Để luật sư có thể làm trọn được trách nhiệm bảo vệ sự độc lập của tư pháp thì luật sư không những có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp tốt nhất cho khách hàng mà còn có trách nhiệm t
Trang 1TÀI LI ỆU BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ VỀ BỘ
QUY T ẮC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP
LU ẬT SƯ VIỆT NAM (DÀNH CHO H ỌC VIÊN)
CHUYÊN GIA: Lu ật sư Lê Nết - Ủy viên Hội đồng Luật sư toàn quốc
Lu ật sư Nguyễn Minh Tâm – Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh
Trang 2MỤC LỤC
1 CHUYÊN ĐỀ 1: Những vấn đề
chung của Quy tắc đạo đức và
ứng xử nghề nghiệp luật sư
Thực tiễn tại Việt Nam và kinh
nghiệm quốc tế
2 CHUYÊN ĐỀ 2: Quan hệ của
3 CHUYÊN ĐỀ 3: Quan hệ đồng
nghiệp của luật sư Luật sư Nguyễn Minh Tâm 85-125
4 CHUYÊN ĐỀ 4: Quan hệ của
luật sư với các cơ quan tiến
hành tố tụng và các cơ quan nhà
nước khác
Luật sư Nguyễn Minh Tâm 126-143
Trang 3CHUYÊN ĐỀ 1 Những vấn đề chung của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư
Thực tiễn tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế
I Abstract / Bản tóm tắt
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng) Để trở thành một luật sư và trong suốt quá trình hành nghề, bản thân luật sư phải luôn rèn luyện được đức tính độc lập, trung thực, khách quan, nhiệt tình trong công việc và trách nhiệm Luật sư có nghĩa vụ phát huy truyền thống tốt đẹp của nghề luật sư, thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, giữ gìn phẩm chất và uy tín nghề nghiệp; thái độ ứng xử đúng mực, có văn hóa trong hành nghề và lối sống để xứng đáng với sự tin cậy, tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư
1.1 Mục tiêu:
(i) Giúp các luật sư có cái nhìn tổng quát về vị trí, vai trò của Quy tắc
đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư (gọi tắt là Quy tắc);
(ii) Nâng cao ý thức tự giác của luật sư trong việc chấp hành các nghĩa
vụ đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong hành nghề và trong giao tiếp xã hội; Giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của nghề luật sư, góp phần xây dựng và củng cố sự tin cậy trong xã hội đối với nghề luật sư ở Việt Nam
(iii) Xác định vị trí vai trò của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp,
đồng thời nêu cao ý thức trách nhiệm của luật sư trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng để tạo lập được niềm tin của khách hàng, cộng đồng, xã hội và của nhà nước
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư đã được Hội đồng luật sư toàn quốc thông qua cũng không đưa ra một định nghĩa về quy tắc đạo đức nghề
Trang 4nghiệp luật sư Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung của Quy tắc, có thể đưa ra một định nghĩa chung về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư như sau:
“Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư là những quy tắc xử sự được thể hiện dưới hình thức văn bản chứa đựng những quy phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp do Hội đồng luật sư toàn quốc ban hành để điều chỉnh hành vi của các thành viên Liên đoàn luật sư Việt Nam trong quan hệ với các chủ thể có liên quan khi hoạt động nghề nghiệp và trong giao tiếp xã hội”
Trong đời sống thường nhật, luật sư tham gia vào các quan hệ xã hội, các quan hệ nghề nghiệp, trong đó có các quan hệ tố tụng trong các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hành chính Trong các quan hệ
tố tụng nêu trên lại diễn ra nhiều loại quan hệ giữa các chủ thể khác như: quan
hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng qua các giai đoạn tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quan hệ với khách hàng, với những người tham gia tố tụng khác, quan hệ với đồng nghiệp, v.v Với tư cách một chủ thể tham gia trong các quan hệ, luật sư có những quyền và nghĩa
vụ nhất định theo quy định của pháp luật Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp
lý luật sư phải tuân thủ và nếu vi phạm sẽ phải chịu các hình thức xử lý theo các chế tài đã được luật hóa
Tuy nhiên, trong các quan hệ nêu trên, vẫn còn có những trường hợp, tình huống nảy sinh trong thực tiễn giao tiếp không nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật mà thuộc phạm trù đạo đức và ứng xử nghề nghiệp phải được điều chỉnh bằng các quy định đạo đức tương ứng Đó là các quy định về căn cứ, chuẩn mực đã được xác định trong bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Các quy định này cũng hàm chứa các nghĩa vụ đạo đức mang tính chất cấm đoán hay bắt buộc luật sư phải tuân thủ hoặc các quy phạm mang tính chất khuyến khích luật sư áp dụng trong quá trình hành nghề cũng như trong lối sống, giao tiếp khi tham gia các quan hệ xã hội khác
1.4 Thực tiễn tại Việt Nam
Đạo đức nghề nghiệp luật sư đặt trong quan hệ với các quy định của pháp luật hiện nay cũng có những quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng, một khi vi phạm pháp luật thì đồng thời cũng là vi phạm đạo đức, trong đó bao hàm
cả vi phạm về đạo đức nghề nghiệp luật sư Cũng có những góc nhìn khác, cho rằng pháp luật và đạo đức là hai phạm trù độc lập, riêng biệt nhau Do vậy, để đánh giá một hành vi có vi phạm đạo đức hay không thì phải tìm những quy phạm đạo đức để làm căn cứ xác định Không thể lấy quy định của pháp luật để làm căn cứ xác định một người vi phạm về đạo đức nói chung, hay đạo đức nghề nghiệp nói riêng
Trang 5Vi phạm của luật sư trong hành nghề thể hiện với nhiều hình thức Không
ít trường hợp, Luật sư do ít quan tâm nghiên cứu các quy định về luật sư, không học tập quán triệt về đạo đức nghề nghiệp Luật sư nên khi hành nghề xảy ra vi phạm Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam và Bộ Quy tắc đạo đức
là hệ thống các quy định, quy tắc với rất nhiều nội dung khác nhau, bao gồm các quy phạm cấm đoán, quy phạm bắt buộc, quy phạm tùy nghi chọn lựa ứng xử… đôi khi các quy tắc cũng khó hiểu, khó nhớ hết Để hành nghề đúng quy định,
