Giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ hoạt động này cung cấp những luận cứ khoa học để sửa đổi, bổ sung
Trang 2Chịu trách nhiệm xuất bản GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP GS.TS PHẠM MINH TUẤN Chịu trách nhiệm nội dung PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
ThS PHẠM THỊ THINH Biên tập nội dung:
TS NGUYỄN THỊ TRANG TRẦN PHAN BÍCH LIỄU
PHẠM DUY THÁI PHẠM THU HÀ PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
NGUYỄN THỊ TRANG NGUYỄN VIỆT HÀ
Số đăng ký xuất bản: 427-2021/CXBIPH/9-365/CTQG
Quyết định xuất bản số: 12-QĐ/NXBCTQG, ngày 18/02/2021
Trang 4Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Bùi Sỹ Lợi
Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam / Bùi Sỹ Lợi ch.b - H : Chính trị Quốc gia, 2020 - 452tr ; 24cm
Trang 6T ẬP THỂ TÁC GIẢ
TS BÙI SỸ LỢI (Chủ biên)
GS.TS MAI NGỌC CƯỜNG
GS.TS NGUYỄN ĐÌNH HƯƠNG PGS.TS LÊ QUỐC HỘI
PGS.TS HOÀNG VĂN CƯỜNG
GS.TSKH LƯƠNG XUÂN QUỲ
Trang 7L ỜI NHÀ XUẤT BẢN
iám sát của cơ quan dân cử là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội và hội đồng nhân dân Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân, từng bước đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước các cấp ngày càng được công khai, minh bạch
Giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật nói chung, chính sách, pháp luật về an sinh xã hội nói riêng là một trong những công việc quan trọng của các cơ quan dân cử và thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ hoạt động này cung cấp những luận cứ khoa học
để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; bảo đảm cho chính sách, pháp luật về an sinh xã hội được chấp hành, thực hiện nghiêm chỉnh trên phạm vi cả nước
Để góp phần làm rõ những vấn đề có ý nghĩa lý luận trong giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội trên cơ sở luận giải đặc điểm và bản chất, mục tiêu, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, phạm vi, hình thức, nội dung, nhân tố ảnh hưởng, quan niệm và các tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật G
Trang 8xuất bản cuốn sách Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan
dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam do TS Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Ủy
ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội làm chủ biên Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước nằm trong Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, các tác giả đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh
xã hội ở nước ta những năm tới Nội dung chính của cuốn sách gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả giám sát của cơ quan dân
cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; Chương II: Thực trạng về hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh
xã hội ở Việt Nam;
Chương III: Quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam trong những năm tới Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 10 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Giám sát của cơ quan dân cử là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội, Hội đồng nhân dân
Khoản 2, Điều 70, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ Quốc hội có nhiệm vụ: “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân
theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”
Khoản 8, Điều 19, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền:
“Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của thường trực hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, ban của hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của hội đồng nhân dân cấp huyện”
Khoản 4, Điều 26, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định hội đồng nhân dân huyện có thẩm quyền: “Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở
địa phương, việc thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân huyện; giám sát hoạt động của thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, ban của hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của ủy ban
Trang 10nhân dân cùng cấp và văn bản của hội đồng nhân dân cấp
Những quy định trên đây đã tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, từng bước đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn cuộc sống, đảm bảo cho hoạt động của quản lý nhà nước các cấp ngày càng được công khai, minh bạch
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân cũng vẫn còn nhiều hạn chế Những quy định pháp luật về chủ thể, đối tượng, nội dung, phạm vi, hình thức giám sát, còn nhiều bất cập Một loạt vấn đề như năng lực và trách nhiệm của chủ thể thực hiện giám sát; năng lực và nhận thức, mức độ tham gia của các đối tượng giám sát và của người dân; cách thức tổ chức thực hiện; các điều kiện thực hiện giám sát, chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động, đã làm cho hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội cũng như của hội đồng nhân dân chưa đạt được như mong muốn Điều này đang thể hiện ở mọi lĩnh vực của hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, trong đó có hoạt động giám sát thực thi chính sách, pháp luật an sinh xã hội
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề an sinh xã hội Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước đã ghi
Trang 11nhận những định hướng mục tiêu và các nội dung cốt lõi của chính sách bảo đảm an sinh xã hội Hiến pháp năm 2013 - Hiến pháp của thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế tại khoản 1, Điều 34 đã ghi rõ: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” Theo tinh thần của Hiến pháp, luật và các văn bản chính sách, pháp luật về an sinh xã hội trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và giảm nghèo, đã được ban hành, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội của người lao động, người già, người thất nghiệp, ốm đau bệnh tật và người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống
Mặc dù vậy, việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh
xã hội hiện đang còn nhiều bất cập: tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn thấp, tỷ lệ bao phủ của trợ giúp xã hội chưa cao Điều này đang là những thách thức đối với việc thực thi các quy định chính sách, pháp luật về
