực hiện mục tiêu nhà ở tối thiểu (Trang 193)
Bảng 2.13: Kết quả thực hiện mục tiêu - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.13 Kết quả thực hiện mục tiêu (Trang 195)
Bảng 2.15: Kết quả thực hiện mục tiêu - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.15 Kết quả thực hiện mục tiêu (Trang 197)
Bảng 2.16: Số lượng văn bản hướng dẫn thực hiện - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.16 Số lượng văn bản hướng dẫn thực hiện (Trang 207)
Bảng 2.18: Kinh phí thực hiện các chương trình - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.18 Kinh phí thực hiện các chương trình (Trang 213)
Sơ đồ 2.1: Các bước hội đồng nhân dân - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Các bước hội đồng nhân dân (Trang 232)
Bảng 2.26: Tập hợp kết luận, kiến nghị giám sát - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Bảng 2.26 Tập hợp kết luận, kiến nghị giám sát (Trang 246)
Hình 3.1: Khung giám sát việc thực thi chính sách, - Ebook Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Hình 3.1 Khung giám sát việc thực thi chính sách, (Trang 378)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w