luật sư phải chịu khó nghiên cứu, quán triệt để nắm thật vững tất cả các quy định, quy tắc này Thế nhưng, trên thực tế có rất nhiều Luật sư không quan tâm tìm hiểu, cập nhật nên dẫn đến việc vi phạm trong hành nghề
Có những Luật sư khi tham gia hoạt động nghề nghiệp, nhận vụ việc từ khách hàng là những người thân quen, hoặc do tin tưởng quá mức nên chủ quan không xác lập hợp đồng dịch vụ pháp lý đúng quy định, hoặc thỏa thuận nhận thêm thù lao do nhiều công việc phát sinh thêm nhưng không ký phụ lục điều chỉnh thù lao, ghi nhận công việc phát sinh, dẫn đến vi phạm Xét bản chất, trong quan hệ này Luật sư bỏ công sức cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, việc thực hiện công việc và nhận thù lao là theo thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên Nhưng do không tuân thủ quy định về ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản nên vi phạm
Có những Luật sư cố ý vi phạm, biết sai nhưng động cơ tư lợi nên vi phạm Ví dụ, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư nghiêm cấm luật
sư “Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý” Luật sư nào cũng biết, cũng hiểu về quy định cơ bản này Nhưng trên thực tế không ít trường hợp luật sư biết mà vẫn vi phạm do tư lợi cá nhân
Một số luật sư lợi dụng mạng xã hội với động cơ, ý đồ xấu, không chính đáng, đăng tải những nội dung bài viết, hình ảnh, đoạn video có nội dung sai trái, xâm phạm uy tín, danh dự cá nhân, tổ chức khác, xâm phạm lợi ích cộng đồng, thậm chí xâm phạm đến an ninh chính trị đất nước Thời gian qua có nhiều đơn thư của cá nhân, tổ chức phản ánh về hiện tượng này Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã xử lý một số trường hợp Luật sư vi phạm về quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong việc sử dụng truyền thông, mạng xã hội
Trong một số trường hợp, sự ràng buộc cứng nhắc của pháp luật, sự quy định chưa thật sự hợp lý dẫn đến vi phạm của Luật sư Ví dụ, vấn đề hứa thưởng giữa Luật sư với khách hàng hiện nay không được chấp nhận Từ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư nói trên, giữa Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư với khách hàng không được thỏa thuận hứa thưởng Luật sư thỏa thuận
Trang 6hứa thưởng, nhận tiền hứa thưởng thì bị xem là vi phạm, nếu bị phát hiện, bị khiếu nại, tố cáo thì có khả năng phải chịu chế tài kỷ luật.1
1.5 Luật sư với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Cố Giáo sư Trần Văn Giàu đã từng nói: “Người ta không thể trở thành Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn” Tấm gương đạo đức của Bác luôn là những bài học quý giá đối với nhân dân Việt Nam nói chung và giới luật sư Việt Nam nói riêng Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức được nêu ra là phù hợp với từng đối tượng, hơn nữa Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định Từ đó Người đã khái quát thành những phẩm chất chung, cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới
Một trong các phẩm chất đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập là “Trung với
nước, hiếu với dân” Về quan hệ đạo đức thì mối quan hệ của mỗi người với đất
nước mình, với nhân dân, dân tộc mình là mối quan hệ lớn nhất Về phẩm chất đạo đức thì trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông đã được Hồ Chí Minh sử dụng và đưa vào nội dung mới Trước kia là trung quân, là trung thành với vua; trung thành với vua cũng
có nghĩa là trung thành với nước, vì vua với nước là một, vua là nước, nước là nước của vua Còn hiếu thì chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình là con cái phải hiếu thảo với cha mẹ Tư tưởng trung với nước, hiếu với dân của Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc,
mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước Nước ở đây là nước của dân, còn dân lại là chủ nhân của đất nước Giá trị đạo đức này đã được Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam thừa hưởng và được đề cập ngày ở Điều đầu tiên của bộ quy tắc khi quy định rằng: “Luật sư có sứ mệnh bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
cá nhân, tổ chức, cơ quan, bảo vệ sự độc lập của tư pháp, góp phần bảo vệ công
lý, công bằng, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Người luật sư trong thời kỳ mới “hiếu với dân” là luật
sư bằng tri thức, phẩm chất của mình sẽ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Còn việc “trung
1 Nguyễn Thế Phong, “Đôi điều suy nghĩ về đạo đức nghề nghiệp Luật sư”, dao-duc-nghe-nghiep-luat
https://lsvn.vn/doi-dieu-suy-nghi-ve-su1640404299.html?fbclid=IwAR2XKPGTr5gjYGasQzseaYnL7rVgVny57DepLVy8oyy0tq0tdcT6aGet05M , truy cập ngày 20/03/2022
Trang 7với nước” của luật sư được thể qua việc luật sư là một trong các lực lượng góp phần bảo vệ sự độc lập của tư pháp, công lý, công bằng, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền Báo cáo tại Đại hội Đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ III cho thấy hiện nay, cả nước có hơn 16 ngàn luật sư, hơn 4 ngàn tổ chức hành nghề luật sư Chất lượng đội ngũ luật sư từng bước được nâng cao, đa số có phẩm chất chính trị tốt, trung thành với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, có ý thức phấn đấu đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Tại nhiệm kỳ II, đội ngũ luật sư Việt Nam đã tham gia vào hơn 81 ngàn vụ án hình sự, hơn 67 ngàn vụ việc dân sự, tư vấn pháp luật hơn 490 ngàn
vụ việc, tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí gần 162 ngàn vụ việc Qua đó, thấy được rằng đại đa số luật sư luôn nhận thức tốt trong việc đóng góp cho xã hội và
tổ quốc, phù hợp với tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhưng, trong tư tưởng về đạo đức, Người cũng cho rằng cái khó khăn của cuộc chiến đấu mới không phải chỉ ở tầm vóc và quy mô của sự nghiệp xây dựng, mà còn ở chỗ mỗi người phải khắc phục những yếu kém của mình, chiến thắng "giặc ở trong lòng" mình, giặc nội xâm ở ngay trong tổ chức của mình Đó