an sinh xã hội ở nước ta, đòi hỏi phải tăng cường giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội
Hiện nay, ở nước ta, chức năng giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội được thực hiện bởi nhiều tổ chức khác nhau như: Quốc hội, hội đồng nhân dân; cơ quan quản lý nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các đoàn thể chính trị - xã hội Tuy nhiên, việc phân định về nội dung, mục tiêu, phạm vi, hình thức cũng còn chưa thật rõ ràng, còn có sự chồng chéo Hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật an sinh xã hội chưa cao Theo đánh giá của Quốc hội, hoạt động giám sát, trong đó bao gồm giám sát việc thực thi chính sách an sinh xã hội vẫn là khâu yếu, có nhiều hạn chế, nhiều hoạt động còn hình thức, sự đổi mới còn chậm và hiệu quả chưa cao, chưa đáp
Trang 12ứng yêu cầu cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân Trong khi đó, lại chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này để tạo cơ sở lý luận cho việc giám sát thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội một cách có hiệu quả Chính
vì thế, nội dung cuốn sách Nâng cao hiệu quả giám sát của
cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam không những có ý nghĩa
thực tiễn mà còn có ý nghĩa lý luận cấp bách nhằm góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật
về an sinh xã hội ở nước ta
Về mặt lý luận, cuốn sách này sẽ góp phần làm rõ đặc điểm và bản chất, chủ thể, đối tượng, phạm vi, hình thức và nguyên tắc hoạt động giám sát; nội dung và nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giám sát; đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật an sinh xã hội
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở đánh giá được thực trạng giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội; từ đó, nhóm tác giả
đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta trong những năm tới Những khuyến nghị được đưa ra sẽ là luận cứ cho việc hoàn thiện các văn bản pháp quy và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2020 - 2030
Trang 13Xuất phát từ thực tế hoạt động giám sát thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, nội dung cuốn sách tập trung vào những điểm then chốt sau đây:
- Xây dựng được khung giám sát để phân định rõ chủ thể, đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thức, công cụ giám sát của cơ quan dân cử đối với thực thi chính sách, pháp luật về
an sinh xã hội
- Xây dựng quan điểm phương pháp luận và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta
- Trên cơ sở thực trạng hoạt động giám sát hiện nay, xác định quan điểm, phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật
về an sinh xã hội những năm tới
2 Giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật nói chung, pháp luật về an sinh xã hội nói riêng là một trong những mảng công việc quan trọng của các cơ quan dân
cử và thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
a) Trên thế giới
Thứ nhất, về vấn đề giám sát của cơ quan dân cử:
Elizabeth (2012) đã đề cập đến khái niệm, ý nghĩa của hoạt động giám sát của quốc hội và các cơ quan dân cử đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật Nghiên cứu đã chỉ
ra rằng, giám sát được áp dụng nhằm đánh giá chất lượng đầu ra của các quyết sách, thẩm định chính sách hoặc việc thực hiện chính sách, pháp luật Giám sát có thể phát hiện
sự lãng phí, thiếu hiệu quả của chính sách, thực hiện chính
Trang 14sách, pháp luật Bên cạnh đó, giám sát được coi là một cách thức để tăng cường tiếng nói của người thụ hưởng chính sách, pháp luật và cũng chính là một điều kiện để thực hiện chính sách, pháp luật thành công
Elcock (2005) nghiên cứu về các nguyên tắc giám sát của
cơ quan dân cử đối với việc thực hiện các chính sách, pháp luật Elcock chỉ ra rằng, giám sát của cơ quan dân cử cần dựa trên các nguyên tắc như: đảm bảo tính giải trình, dựa trên sự hài lòng của người dân, thu hút sự tham gia của công chúng và hướng đến tính hiệu quả, hiệu lực của chính sách, pháp luật
Nghiên cứu của Eilen (2010) về tăng cường giám sát của
cơ quan dân cử đối với thực hiện các chính sách, pháp luật ở Philíppin đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất, mức
độ, phạm vi, hiệu quả của công tác giám sát, bao gồm: mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, mối quan hệ giữa các cơ quan giám sát và cơ quan hành chính, hệ thống đảng phái chính trị của quốc gia và địa phương và năng lực giám sát của cơ quan dân cử
Elizabeth (2012) đã nghiên cứu các công cụ giám sát của cơ quan dân cử đối với thực hiện pháp luật và chính sách ở một số nước trên thế giới như Nam Phi, Tanzania, Philíppin và rút ra kết luận: Các cơ quan giám sát cần phải tìm kiếm, đa dạng hóa việc áp dụng các công cụ giám sát, bao gồm: xem xét báo cáo, tài liệu, sử dụng các tiểu ban giám sát, tổ chức các phiên điều trần và các công cụ giám sát về tài chính, ngân sách
Công trình nghiên cứu Chức năng giám sát của Quốc hội
trong nhà nước pháp quyền của Rainer (2011) đã đề xuất một
số kiến nghị nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội như: xác định chính xác về pháp luật và về thực tiễn mục
Trang 15đích, phạm vi, đối tượng, nội dung, công cụ, phương pháp giám sát Sau đó, cần tập trung vào các điều kiện bảo đảm cho việc giám sát có hiệu quả như: thành lập các thiết chế độc lập, thường xuyên hoặc lâm thời để thu thập thông tin và tổ chức đánh giá có hiệu quả hoạt động của cơ quan hành pháp (Ủy ban điều tra, Thanh tra của Quốc hội, Ủy ban thông tin )
Thứ hai, nghiên cứu về giám sát và đánh giá an sinh xã hội: (1) Nghiên cứu tính cấp thiết phải có sự giám sát, đánh giá chính sách, pháp luật về an sinh xã hội: Theo Stephanie
Brockerhoff (2013), quyền an sinh xã hội là một trong những quyền về kinh tế - xã hội được bảo đảm trong Hiến pháp Nam Phi, bao gồm một tập hợp rộng rãi của quyền trong Chương II dẫn trong Hiến pháp được dự báo là một trong những bản hiến pháp tiến bộ nhất trên thế giới: “Mọi người đều có quyền được tiếp cận với an sinh xã hội ; nếu họ không thể nuôi sống bản thân và người phụ thuộc của họ, trợ giúp xã hội thích hợp, Nhà nước phải thực hiện hợp lý lập pháp và các biện pháp khác, trong phạm vi nguồn lực sẵn có của mình, để đạt được việc thực hiện tiến