là loại giặc "vô hình, vô ảnh", nhưng rất mạnh Nó "luôn luôn lẩn lút trong mình ta", "khó thấy, khó biết" Thực tiễn trong hoạt động nghề nghiệp của mình, một
bộ phận luật sư đã quên đi nghĩa vụ đạo đức của mình và đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Điển hình là luật sư “phải” tham gia bào chữa chỉ định trong vụ án hình sự Một số luật sư đã xem đây là một
“nghĩa vụ” và đã không toàn tâm, toàn ý khi thực hiện thiên chức của mình Số phận pháp lý của bị can, bị cáo có thể được quyết định một phần nào đó qua hoạt động hành nghề của luật sư Chính từ việc làm của những luật sư này, xét
về mặt đạo đức, họ đã vi phạm vào quy tắc đạo đức khi hành nghề Xét về mặt chuyên môn, họ đã đánh mất chính mình và họ đã làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự chung của các luật sư khác Hay một biểu hiện khác, vì khoản thù lao luật sư quá cao do thân chủ đề ra mà một thiểu số luật sư đã “bằng mọi cách” để
đi đến “đích”, bất chấp thủ đoạn, bất chấp quy tắc đạo đức nghề nghiệp để thực hiện cho được Sự vi phạm đạo đức trong hoạt động nghề nghiệp luật sư không phải là con số nhỏ, số liệu thống kê của các cơ quan chức năng chỉ mang tính tương đối đối với những vụ việc rõ ràng.2
Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, nhiệm vụ cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng đang đặt ra những nhiệm vụ mới mới hết sức nặng nề, đối tượng của phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta khởi xướng có lẽ
sẽ không chỉ với luật sư là Đảng viên mà ngay cả với luật sư không hoặc chưa là Đảng viên Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức ở mỗi luật sư luôn luôn được đặt ra
2 Nguyễn Hữu Thế Trạch, “Luật sư với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,
Trang 8và không phải khi chấm dứt phong trào là chấm dứt việc rèn luyện, tu dưỡng
Muốn được xã hội tin cậy, tôn trọng thì chính trong mỗi luật sư phải luôn thể hiện thái độ tích cực của mình ở trên mọi lĩnh vực, trong đó, học tập và rèn luyện là hai mặt không thể tách rời nhau, phải làm sao xứng đáng với 5 chữ
“nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy
Việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị là hết sức quan trọng Ngành nghề nào cũng có một chuẩn mực đạo đức, nếu như không xây dựng một chuẩn mực đạo đức cho riêng ngành của mình, thì sẽ dễ phạm vào những sai phạm và dẫn đến những hậu quả khó lường
1.6 Đào tạo và quản lý luật sư tại Canada
Canada là một nước common law thuộc Anh Hiến pháp Canada tương đối phức tạp Hiến pháp 1867 do Anh ban hành trao quyền lập pháp và lập Hiến cho Canada Hiến pháp 1982 do Canada ban hành đưa Hiến chương quyền con người (Charter of rights) vào là một phần của Hiến pháp Canada Đến nay, Hiến pháp Canada bao gồm hai bản Hiến pháp, một số văn bản luật của Anh từ thời lập thuộc địa Bắc Mỹ, và một phần rất lớn nằm ở common law bao gồm phán quyết của Judicial Committee of the Privy Council của Anh và Tòa Tối cao Liên bang Canada sau này
Hệ thống tam quyền phân lập của Canada khá đặc thù vì cơ quan hành pháp và lập pháp không mấy độc lập với nhau Thành viên nội các liên bang đều phải có ghế trong hạ viện và tương tự với tỉnh bang Đảng nào nắm quyền thì nắm cả hai cơ quan này Chỉ có tòa án là hệ thống độc lập Dù Hiến pháp
Canada không có chương nào quy định về Tòa Tối cao Liên bang Canada hay về
hệ thống tòa án Canada nhưng Tòa án là hệ thống độc lập có quyền lực dựa trên common law Bất kỳ tòa án nào cũng có thể tuyên một văn bản luật, quyết định hành chính, hành vi hành chính trái Hiến pháp Do đó luật sư trong rất nhiều vụ việc thường áp dụng kỹ năng “bỏ bóng đá người”, ngoài việc tập trung vào nội dung vụ việc thì còn yêu cầu tuyên văn bản pháp luật hoặc quyết định hành chính là vi hiến Có hai cơ sở chính để tuyên một văn bản luật vi hiến là vi phạm Hiến chương và vi phạm phân quyền lập pháp giữa cơ quan lập pháp liên bang
và tỉnh bang
Tại Canada có hai hệ thống bằng luật là common law và civil law Để hành nghề luật sư tại các tỉnh common law thì ứng viên cần bằng common law Chương trình đào tạo các trường common law tương đối giống nhau và có một
số môn bắt buộc như Đạo đức luật sư, Hiến Pháp, Hành Chính, Hình sự, Hợp đồng, Bồi thường thiệt hại, và Tài sản Các môn đào tạo tại trường thì mang tính phổ quát và không quá tập trung vào một tỉnh bang nào vì thí sinh học ở tỉnh này
Trang 9có thể thi hành nghề ở tỉnh khác Tuy nhiên khi thi hành nghề luật sư thì các môn thi tập trung vào luật của tỉnh bang nơi hành nghề và đòi hỏi tính thực tiễn cao hơn rất nhiều so với tại trường luật
Để hành nghề, ứng viên phải thi hai kỳ sát hạch là Tư vấn (solicitor) và Tranh tụng (Barrister) Kỳ thi Solicitor bao gồm các môn Business (Doanh nghiệp, Thuế, Tài chính, Thế chấp, Chứng khoán, Cạnh tranh, Nhập Cư, Mua bán sáp nhập, Hợp đồng thương mại), Thừa kế di chúc, Bất động sản Kỳ thi Barrister bao gồm các môn Tố tụng hình sự, Tố tụng dân sự, Hôn nhân gia đình,
và Tố tụng hành chính và Hiến pháp Môn Đạo đức luật sư chiếm 60% nội dung của cả hai kỳ thi
Đạo đức luật sư là một môn vô cùng quan trọng do việc quản lý và xử lý
vi phạm của các liên đoàn luật sư rất ngặt nghèo Nội dung này đảm bảo luật sư tuân thủ các nguyên tắc trong quá trình hành nghề để bảo vệ lợi ích khách hàng
và trật tự công, bao gồm nguyên tắc trung thành với khách hàng, tránh xung đột lợi ích, hành vi trong quá trình tố tụng và tư vấn, và quản trị tài chính và quản trị văn phòng luật Ví dụ luật sư cần làm gì nếu luật sư của bên đối phương yêu cầu cung cấp tên người đại diện theo pháp luật của khách hàng để hoàn thiện thủ tục khởi kiện, luật sư có được gặp trực tiếp nhân viên của công ty đối phương để hỏi
về một vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa khách hàng và công ty đó không, hoặc cần phải làm gì khi đang dự tiệc thì có một người đến nói chuyện về vụ tranh chấp tương lai nào đó
Ngoài hai kỳ thi Barrister và Solicitor, để hành nghề luật sư thì ứng viên cần phải được tập sự (article) tại một đơn vị hành nghề luật dưới sự hướng dẫn của luật sư của tỉnh bang đó Articling student khác với summer student hoặc
intern ở chỗ họ được gọi là luật sư và thực hiện các công việc của luật sư trong phạm vi được giao Việc tập sự tại các văn phòng luật sư lớn hoặc Bộ Tư pháp hoặc Tòa án vô cùng cạnh tranh với tỉ lệ có thể lên đến 1:100 do uy tín của nơi thực tập và mức lương cao Tuy nhiên thực tập tại những văn phòng lớn có điểm bất lợi là không thể học hết các vấn đề như quản trị tài khoản khách hàng hay những vấn đề về mặt hành chính mà người thực tập tại các văn phòng nhỏ hơn
có thể học được Những vấn đề này thường dễ dẫn đến các lỗi bị kỷ luật vi phạm đạo đức nghề nghiệp của luật sư tại Canada khi hành nghề độc lập
Thẩm quyền quản lý và xử lý luật sư tại Canada thuộc về các đoàn luật sư
tỉnh bang theo hình thức self regulated Các đoàn luật sư này không phải cơ
quan nhà nước nhưng được thành lập theo luật luật sư của tỉnh nên được quyền cấp phép hành nghề, ban hành bộ quy tắc hành nghề luật sư, và điều tra xử lý kỷ luật luật sư bằng quyết định hành chính Nếu không đồng ý với quyết định của
đoàn luật sư thì luật sư có thể đưa ra tòa dưới dạng judicial review Tòa án đa
Trang 10phần sẽ chỉ xem xét theo nguyên tắc hợp lý (reasonableness standard) và một số
ít sẽ xem xét theo nguyên tắc correctness Do đó quyền lực của các đoàn luật sư
là rất lớn và đây cũng là lý do tại sao môn Đạo đức luật sư là môn sống còn với nhiều luật sư
II Chương trình học chi tiết
2.1 Quy tắc 1: Bảo vệ công lý và nhà nước pháp quyền
“Luật sư có sứ mệnh bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, cơ quan, bảo vệ sự độc lập của tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, công bằng, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Sứ mệnh của luật sư là để bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, cơ quan; bảo vệ sự độc lập của tư pháp; trong đó cần nhấn mạnh bổn phận của nghề luật sư là bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các chủ thể xã hội khác
Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, cơ quan, bảo vệ sự độc lập của tư pháp trách nhiệm đó cũng là trách nhiệm chính của Nhà nước bởi vì Nhà nước sinh ra là để giữ cho
xã hội ở trong một trật tự nhất định Muốn vậy, thì phải bảo vệ các quyền nêu trên của các chủ thể xã hội Đó chính là đặc trưng của các Nhà nước nói chung
và đặc biệt là đặc trưng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhưng do những điều kiện khách quan và chủ quan, Nhà nước không thể quán xuyến hết được trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội
Do đó mới cần có vai trò của luật sư và nghề luật sư
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, luật sư và nghề luật sư sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể xã hội Bởi vì, luật sư và nghề luật sư có khả năng thực thi và đưa pháp luật vào ngóc ngách của đời sống xã hội bằng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở luật pháp và đạo đức nghề nghiệp Từ đó, luật sư vừa giúp được cho người dân, lại vừa giúp được cho Nhà nước Vì vậy, luật sư cần ý thức được sứ mệnh được giao phó trong hoạt động nghề nghiệp để làm tròn bổn phận với khách hàng và trách nhiệm với xã hội khi thực hiện sứ mệnh Để thực hiện được sứ mệnh này, luật sư cần phải được người dân tin cậy và ủng hộ Muốn vậy, luật sư phải gương mẫu trong tuân thủ pháp luật và giữ gìn đạo đức nghề nghiệp Luật sư phải tận tâm với công việc để tận hiến với xã hội, thể hiện được tinh thần phụng sự cộng đồng và phụng sự công
lý Trong hoạt động nghề nghiệp, luật sư luôn ý thức và giữ gìn được phẩm giá
Trang 11để không bị ràng buộc hay chịu áp lực từ quyền lực phi pháp hay bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế và các yếu tố bất hợp lý khác
Luật sư có trách nhiệm bảo vệ sự độc lập của tư pháp bởi công lý chỉ có thể có được khi tư pháp được độc lập Công lý phải là mẫu số chung của các quy định của luật sư trên cơ sở phán quyết của tòa án Sự độc lập của thẩm phán và hội đồng xét xử là cơ sở pháp lý được Hiến pháp quy định Trách nhiệm của luật
sư khi hành nghề là bảo vệ sự độc lập của Tòa án và bản thân luật sư cùng thể hiện sự độc lập, trung thực, khách quan khi cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng và khả năng phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng
Hoạt động nghề nghiệp luật sư phải trung thực, khách quan để giúp cho đương sự và hỗ trợ các cơ quan nhà nước làm sáng tỏ vụ việc để cùng nhau bảo
vệ công lý, bảo vệ pháp chế Có như vậy, luật sư mới có thể làm trọn được bổn phận bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể xã hội khác
Để luật sư có thể làm trọn được trách nhiệm bảo vệ sự độc lập của tư pháp thì luật sư không những có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp tốt nhất cho khách hàng mà còn có trách nhiệm trong việc phát hiện và giám sát những hành
vi không phù hợp với pháp luật hoặc vi phạm pháp luật của các chủ thể khác để
từ đó có các kiến nghị tích cực, mang tính xây dựng giúp cho các cơ quan nhà nước và các cá nhân khác cùng có trách nhiệm tuân thủ và nghiêm túc thực hiện pháp luật, không để cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có thể đứng trên luật pháp, coi thường luật pháp và vi phạm pháp luật; có như vậy luật sư mới làm trọn bổn phận bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể xã hội khác
2.2 Quy tắc 2 - Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan
“Luật sư phải độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, không vì lợi ích vật chất, tinh thần hoặc bất kỳ áp lực nào khác để làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.”