bộ của từng quyền”
Hiến pháp bảo đảm quyền an sinh xã hội cho tất cả và hỗ trợ xã hội cho những người không có thể chăm sóc bản thân hoặc người phụ thuộc của họ Đây là một tính năng nổi bật của Hiến pháp Nam Phi Mặt khác, việc cung cấp các quyền này là phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực Do các nguồn lực của nhà nước còn hạn chế nên nếu nhà nước chỉ có nghĩa vụ phải thực hiện quyền trong nguồn lực sẵn có của mình, thì việc thực hiện các quyền sẽ phụ thuộc vào việc có bao nhiêu nguồn lực sẵn có được ưu tiên cho việc thực hiện an sinh xã hội so với chi tiêu cho giáo dục, kinh tế, quốc phòng
Trang 16Hiến pháp cũng đòi hỏi chính phủ phải có các biện pháp pháp lý để đạt được việc thực hiện các quyền an sinh xã hội Toà án Hiến pháp đã giải thích điều này có nghĩa là nó có thể đánh giá cho dù các phương tiện được lựa chọn có hợp lý và
có khả năng tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền về kinh tế - xã hội hay không Nói cách khác, Tòa án Hiến pháp xác định một chính sách hợp lý bằng cách đánh giá khả năng
và mức độ các chính sách được dự kiến có thể cải thiện mọi thứ so với mong muốn Tòa án Hiến pháp xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá khả năng đáp ứng của một chính sách hoặc chương trình với các tiêu chí như sau:
- Chương trình phải đầy đủ, chặt chẽ và có tính phối hợp;
- Nguồn lực tài chính và con người phù hợp phải được tính toán sẵn cho các chương trình;
- Nó phải được cân bằng, linh hoạt và thực hiện phòng ngừa phù hợp cho các nhu cầu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;
- Nó phải được hình thành một cách hợp lý và được thực hiện; phải được minh bạch và công chúng phải biết được nội dung hoạt động và hiệu quả đạt được;
- Cuối cùng, hiến pháp cũng buộc các nhà nước để bảo vệ, phát huy và thực hiện các quyền nêu trong Tuyên ngôn quốc
tế nhân quyền của Liên hợp quốc Các tòa án đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực thi an sinh xã hội bằng cách làm nổi bật sự liên kết chặt chẽ giữa an sinh xã hội và các giá trị hiến pháp nền tảng của phẩm giá con người, bình đẳng và tự do trong quyết định của mình
(2) Nghiên cứu về hệ thống giám sát, đánh giá chính sách, pháp luật về an sinh xã hội: Ủy ban Kế hoạch - Kinh
tế - Tổng hợp của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Bănglađét (2015) đã chỉ ra rằng, hệ thống giám sát và
Trang 17đánh giá hệ thống an sinh xã hội sẽ phục vụ ba loại mục tiêu chính:
- Mục tiêu chiến lược (strategicgoal) là chiến lược an sinh
xã hội đạt được mục tiêu của mình để giảm đói nghèo, bất bình đẳng; đồng thời, có đóng góp trong việc cải thiện sự phát triển của con người và tăng trưởng kinh tế toàn diện
- Mục tiêu hoạt động (operationalgoal) là làm thế nào có thể quản lý nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội
- Mục tiêu học tập (learninggoal) là những gì có thể học được từ việc thực hiện các chiến lược an sinh xã hội
Cơ sở dữ liệu trong hệ thống giám sát và đánh giá các chiến lược an sinh xã hội do đó sẽ được yêu cầu ở ba cấp độ khác nhau: (1) Giám sát chương trình cá nhân; (2) Giám sát quá trình chiến lược an sinh xã hội; (3) Đánh giá tác động của hệ thống an sinh xã hội
1) Giám sát các chương trình cá nhân trong chiến lược
an sinh xã hội là hoạt động nhằm mục đích thu thập và tổng hợp thông tin về các chỉ số hiệu suất như: số lượng khách hàng phục vụ; số lượng lợi ích trả tiền; lợi ích trung bình mỗi người nhận; giá trị lợi ích thực tế như tỷ lệ hộ gia đình, thu nhập bình quân đầu người; giá cả để chuyển một đơn vị giá trị
Họ cũng sẽ theo dõi hiệu quả trước mắt của các chương trình, dưới tiêu đề chung khác nhau như: hiệu quả kinh tế và
xã hội; nhưng cũng có thể, trong một số trường hợp, dưới tiêu
đề cụ thể hơn như: các tác dụng giáo dục (đối với các chương trình với mục tiêu giáo dục) hoặc các tác dụng dinh dưỡng (cho các chương trình sức khỏe hoặc mục tiêu dinh dưỡng) Ví dụ
về các loại chỉ số có thể được sử dụng để giám sát dựa trên kết quả của các tiêu chí như:
Trang 18- Về hiệu quả kinh tế: tăng đầu tư hộ dân; chuyển đổi cơ
cấu lao động và việc làm trong nước và tiền lương; sự cải thiện về cơ hội kinh tế, tài chính
- Về tác động xã hội: gia tăng lòng tự trọng, sự tự tin và
tiếng nói cho những người hưởng lợi; trao quyền cho phụ nữ, tăng giá trị, trọng lượng lời nói của các đối tượng này trong việc ra quyết định; giảm khoảng cách về giới trong đầu tư giáo dục trẻ em
- Về tác động giáo dục: tuyển sinh tăng và được duy trì;
cải thiện tình hình tham dự lớp học; tăng, nâng bậc và chuyển trường thứ cấp
- Về tác dụng dinh dưỡng: kéo dài thời gian cho con bú
(1 - 12 tháng); tăng tính đa dạng trong chế độ ăn uống (6 - 23 tháng); chế độ ăn uống của trẻ được cải thiện (6 - 23 tháng) - bao gồm việc nuôi con bằng sữa mẹ và tần số, chất lượng bữa ăn; cải thiện mức độ đa dạng trong chế độ ăn uống (cho phụ
nữ trong độ tuổi sinh sản)
Phần lớn các thông tin cần thiết để theo dõi các chương trình cá nhân sẽ đến từ các hệ thống quản lý và báo cáo của từng chương trình Điều quan trọng là những thông tin được tích hợp để có thể chia sẻ, tổng hợp và so sánh Điều này không có nghĩa là nhất thiết phải có một hệ thống quản lý và báo cáo duy nhất, tách biệt giữa các chương trình, chiến lược
và cũng không có nghĩa là phải có một cơ sở dữ liệu thống nhất về đối tượng thụ hưởng, mà thường là không thực tế Thay vào đó, nó đòi hỏi việc sử dụng các chỉ số chung cho các chương trình, cho phép so sánh và tổng hợp dữ liệu, và một định chung cho từng đối tượng trên tất cả các cơ sở dữ liệu Một công cụ giám sát và đánh giá quan trọng trong việc giám sát các chương trình cá nhân sẽ được sử dụng tại chỗ để
Trang 19kiểm tra độc lập và khách quan nhằm xác minh tính toàn vẹn của dữ liệu được tạo ra thông qua các chương trình cá nhân 2) Giám sát là việc thực hiện tổng thể chiến lược an sinh xã hội tự giám sát và đánh giá trong lĩnh vực này sẽ trả lời những câu hỏi như: Làm chiến lược đạt được hưởng lợi? Làm chiến lược loại trừ mục đích hưởng lợi? Các kết quả mong muốn do chiến lược tạo ra? Tác động vào phần còn lại của dân số là gì?