(i) Nội dung chi tiết
a Ý nghĩa Luật sư là một nghề cao quý được quy định trong Hiến pháp, là một trong những trụ cột của xã hội, của ngành tư pháp Vì thế, người luật sư cũng phải mang tính chất của cả ngành tư pháp, đó là độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan Có độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan thì mới tạo được sự tin tưởng của khách hàng, của cơ quan nhà nước, của các cơ quan tiến hành tư pháp khác Có độc lập trong ngành tư pháp mới xây dựng được nhà nước pháp quyền XHCN Chuẩn mực này không chỉ áp dụng trong quan hệ giữa
Trang 12luật sư với khách hàng, mà trong tất cả các mối quan hệ xã hội của người luật
sư, dù dùng danh nghĩa luật sư trong các mối quan hệ đó hay không Khi có bất
kỳ thắc mắc nào về bộ quy tắc, việc đầu tiên của luật sư là phải quay trở lại quy tắc số 2 làm kim chỉ nam cho hành động của mình Uy tín của người luật sư hay
cả ngành tư pháp nói chung là nằm ở sự độc lập, trung thực và tôn trọng sự thật khách quan
b Giải thích nội dung
*Nghĩa vụ độc lập
Luật sư có nghĩa vụ phải thể hiện sự độc lập của mình trong công việc, thể
hiện ý chí của đại trượng phu mà thầy Mạnh Tử đã dạy: “phú quý bất năng dâm,
bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (giàu mà không tham, nghèo mà
không đổi, áp lực cũng không khuất phục được) Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng là một tổ chức độc lập Sự độc lập là bản chất của người luật sư Cho dù nhiều luật sư có tạo thành các công ty luật hàng nghìn người, thì từng người vẫn
có quan điểm độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân về quan điểm pháp lý của mình Cho dù luật sư có là nhân viên pháp chế của một doanh nghiệp, thì ý kiến của luật sư cũng phải độc lập chứ không đơn thuần là theo sự chỉ đạo của giám đốc doanh nghiệp Nói cách khác, luật sư phải đóng vai trò “gián nghị đại phu” (người can ngăn các hành động sai trái, bảo vệ lẽ phải) cho dù khách hàng của mình là ai, lãnh đạo của mình là ai
Muốn độc lập, thì tâm của mình phải thực sự trong sạch, không chịu áp lực, không bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất Mặt khác, độc lập cũng là xuất phát điểm, là điều kiện để có thể trung thực, tôn trọng sự thật khách quan Luật sư không độc lập, bị người khác chỉ đạo làm theo ý mình, bị điều khiển bởi ham muốn vật chất, thì dù mình có trung thực, hay khách quan, thì cũng khó lòng chiếm được lòng tin của khách hàng, tòa án hay công chúng
*Nghĩa vụ trung thực
Trung thực, hay nói theo ngôn từ cổ là công chính, hiện đại là chính trực,
là một trong bốn đức tính trụ cột mà Bác Hồ đã dạy: “Người có bốn đức: cần,
k iệm, liêm, chính, thiếu một đức thì không thành người.” Sự trung thực được thể
hiện trước tiên trong quan hệ với khách hàng Nếu vụ việc của khách hàng là xấu và có rủi ro, luật sư không được che dấu sự thật đó Luật sư phải lắng nghe hay trình bày quan điểm của khách hàng một cách điềm tĩnh, không thêm thắt,
đổ dầu vào lửa, cho phép ý kiến cá nhân can thiệp vào toàn bộ sự việc Luật sư không được lừa dối khách hàng, hay cho phép người khác lừa dối khách hàng
mà không thông báo cho khách hàng về việc đó Thí dụ đơn giản nhất của viêc không lừa dối khách hàng là không ghi bảng giờ công nhiều hơn số giờ mình thực sự bỏ ra
Trang 13Trung thực còn có nghĩa là giữ lời hứa và không hứa những gì mình không thể thực hiện được Ví dụ, luật sư không được cam kết mình sẽ thắng kiện (vì thắng hay không là do quyết định của tòa án) Ngược lại, luật sư chấp nhận
sẽ gửi bản tư vấn vào hôm sau, thì hết ngày hôm sau là phải gửi bản tư vấn đó Nếu luật sư chỉ chuyên về dân sự mà không giỏi hình sự, thì phải nói rõ cho khách hàng là mình không chuyên về hình sự Nếu luật sư quá bận không thể đảm nhiệm vụ việc, thì phải từ chối nhận việc
*Nghĩa vụ tôn trọng sự thật khách quan
Sự thật khách quan là những gì tồn tại ngoài ý muốn của luật sư hay của bất kỳ ai khác Đó là vấn đề không thể tranh cãi Thí dụ, trong một vụ tranh chấp, bao giờ luật sư cũng phải xác định hai vấn đề Thứ nhất là sự thật khách quan, có chứng cứ rõ ràng, là những thứ không ai bắt bẻ được Thứ hai là quan điểm pháp lý, là mang yếu tố chủ quan của người đánh giá chứng cứ đó Để giải quyết được tranh chấp, thì phải có chuẩn, đó là quy định của pháp luật và sự thật khách quan Quy tắc đạo đức luật sư cũng yêu cầu luật sư khi đưa ra quan điểm thì cũng phải tôn trọng sự thật khách quan, vì nếu không thì sẽ không có chuẩn mực phán xét trong nghề luật
Nghĩa vụ tôn trọng sự thật khách quan là một mặt khác của nghĩa vụ trung thực, và cũng mở rộng không chỉ trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp,
mà cả với quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, và bất kỳ
bên thứ ba nào khác Trong Kinh thánh, Chúa Giê su từng nói “có thì nói là có,
không thì nói là không, thêm thắt điều gì là do ma quỷ” Luật sư không được vì
lợi ích của khách hàng mà nói điều không đúng sự thật, và cũng có nghĩa vụ nói lên sự thật khi có người che dấu sự thật
Để tìm ra sự thật khách quan cũng không phải là điều dễ dàng Thí dụ, có nguyên tắc khi giải thích hợp đồng phải dựa trên ý chí của các bên Song ý chí của các bên lại mang tính chủ quan, vậy làm sao tìm ra sự thật khách quan Quy tắc 2 cho thấy, kể cả ý chí chủ quan cùng phải phù hợp với tình tiết khách quan của vụ kiện Nếu không, ý chí đó sẽ không được công nhận
* Nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp
Việc tuân thủ pháp luật là trách nhiệm của mọi công dân Luật sư lại càng phải gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật Ngoài ra, do sứ mệnh (Quy tắc 1), và vai trò quan trọng của luật sư trong xã hội, mà luật sư phải có nghĩa vụ tuân thủ đạo đức nghề nghiệp ở mọi nơi, mọi lúc Quy tắc 3 nhấn mạnh thêm, là
luật sư không vì lợi ích vật chất, áp lực nào để làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp Điều này có vẻ như hiển nhiên, nhưng lại quan trọng ở chỗ do luật
sư là người biết luật, lại có kinh nghiệm hành nghề, nên có rủi ro là luật sư lợi
Trang 14khi đó, đạt được lợi ích vật chất không phải là mục tiêu hay sứ mệnh của nghề luật sư Quy tắc 3 nhấn mạnh nghĩa vụ của luật sư tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp để phụng sự công lý và bảo vệ khách hàng trên cơ sở khách quan, trung thực và đúng luật
c Mối liên hệ với các quy tắc khác trong bộ quy tắc
*Mối liên hệ giữa nghĩa vụ độc lập và sự lãnh đạo của đảng, đoàn thể, tổ chức
Luật sư là đảng viên phải chịu sự lãnh đạo của đảng, đoàn thể, tổ chức Điều này không có gì mâu thuẫn với nghĩa vụ độc lập của luật sư Đảng, đoàn thể, tổ chức đại diện cho lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, vốn dĩ luôn chiếm
ưu thế hơn lợi ích cá nhân Tuy nhiên, lợi ích đó phải được thực hiện dựa trên khuôn khổ
*Mối liên hệ giữa nghĩa vụ độc lập, trung thực, khách quan và nghĩa vụ trung thành với lợi ích của khách hàng
Đành rằng luật sư phải phục vụ lợi ích khách hàng, tuy nhiên lợi ích cá nhân luôn luôn phải không được ảnh hưởng đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước Đó là nguyên tắc được đề cao trong BLDS Vì thế,
kể cả lợi ích của khách hàng cũng không làm luật sư thay đổi nghĩa vụ độc lập, trung thực và khách quan Mặc dù vậy, luật sư có nghĩa vụ bảo mật các thông tin của khách hàng để bảo vệ lợi ích của khách hàng, và nghĩa vụ tránh xung đột lợi ích để có thể phục vụ khách hàng một cách tốt nhất Điều đó hoàn toàn không mâu thuẫn với nghĩa vụ độc lập, trung thực và khách quan
*Mối liên hệ giữa nghĩa vụ độc lập của luật sư và sự quản lý của công ty luật, người sử dụng lao động
Luật sư hành nghề độc lập đương nhiên có vị trí độc lập Luật sư làm việc tại các công ty luật hợp danh, công ty luật TNHH, hay là chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ phải độc lập về quan điểm pháp lý của mình và tự chịu trách nhiệm về quan điểm pháp lý đó Các luật sư sẽ chịu sự giám sát của người sử dụng lao động, hay các luật sư điều hành công ty luật về việc tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp Khi có vấn đề, hay khi bị khách hàng, đồng nghiệp khiếu nại, tố cáo, các luật sư có nghĩa vụ phải báo cáo cho người sử dụng lao động (doanh nghiệp) hay luật sư điều hành công ty luật tìm biện pháp xử lý theo đúng pháp luật và bộ quy tắc này, trước khi đoàn luật sư hay liên đoàn luật sư xem xét giải quyết Mặt khác, doanh nghiệp và luật sư điều hành công ty luật có nghĩa vụ tôn trọng sự độc lập trong quan điểm pháp lý của luật sư
*Mối liên hệ giữa nghĩa vụ trung thực và nghĩa vụ bảo mật
Trang 15Luật sư không được nhầm lẫn giữa nghĩa vụ trung thực và nghĩa vụ bảo mật Trung thực không có nghĩa là chuyện gì cũng kể hết cho mọi người, mà là khi phát ngôn chỉ nói sự thật Tuy nhiên trừ trường hợp BLHS quy định, không
ai bắt luật sư phải tiết lộ bí mật Luật sư phải bảo mật thông tin khách hàng thì mới tạo được sự tin tưởng của khách hàng
* Mối liên hệ giữa nghĩa vụ tôn trọng sự thật khách quan và quan hệ với
cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng
Trong thời gian gần đây có vài vụ việc cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng mất thiện cảm với một số luật sư chỉ vì các luật sư không tranh cãi dựa trên sự thật khách quan, mà chỉ khai thác những kẽ hở của chứng cứ mà không đi vào bản chất vấn đề Luật sư cần tôn trọng sự thật khách quan vốn có Ngược lại, luật sư cũng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành
tố tụng phải tôn trọng sự thật khách quan Nếu phát hiện một chứng cứ bị giả mạo hay không đáng tin cậy mà cơ quan nhà nước vẫn sử dụng, luật sư có nghĩa
vụ phải lên tiếng và bảo vệ sự thật
*Mối liên hệ giữa nghĩa vụ độc lập, trung thực và nguyên tắc tính tiền thù lao
Theo Quy tắc 8, thì luật sư phải giải thích rõ thù lao, bao gồm cả các tiền trả thay cho khách hàng Luật sư phải giữ tiền của mình tách biệt so với tiền của khách hàng, và không sử dụng tiền ứng trước của khách hàng vào mục đích cá nhân Chỉ khi nào tiền ứng trước trở thành thù lao luật sư thì luật sư mới được hưởng Đó là sự cụ thể hóa của quy tắc trung thực
Ngoài ra, đối với luật sư làm việc trong doanh nghiệp hay công ty luật, luật sư không được nhận bất kỳ lợi ích nào từ khách hàng Mọi thu nhập phải từ doanh nghiệp và công ty luật Vì nếu nhận lợi ích riêng (quà cáp, tiền mặt hay lợi ích nào khác), sẽ khiến cho luật sư có thể có một số hành vi như tự động giảm giá cho khách hàng so với giá của công ty luật đưa ra, hay lấy khách hàng của công ty luật làm khách hàng của mình Điều này vi phạm nghĩa vụ trung thực và độc lập của luật sư