Có cách tốt hơn để thiết kế các thành phần của chiến lược không? Chiến lược được quản lý có hiệu quả hơn không? Có các nguồn lực phân bổ có được chi tiêu một cách hiệu quả không? Hoạt động tài chính có theo thiết kế chiến lược không?
Điều này đòi hỏi các chỉ số cho phép theo dõi các khía cạnh tài chính, hoạt động và thể chế của chiến lược
- Về khía cạnh tài chính: Bao gồm các chỉ số như: tỷ lệ
phần trăm chi an sinh xã hội trên GDP; tỷ lệ phần trăm chi
an sinh xã hội của tổng chi tiêu công; tỷ lệ phần trăm chi hành chính so với tổng chi phí chương trình
- V ề khía cạnh hoạt động: Bao gồm các chỉ số như: số
hưởng lợi từ dịch vụ; số lượng lợi ích trả bằng tiền; lợi ích trung bình mỗi người nhận được; tỷ lệ phần trăm người hưởng lợi so với dân số
- Về khía cạnh thể chế: Bao gồm các chỉ số như: số lượng
cán bộ làm việc trong lĩnh vực này; số lượng nhân viên (ở cấp trung ương và cấp địa phương) được đào tạo; khả năng cải thiện tổng thể các mục tiêu, giải ngân, giao hàng và quản lý rủi ro hệ thống; nâng cao mức đáp ứng nhu cầu bổ sung; nâng cao phản ứng phía cung; nâng cao hiệu suất của chính phủ để duy trì và tiếp tục với chiến lược an sinh xã hội
3) Đánh giá tác động của hệ thống an sinh xã hội: Đây là vấn đề quan trọng nhất, làm nền cho sự ra đời của phương
Trang 20pháp tiếp cận dựa vào hiệu quả hoạt động, đó là sự đánh giá tác động tổng thể của hệ thống an sinh xã hội; xem xét các vấn đề về tính hiệu quả và hiệu quả của chiến lược an sinh xã hội trong việc đạt được mục tiêu của nó và những tác động dài hạn ở các khu vực khác nhau như các chỉ số kinh tế, xã hội, giáo dục và dinh dưỡng Có thể được đề xuất theo các nhóm khác nhau dưới đây:
- V ề hiệu quả: giảm phần trăm tỷ lệ đói nghèo; giảm phần
trăm khoảng cách nghèo; giảm sự bất bình đẳng, dựa trên hệ
số gini1 hoặc đo lường khác; chi phí mỗi lần cắt giảm đơn vị khoảng cách nghèo;
- Tác động kinh tế: tăng chi tiêu hộ gia đình; tăng tiết
kiệm và giảm nợ; tăng đầu tư sản xuất hoặc kinh tế của hộ gia đình; tăng hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người
- Tác động xã hội: chuyển biến trong thái độ của giới xã
hội; lựa chọn sinh kế cải thiện và cơ hội; cải thiện thái độ đối với giáo dục của trẻ em gái
- Tác động giáo dục: giảm bất bình đẳng giới, cải thiện
kết quả học tập và thành tích học tập; số học sinh đến trường trung học và đại học cao hơn; tăng số năm đi học, giảm tình trạng lưu ban
- Tác động dinh dưỡng: tăng các chỉ số cải thiện sức khỏe
và dinh dưỡng (tiêm chủng, tỷ lệ mắc bệnh, đa dạng chế độ
ăn uống, lượng calo); giảm tình trạng thấp còi; giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh
(3) Nghiên cứu về giám sát của cơ quan dân cử trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội: Maarse và
1 Hệ số gini dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong thu nhập trên nhiều vùng miền, tầng lớp của một đất nước
Trang 21cộng sự (2005) trình bày kết quả nghiên cứu so sánh quốc tế giám sát việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế xã hội Các quốc gia được nghiên cứu bao gồm: Bỉ, Đức, Thụy Sĩ và Hà Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc thể chế giám sát giữa các quốc gia này có nhiều sự khác biệt, nhưng các mục tiêu của giám sát thì có sự giống nhau nhất định như: bảo đảm tính hợp pháp của việc thực hiện; bảo đảm sự tin cậy và
ổn định; bảo đảm tính hiệu quả và hỗ trợ hoạch định chính sách Việc thực hiện quá trình giám sát tập trung vào ba nội dung: thu thập thông tin, đánh giá hiệu quả hoạt động của giám sát và can thiệp để điều chỉnh hành vi sai lệch Nghiên cứu cũng đề xuất những thay đổi trong việc giám sát, đặc biệt là tác động của thị trường cạnh tranh trong giám sát chính sách bảo hiểm y tế xã hội Nghiên cứu còn cho rằng, thị trường cạnh tranh sẽ làm thay đổi đáng kể vai trò của các cơ quan giám sát bảo hiểm y tế xã hội
Trang 22nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Báo cáo nghiên cứu quy trình giám sát của Quốc hội của Văn phòng Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) (2013) đã đưa ra các cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và thực trạng quy trình, một số giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của Quốc hội và các cơ quan dân cử nói chung; tuy nhiên, vẫn chưa có quy trình giám sát cho các chính sách, pháp luật đối với an sinh xã hội
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân với 5 chương và 91 điều, quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; hội đồng nhân dân, thường trực hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng nhân dân, tổ đại biểu hội đồng nhân dân
và đại biểu hội đồng nhân dân; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động giám sát là văn bản pháp lý trao quyền giám sát cho Quốc hội và các cơ quan dân cử Luật được ban hành nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm sự thống nhất, khoa học trong xác định đối tượng, phạm vi, thẩm quyền, trình tự giám sát của từng chủ thể giám sát; bảo đảm quyền, trách nhiệm của chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát; phát huy vai trò của giám sát, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước,
Cho đến nay, vấn đề giám sát thực thi chính sách, pháp luật ở nước ta đã được nhiều công trình nghiên cứu, cả dưới góc độ chung và đi vào từng cơ chế, hình thức, chủ thể, đối tượng của hoạt động giám sát
Trang 23Cuốn sách Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện
quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay do Đào Trí Úc và Võ
Khánh Vinh đồng chủ biên tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà khoa học về giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước Từ phân tích, đánh giá những hạn chế, bất cập trong hoạt động thực tiễn của cơ chế giám sát quyền lực nhà nước
ở Việt Nam, các tác giả chỉ rõ sự khác biệt giữa giám sát bên trong hệ thống quyền lực nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước và giám sát bên ngoài, không mang tính quyền lực nhà nước1
Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Chí Dũng Về cơ
chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam là công
trình đi sâu phân tích về cơ chế pháp lý giám sát đối với các hoạt động tư pháp bên trong nhà nước Công trình đã làm
rõ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp; phân tích quá trình hình thành, phát triển và thực trạng cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam; từ đó nêu lên những yêu cầu cấp thiết, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý, giám sát hoạt động
tư pháp ở Việt Nam hiện nay2
Cuốn sách Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt
Nam - Vấn đề và giải pháp của Nguyễn Sỹ Dũng và Vũ Công
Giao (2015) đã phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử trên cơ sở phân tích sự hình
1 Xem Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên): Giám sát và cơ
chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003
2 Xem Nguyễn Chí Dũng: Về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư
pháp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh, 2009
Trang 24thành chức năng giám sát ở nghị viện các nước trên thế giới
và của cơ quan dân cử ở Việt Nam; phân tích các quan niệm
về hoạt động giám sát; đối tượng của hoạt động giám sát; các công cụ được sử dụng trong hoạt động giám sát; mối quan hệ giữa hoạt động giám sát với các hoạt động khác của nghị viện
và hệ quả trách nhiệm của hoạt động giám sát Trên cơ sở đó, cuốn sách phân tích thực trạng hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam, đã làm rõ thực trạng và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của phạm vi hoạt động giám sát, của chủ thể giám sát, của công cụ giám sát, của các điều kiện đảm bảo thực hiện hoạt động giám sát Từ
đó, tác giả đã khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân
cử ở Việt Nam những năm tới1
Trương Thị Hồng Hà trong bài viết “Thực hiện pháp luật
về giám sát của Quốc hội - Thực trạng và vấn đề đặt ra” đã làm rõ hình thức phương pháp giám sát của Quốc hội, nêu ra những bất cập của các hình thức giám sát như: hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội, hình thức giám sát văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hình thức giám sát thông qua việc thành lập các đoàn giám sát tại địa phương, hình thức giám sát giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân, hình thức xét báo cáo; hình thức thành lập ủy ban lâm thời Bài viết cũng đã làm rõ trình tự, thủ tục của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội và cho
1 Xem Nguyễn Sỹ Dũng, Vũ Công Giao (đồng chủ biên): Hoạt động
giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam - Vấn đề và giải pháp,
Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015
Trang 25rằng, trình tự, thủ tục của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội thời gian vừa qua còn bộc lộ những yếu kém và cần được giải quyết kịp thời nhằm nâng cao tính hiệu quả, thiết thực trong hoạt động giám sát của Quốc hội nước
ta1 Đồng thời, bài viết đã tiến hành đánh giá hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta trong thời gian qua và đặt ra những vấn đề nhằm đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội
Bài viết “Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội” của Trần Tuyết Mai cho thấy mục đích, nội dung giám sát của Quốc hội là nhằm bảo đảm cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh
và thống nhất Nội dung giám sát của Quốc hội bao gồm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp pháp đối với nội dung các văn bản do các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội ban hành cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước; thẩm quyền của các chủ thể thực hiện hoạt động giám sát, các hình thức giám sát2
Trong bài viết “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”, tác giả Bùi Sỹ Lợi cho rằng chức năng giám sát của Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Sẽ là thiếu hiệu quả nếu chỉ dừng lại ở việc sửa đổi các quy định pháp luật mà không tính đến các biện pháp bảo đảm cho hoạt động giám sát hiệu lực, hiệu quả Bài viết làm rõ các quy định hiện hành của pháp luật về
1 Xem Trương Thị Hồng Hà: “Thực hiện pháp luật về giám sát của Quốc hội - Thực trạng và những vấn đề đặt ra” tạp chí Nghiên cứu luật
pháp, 2009
2 Xem Trần Tuyết Mai: “Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội”, Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, số 01 (24), 2016
Trang 26chức năng giám sát tối cao của Quốc hội như: nội dung và đối tượng giám sát; thẩm quyền, chủ thể giám sát; về các căn cứ thực hiện quyền giám sát; về các hình thức giám sát ; đồng thời làm rõ thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội nước
ta hiện nay, chỉ ra những mặt được và những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đã chỉ ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội như: (1) tiếp tục xây dựng, ban hành và cụ thể hóa các quy định pháp luật về hoạt động giám sát để xác định rõ, cụ thể phạm vi, thẩm quyền, đối tượng giám sát của chủ thể thực hiện quyền giám sát; (2) biện pháp tổ chức thu thập thông tin phục vụ giám sát; (3) thuê tổ chức đánh giá độc lập; (4) đổi mới hình thức, phương pháp, cách thức tổ chức giám sát; đổi mới hoạt động chất vấn; (5) nâng cao chất lượng báo cáo kết quả giám sát; (6) ban hành nghị quyết về nội dung giám sát làm cơ sở khắc phục hạn chế, tồn tại; 7) chú ý đến các điều kiện thực hiện như quỹ thời gian, chất lượng nhân lực”1
(2) Nghiên cứu về giám sát xã hội của các tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
và các đoàn thể
Cuốn sách Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động
của bộ máy Đảng và Nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do Đào Trí Úc chủ biên là công trình nghiên cứu chuyên
sâu của nhiều tác giả về cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước Các tác giả tập trung phân tích một cách khoa học, có hệ thống về bản chất
1 Bùi Sỹ Lợi: “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội”, quochoi.vn, ngày 09/12/2015
Trang 27nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và yêu cầu xây dựng cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta Xác định vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ các chủ thể là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên trong cơ chế nhân dân giám sát Đảng và Nhà nước cũng như thực trạng của cơ chế này ở nước ta Cuốn sách đã tìm hiểu kinh nghiệm một số nước trên thế giới về hình thức giám sát của nhân dân trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước và đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước1
Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Mạnh Bình, Hoàn
thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay Đây là công trình
tác giả đi sâu vào phân tích, luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như yêu cầu hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam Luận án đã nêu rõ thể chế pháp lý là một yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta, phân biệt thể chế với thiết chế Tuy nhiên, luận án này chỉ đề cập đến cơ chế và thể chế pháp lý giám sát
xã hội - một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước2
1 Xem Đào Trí Úc (chủ biên): Cơ chế giám sát của nhân dân đối với
hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 2010
2 Xem Nguyễn Mạnh Bình: Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã
hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2009
Trang 28Luận án Tiến sĩ Luật học của Hoàng Minh Hội Hoàn
thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước của Việt Nam đã nghiên cứu khá hoàn
chỉnh về cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay1
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu
về vấn đề này, đã góp phần phân tích về các chủ thể, nội dung, hình thức giám sát thực thi chính sách, pháp luật từ phía nhân dân ở Việt Nam
(3) Nghiên cứu về vấn đề giám sát của cơ quan dân cử thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội
An sinh xã hội có mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ giảm nghèo bền vững và bảo đảm an ninh con người trước mọi rủi ro trong cuộc sống Khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường thì rủi ro đối với những đối tượng yếu thế càng nhiều hơn Chính vì điều đó, Đảng và Nhà nước đã xem phát triển
hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm an sinh cho mọi người dân là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hệ thống an sinh xã hội mang tính đa ngành và đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng biệt về các lĩnh vực khác nhau (về hỗ trợ tạo việc làm; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, xóa đói, giảm nghèo ) do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực
1 Xem Hoàng Minh Hội: Hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân
dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ
Luật học, Học viện Hành chính Quốc gia, 2014
Trang 29hiện Các nghiên cứu này đã hỗ trợ phát triển hệ thống lý luận về an sinh xã hội và có nhiều đóng góp đáng ghi nhận cho xây dựng chính sách Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu riêng biệt về an sinh xã hội ở Việt Nam cùng với việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 đã đưa ra khái niệm về an sinh xã hội là: “An sinh xã hội là một hệ thống các chính sách
và chương trình do Nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình
và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản” Đây
là khái niệm đã nhận được sự đồng thuận cao của các ngành, các cấp, các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, nó vừa bảo đảm khả năng so sánh quốc tế vừa phù hợp với bối cảnh của Việt Nam và là cơ sở để phát triển một hệ thống an sinh xã hội cho mọi người dân Chiến lược an sinh xã hội cũng đề cập đến việc phải tăng cường giám sát hoạt động của hệ thống và kết quả thực hiện, đồng thời đã đề ra hệ thống gồm 23 chỉ tiêu cơ bản về an sinh xã hội để theo dõi hằng năm
Báo cáo RIM 20131 trình bày các phát hiện về mức độ đáp ứng của hệ thống chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh kinh tế đình trệ kéo dài Các phân tích chỉ ra nguyên nhân vì sao các chính sách đối phó với các tác động còn yếu và chỉ ra
1 Báo cáo RIM là báo cáo đánh giá tác động suy giảm tăng trưởng kinh tế đến việc làm và vai trò của hệ thống an sinh xã hội do Viện Khoa học, Lao động và Xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện
Trang 30những khoảng trống trong thực thi chính sách là do việc giám sát việc tuân theo Hiến pháp của Quốc hội và các cơ quan dân cử ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập Ví dụ như: chưa xác định cụ thể đối tượng chịu giám sát Hiến pháp, quy định chưa rõ ràng, cụ thể nội dung giám sát Hiến pháp của Quốc hội và các cơ quan dân cử trong các văn bản quy phạm pháp luật; quy trình ban hành nghị quyết áp dụng chế tài xử lý hành vi, văn bản quy phạm pháp luật vi hiến của Quốc hội cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn Đặc biệt, cần xác định rõ ràng thẩm quyền ra phán quyết, áp dụng chế tài đối với hành vi vi hiến thuộc về Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thể hiện tập trung nhất đại diện ý chí của nhân dân
Trong một số đề tài nghiên cứu khoa học như: Luận cứ
khoa học xây dựng chiến lược về ưu đãi xã hội và bảo trợ xã hội do Đặng Kim Chung làm chủ nhiệm; Đổi mới chính sách
và cơ chế trợ giúp xã hội cho phù hợp với bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế và Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật người khuyết tật: do Nguyễn Hải Hữu làm
chủ nhiệm; Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế, mô
hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; và Xây dựng bộ chỉ số theo dõi, đánh gia hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội và xóa đói, giảm nghèo do Nguyễn
Thị Lan Hương làm chủ nhiệm đã đưa ra một bức tranh tổng quan về hệ thống an sinh xã hội, tính thiết yếu cần có sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân cử đối với các chính sách, pháp luật về an sinh xã hội Đề tài cấp nhà nước do Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm: Cơ sở khoa học của việc xây
dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015, đề tài cấp nhà nước (2009) thuộc Chương
Trang 31trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước; bài viết của Nguyễn Hữu Dũng “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập”, Tạp
chí Lao động xã hội (số 332), tháng 4/2008 cũng đã làm rõ cơ