*Mối liên hệ giữa nghĩa vụ độc lập và nghĩa vụ tránh xung đột lợi ích
Các quy tắc tránh xung đột lợi ích tránh cho luật sư, hay công ty luật của luật sư, phải đại diện cho hai khách hàng có lợi ích đối lập lau Khi xung đột lợi ích, luật sư không những vi phạm nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của khách hàng một cách tốt nhất, mà còn khiến cho luật sư không biết nghe theo thân chủ nào khi họ có lợi ích đối lập nhau Điều đó khiến cho luật sư vi phạm nghĩa vụ độc lập
Trang 16*Mối liên hệ giữa nghĩa vụ trung thực, khách quan tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức và quy tắc từ chối nhận việc
Theo Quy tắc 11, thì luật sư phải từ chối vụ việc nếu mình không đủ thời gian, hay không có trình độ chuyên môn để nhận công việc đó Đó là sự thể hiện cụ thể của quy tắc trung thực Luật sư cũng có quyền từ chối khi biết khách hàng không trung thực khi cung cấp thông tin, hoặc yêu cầu luật sư phải giả mạo bằng chứng Luật sư có quyền từ chối tư vấn theo yêu cầu của khách hàng là trái với sự thật khách quan của vụ việc hay trái pháp luật
(ii) Ví dụ minh hoạ
Ví dụ 1: Luật sư tính sai tiền cho khách hàng
Khi khách hàng đề nghị luật sư ước tính chi phí luật sư dựa trên thời gian
tư vấn, luật sư ước tính công việc sẽ hết khoảng 10 giờ và vì vậy số thù lao luật
sư là 5 triệu VND Luật sư đã thu trước của khách hàng 4 triệu VND Trên thực
tế, công việc luật sư chỉ mất 5 giờ Luật sư phải báo cho khách hàng là mình chỉ mất 5 giờ để tư vấn, vì thế chỉ tính 2.5 triệu VND, và trả là 4 triệu – 2.5 triệu = 1.5 triệu VND cho khách hàng
Ngược lại, nếu công việc thực tế lại hết 20 giờ, do khách hàng che dấu không thông báo đầy đủ thông tin cho luật sư, thì luật sư có thể nói với khách hàng yêu cầu tăng thêm phí, do lỗi che dấu thông tin của khách hàng Trung thực là nghĩa vụ của cả hai bên, luật sư và khách hàng Nếu khách hàng không trung thực, luật sư cũng có quyền từ chối bảo vệ quyền lợi cho khách hàng đó
Ví dụ 2: Tình huống xấu xảy ra cho khách hàng
Khi khách hàng thua kiện, bị cơ quan nhà nước từ chối đơn từ, hay bị đối tác từ chối không thanh toán, hay bị tự vấn sai, luật sư luôn luôn phải là người đầu tiên nói sự thực cho khách hàng Bên cạnh đó, để thể hiện sự mẫn cán của mình, luật sư phải tìm giải pháp để tư vấn các bước tiếp theo nhằm bảo vệ quyền lợi khách hàng Trung thực là nói sự thật, nhưng cũng không thể bỏ mặc khách hàng
Luật sư không được nói sai sự thật trước cơ quan tiến hành tố tụng chỉ vì nói đúng sự thật sẽ thê hiện tình trạng xấu của khách hàng Luật sư phải tôn trọng sự thật khách quan, và chỉ cần không tự mình làm xấu thêm tình trạng của khách hàng Luật sư chỉ có thể im lặng (do luật sư có nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng), hoặc luật sư có thể giúp khách hàng bằng cách lý giải động cơ, nguyên nhân, các tình huống giảm nhẹ
Ví dụ 3: Luật sư yêu cầu những vấn đề khách hàng không yêu cầu
Trang 17Luật sư trong 1 vụ kiện giữa khách hàng và đối tác của khách hàng có thể thấy việc hòa giải sẽ là cách tốt nhất cho khách hàng chứ không phải kiện tụng
Vì thế, luật sư liên hệ với đối tác của khách hàng, và cho rằng điều đó mang lại lợi ích cho khách hàng, và cho rằng mình độc lập nên có quyền có quan điểm độc lập Điều này là vi phạm nghĩa vụ trung thực với khách hàng, và cũng không phải là thực hiện nghĩa vụ độc lập Luật sư phải luôn trung thực với khách hàng, bao gồm cả việc xin chỉ thị của khách hàng trước khi hành động Luật sư cũng không được liên hệ với đối tác của khách hàng nếu đối tác đó có luật sư, vì điều
đó can thiệp vào nguyên tắc độc lập của luật sư đồng nghiệp Kể cả khi được khách hàng cho phép, luật sư cũng phải liên hệ với luật sư của đối tác trước Nên nhớ: làm tốt không bằng làm đúng, và tuyệt đối không được làm trái với chỉ thị của khách hàng
Ví dụ 4: Luật sư mắc sai lầm khi tư vấn khách hàng, thì phải làm sao? Luật sư không phải lúc nào cũng đúng Khi luật sư mắc sai lầm, dù là đối với khách hàng hay bất kỳ bên thứ ba nào, thì luật sư nên xin lỗi và sửa lỗi ngay, không nên đổ lỗi cho người khác mà không có cơ sở cụ thể, cũng không nên coi việc xin lỗi như một điều kiện để đánh đổi lợi ích Nhận lỗi, sửa lỗi và chịu trách
nhiệm về sai lầm của mình là biểu hiện của quy tắc trung thực
Ví dụ 5: Luật sư bị khách hàng khiếu nại lên công ty luật, đoàn luật sư hay liên đoàn
Luật sư bị khách hàng khiếu nại về nghĩa vụ độc lập, hay trung thực nên che dấu thông tin hay thông báo ngay cho công ty luật? Việc che dấu thông tin
về khiếu nại của khách hàng là vi phạm nghĩa vụ trung thực của luật sư Luật sư phải báo ngay cho công ty luật mà mình làm việc, hay doanh nghiệp mà mình làm việc về các khiếu nại của khách hàng, để công ty giám sát và giải quyết khiếu nại Tránh để tình trạng vụ khiếu nại được đưa thẳng lên đoàn luật sư hay liên đoàn, vừa mất thời gian của đoàn luật sư và liên đoàn, vừa mất uy tín công
ty luật, mà vừa khó giải quyết, vì sự thật khách quan thông thường ở cơ sở dễ
giám sát và kiểm soát hơn ở trên cao
Ví dụ 6: Các trường hợp vi phạm nghĩa vụ độc lập