sở lý luận và các quan điểm, chính sách an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đánh giá thực trạng của hệ thống an sinh xã hội và việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay; một số tồn tại trong việc thực thi chính sách an sinh xã hội do thiếu sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan dân cử; từ đó, giải pháp cần tăng cường giám sát của các cơ quan nhà nước đối với chính sách an sinh xã hội ở nước ta
Trong bài viết Bảo đảm an sinh xã hội toàn dân và việc
sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Bùi Sỹ Lợi (2016) cũng đã đề
cập đến vấn đề cần phải giám sát thực hiện chính sách an sinh xã hội Theo đó tác giả cho rằng, các chính sách quy định phải bảo đảm mức an sinh tối thiểu cho các thành viên trong xã hội, đồng thời các chính sách phải có sự liên thông
và hướng tới xây dựng hệ thống tổ chức thực hiện, xác định đối tượng chi trả và giám sát thống nhất
Ngày 02/6/2011, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 31/2011/QĐ-TTg quy định việc công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội Quyết định này quy định phải công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội trong các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
Trang 32trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, ưu đãi đối với người có công; vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn
Tại khoản 4, Điều 3 của Quyết định ghi rõ: “Giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện, bảo đảm tính chính xác, kịp thời và hiệu quả”
Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện pháp luật về an sinh
xã hội phải công khai các quy định pháp luật an sinh xã hội; điều kiện, tiêu chuẩn của đối tượng thụ hưởng; hồ sơ, quy trình, phương pháp lựa chọn đối tượng thụ hưởng, thời gian thực hiện; danh sách đối tượng, thứ tự ưu tiên, mức được thụ hưởng Các chủ thể này có thể lựa chọn trong số bảy hình thức công khai sau: (1) công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; (2) niêm yết tại trụ sở làm việc; (3) thông báo bằng văn bản đến các chủ thể có liên quan; (4) phát hành ấn phẩm; (5) thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; (6) đăng tải trên trang thông tin điện tử; (7) cung cấp thông tin theo yêu cầu của
cơ quan, tổ chức, cá nhân Thời gian công khai, minh bạch ít nhất là 5 ngày kể từ ngày thực hiện
Để thực hiện việc công khai, minh bạch thực hiện theo đúng tinh thần Quyết định số 31/2011/QĐ-TTg, cần tăng cường công tác kiểm tra của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội và cơ quan, tổ chức thực hiện việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân Việc kiểm tra này nhằm nắm bắt kịp thời những khó khăn, vướng mắc
Trang 33trong quá trình thực hiện; phòng ngừa vi phạm pháp luật và xem xét, đánh giá hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về
an sinh xã hội
Đồng thời, việc thực hiện quy định pháp luật về an sinh
xã hội cũng chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội, cơ quan truyền thông, báo chí và người dân
3 Một số nhận xét từ tổng quan các công trình đã nghiên cứu
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho
thấy hoạt động giám sát của cơ quan dân cử trong thực thi chính sách, pháp luật nói chung là tất yếu để bảo đảm cho việc đưa pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh
Thứ hai, các nghiên cứu ở các nước trên thế giới bên cạnh
việc khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội, đã có sự đánh giá việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội khá cụ thể; đây là gợi ý cho việc nghiên cứu vấn đề giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam
Thứ ba, ở nước ta, các quy định trong Hiến pháp và các
văn bản pháp luật đã ghi nhận khá đầy đủ và rõ ràng chức năng giám sát của Quốc hội và phương thức để thực hiện chức năng đó Đã có nhiều nghiên cứu về giám sát của cơ quan dân
cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật nói chung Nhiều
ý kiến cho rằng, những quy định hiện hành trong Hiến pháp
Trang 34và các văn bản pháp quy đã tạo nên một “cây gậy pháp lý” cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong quá trình thực hiện quyền giám sát Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và cá nhân mỗi đại biểu Quốc hội nói riêng lại phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố, không chỉ phụ thuộc vào các quy định pháp luật hiện hành như nội dung và đối tượng giám sát, thẩm quyền và chủ thể giám sát, về các căn cứ thực hiện quyền giám sát, về các hình thức giám sát, mà còn phụ thuộc vào nhận thức, động lực, năng lực và kỹ năng của các chủ thể và vấn đề an sinh xã hội còn chưa được chú trọng nhiều
Thứ tư, tuy nhiên cho đến nay, những nghiên cứu của các
tác giả trong nước đều mới dừng ở việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với thực hiện quyền lực nói chung
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, các bài viết và nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở nhu cầu giám sát an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách xã hội, mới chỉ nghiên cứu về thực hiện chính sách, pháp luật về an sinh xã hội Cho đến nay, chưa
có một công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích cơ sở lý luận cho hoạt động giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội Nói cách khác, lý luận và thực tiễn giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội hiện đang là khoảng trống Do vậy cần phải có nghiên cứu, khảo sát chủ đề này một cách có
hệ thống, trên phạm vi rộng hơn và chuyên sâu hơn về khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc, phương thức, hình thức, nội dung, nhân tố ảnh hưởng và hiệu quả của giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi chính sách, pháp luật về an sinh xã hội
Trang 35Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ GIÁM SÁT
CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT
VỀ AN SINH XÃ HỘI
I- CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ AN SINH XÃ HỘI
1 An sinh xã hội
1.1 Khái niệm
Có nhiều quan niệm khác nhau về an sinh xã hội:
Theo Liên hợp quốc, an sinh xã hội được tiếp cận trên quyền con người và được quy định tại Điều 25, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1948: “Mọi người dân và hộ gia đình đều
có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm: ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già hoặc các trường hợp bất khả kháng khác ”
Theo Ngân hàng Thế giới (WB): An sinh xã hội là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác
Trang 36động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc
tử vong Cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng cho rằng: An sinh xã hội là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập Theo đó, an sinh xã hội có 5 thành phần: (1) các chính sách
và chương trình thị trường lao động; (2) bảo hiểm xã hội; (3) trợ giúp xã hội; (4) quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng và (5) bảo
vệ trẻ em
Năm 2009, Liên hợp quốc phát triển sáng kiến “sàn an sinh xã hội” với mục đích bảo đảm cho mọi người dân có mức thu nhập tối thiểu và tiếp cận được các dịch vụ xã hội thiết yếu, nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của con người được quốc tế và quốc gia thừa nhận, vì mục tiêu giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội Các cấu phần chính của “sàn an sinh
xã hội” bao gồm: (1) chăm sóc sức khỏe cơ bản; (2) thu nhập tối thiểu cho người trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng tạo thu nhập vĩnh viễn (người khuyết tật), hoặc
Trang 37mất việc làm tạm thời (người bị thất nghiệp), hoặc thu nhập thấp hơn mức đủ sống (người nghèo); (3) thu nhập tối thiểu đối với người trên tuổi lao động (người cao tuổi) và dưới tuổi lao động (trẻ em)
Bên cạnh đó, “sàn an sinh xã hội” cũng nhấn mạnh đến các dịch vụ xã hội thiết yếu cho con người, bao gồm: (1) chăm sóc y tế cơ bản; (2) nước sinh hoạt hợp vệ sinh; (3) nhà ở; (4) giáo dục; (5) các dịch vụ khác, tùy theo ưu tiên của từng quốc gia
1.2 Đặc điểm chung
An sinh xã hội có những đặc điểm chung sau đây:
Thứ nhất, bản chất của an sinh xã hội là nhằm thực hiện
quyền cơ bản của con người, bảo đảm công bằng xã hội, góp phần xây dựng một xã hội hài hòa, đồng thuận, không có sự loại trừ, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước Đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân
Thứ hai, an sinh xã hội bảo đảm an toàn thu nhập ở mức
tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro, bao gồm các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con người như: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức tối thiểu đủ sống (được luật hóa hoặc quy định) Phấn đấu để có được một hệ thống an sinh xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi
ro xã hội không chỉ là mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia
mà còn là sự quan tâm chung của cộng đồng quốc tế
Trang 38Thứ ba, các chính sách an sinh xã hội do nhà nước tổ
chức thực hiện là chính; ngoài ra, còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội Như vậy, an sinh xã hội dựa trên cơ sở chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước, xã hội và người dân, giữa các cá nhân, các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và biện pháp khác nhau, với mục tiêu bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội được bình đẳng về khả năng tiếp cận dịch vụ và chất lượng dịch vụ; trong đó, ưu tiên và nhấn mạnh đến nhóm đối tượng yếu thế
Thứ tư, an sinh xã hội là lưới an toàn cho mọi thành viên
trong xã hội An sinh xã hội có nội dung rất rộng và ngày càng được hoàn thiện trong quá trình nhận thức thực tiễn trong bối cảnh xã hội luôn biến đổi và phát triển không ngừng Phát triển hệ thống an sinh xã hội là tạo ra một lưới
an toàn gồm nhiều tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ nhau cho mọi thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau bởi những “rủi ro xã hội” Do đó, phạm vi của an sinh xã hội là bao phủ toàn dân và toàn diện (cơ bản đáp ứng được nhu cầu an sinh xã hội của người dân một cách toàn diện)
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới về phát triển hệ thống an sinh xã hội,
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra nhiều công ước và khuyến nghị về phát triển mạng lưới an sinh xã hội ở các
Trang 39quốc gia thành viên, trong đó phải kể tới Công ước số 102 năm 1952 Quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội
Các nguyên tắc cơ bản đối với phát triển hệ thống an sinh
xã hội theo hướng toàn dân, mọi người được quyền bảo đảm an sinh và tiếp cận hệ thống an sinh xã hội; có sự chia sẻ trên cơ
sở gắn bó, đoàn kết, liên kết, tương trợ, bù đắp giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội và nhà nước; công bằng và bền vững, gắn trách nhiệm và quyền lợi, giữa đóng và hưởng; tăng cường trách nhiệm các chủ thể, thúc đẩy các nỗ lực tự an sinh của bản thân người dân, gia đình, cộng đồng
2 Chính sách, pháp luật về an sinh xã hội
2.1 Khái niệm
Chính sách, pháp luật về an sinh xã hội là một loại hình chính sách được thể chế hóa bằng pháp luật nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và phạm vi không gian nhất định; trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước
Trong cuốn sách An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới
năm 2020, các tác giả cho rằng: Chính sách an sinh xã hội
là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội
Trong cuốn sách Chính sách an sinh xã hội và vai trò của
nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở
Trang 40Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Chiểu cho rằng: Chính sách
an sinh xã hội là những biện pháp bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả, không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội
Xuất phát từ đặc điểm của an sinh xã hội, chúng tôi quan niệm chính sách, pháp luật về an sinh xã hội là hệ thống chủ
trương, phương hướng và biện pháp của nhà nước nhằm bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh
tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cả cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa Đây là hệ thống chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội
2.2 Vai trò
Mục tiêu của chính sách, pháp luật về an sinh xã hội được thể hiện ở hai khía cạnh đối với nhà nước và đối với nhân dân
- Đối với nhà nước và cộng đồng, chính sách, pháp luật về
an sinh xã hội là một trong những hợp phần quan trọng trong chương trình xã hội của một quốc gia và là một công cụ