- Luật sư X luôn được Ngân hàng H thuê Một khách hàng A của luật sư nhờ luật sư tư vấn một sản phẩm cho vay của Ngân hàng H Luật sư X sợ tư vấn quá thẳng thắn sẽ làm thiệt hại đến quan hệ giữa luật sư và Ngân hàng H, vì vậy chỉ tư vấn khách hàng A ở mức độ “trung dung, vừa phải”
- Luật sư X nhận tiền từ luật sư Y (chuyên về luật lao động) nếu luật sư X giới thiệu khách hàng A của mình (trong lĩnh vực luật doanh nghiệp) cho luật sư
Trang 18Y khi khách hàng A cần tư vấn về luật đầu tư Khi này, nếu X và Y là luật sư ở cùng công ty, thì họ không vi phạm nghĩa vụ độc lập, vì chủ thể tư vấn cho khách hàng là công ty luật (pháp nhân) chứ không phải cá nhân luật sư Nhưng nếu X và Y là hai luật sư độc lập với nhau, thì X sẽ vì tiền của Y mà giới thiệu Y chứ không phải vì kinh nghiệm của Y (Y chuyên về luật lao động chứ không phải là luật đầu tư) Như vậy trong tình huống đó luật sư X vi phạm nghĩa vụ độc lập (và kể cả nghĩa vụ trung thực, khách quan)
- Một công ty cung cấp phần mềm giới thiệu luật sư (giống như phần mềm Grab giới thiệu tài xế lái xe công nghệ), có thỏa thuận với luật sư X rằng, với mỗi khách hàng mà luật sư X nhận được nhờ tương tác qua phần mềm đó, công ty cung cấp phần mềm sẽ nhận được 10% phí luật sư từ khách hàng đó Thỏa thuận như vậy không vi phạm quy tắc đạo đức của luật sư (và công ty phần mềm thì không chịu sự điều chỉnh của quy tắc đạo đức của luật sư) Tuy nhiên, nếu công ty phần mềm thỏa thuận rằng họ sẽ chỉ giới thiệu khách cho luật sư X nếu luật sư X giới thiệu sản phẩm của công ty phần mềm đó cho nhiều luật sư khác, thì luật sư X cần cân nhắc xem động cơ giới thiệu của mình là để nhận khách từ công ty phần mềm, hay vì muốn đồng nghiệp có 1 phần mềm tốt Nếu
là động cơ thứ nhất, thì luật sư X đã vi phạm nghĩa vụ độc lập
Ví dụ 7: Các trường hợp vi phạm nghĩa vụ trung thực, khách quan
- Luật sư X không phải chuyên gia về luật lao động Khách hàng A của luật sư thông thường thuê luật sư trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp Hôm nay khách hàng A nhờ luật sư X ra tòa trong một vụ lao động Luật sư X không muốn đi, nhưng vì khách hàng năn nỉ quá nên đồng ý
- Luật sư X nhận người tập sự Y vào làm việc Luật sư X nói tập sư Y khi vào làm việc sẽ không được nhận lương Điều này hai bên đã thỏa thuận Tuy nhiên khi giao việc cho tập sự Y đi liên hệ công tác, nộp đơn từ, v.v thì lại không thanh toán chi phí đi lại cho tập sự Y Khi tập sư Y đòi thanh toán chi phí
đi lại vì công việc, thì luật sư X cho rằng trong Hợp đồng tập sự không có thỏa thuận sẽ thanh toán chi phí đi lại vì công việc nên sẽ không thanh toán Trong trường hợp này, luật sư X đã vi phạm nghĩa vụ trung thực Mặc dù Hợp đồng không quy định, nhưng không có nghĩa là luật sư X được hưởng lợi từ chi phí
sư X được hưởng lợi thế trong vụ tranh chấp trọng tài Cách thứ hai là luật sư X
Trang 19phải từ chối không tham gia đại diện khách hàng nếu trong hội đồng trọng tài có trọng tài viên là luật sư trong công ty luật của mình
- Con trai của khách hàng A đến gặp luật sư X, và nhờ luật sư X soạn thảo
di chúc cho khách hàng A Trong đó, con trai của khách hàng A sẽ được nhận phần di sản lớn nhất Lúc này, nghĩa vụ trung thực, khách quan của luật sư X buộc luật sư X phải đi gặp chính khách hàng A xem liệu nguyên vọng của khách hàng A có như con trai ông ấy nói không Luật sư X phải nhớ rằng khách hàng của mình là A chứ không phải là cậu con trai Như vậy, khi cậu con trai đề nghị một vấn đề có khả năng phương hại đến khách hàng của mình (là A) thì phải kiểm tra ngay, để luôn luôn đảm bảo là mình không những trung thực khách quan, mà còn không nhắm mắt làm ngơ bất kỳ tình huống nào mà một người trung thực, khách quan sẽ không nhắm mắt làm ngơ
- Hai vợ chồng muốn bán 1 căn nhà Ông chồng đến gặp luật sư X và nhờ luật sư X soạn thảo Hợp đồng mua bán nhà cho hai vợ chồng Ông chồng nói rằng hai vợ chồng cần tiền bán gấp Bà vợ đang công tác nước ngoài nên không thể về kịp Luật sư X trong trường hợp đó nếu nghe lời ông chồng là vi phạm nghĩa vụ trung thực, khách quan Nếu tài sản là của chung vợ chồng, thì phải có
sự đồng ý bằng văn bản của cả hai vợ chồng, hoặc vợ phải ủy quyền cho chồng Rất có thể ông chồng nói dối, và bà vợ không đi công tác, cũng không có ý định bán nhà Như vậy, luật sư X phải kiểm tra thông tin ông chồng nói có đúng hay không, như một người bình thường mà trung thực, khách quan vẫn làm
- Luật sư X đại diện cho khách hàng A trong một vụ trọng tài quốc tế, trong đó luật áp dụng là luật Việt Nam Trong vụ việc này, luật sư đối tác đề nghị với luật sư X thống nhất về tiêu chí chọn chủ tịch hội đồng trọng tài, đề hai trọng tài viên do các bên chỉ định lựa chọn (trên tinh thần tôn trọng thỏa thuận giữa các bên) Luật sư X đề nghị chủ tịch phải là từ một nước theo hệ thống dân luật (vì Việt Nam là nước theo hệ thống dân luật) Luật sư đối tác phản đối, cho rằng cách chọn như thế là không khách quan Thực tế, một vấn đề khách quan hay không là do tình huống cụ thể Do Việt Nam là nước theo hệ thống dân luật, nên thông thường một chủ tịch có nền tảng từ một nước dân luật sẽ hiểu luật Việt Nam tốt hơn là một chủ tịch từ một nước theo hệ thống common law Nhận định của luật sư X trong tình huống này là hoàn toàn khách quan
- Luật sư X, giám đốc công ty luật đăng thông báo tuyển dụng tập sự, và quy định rằng công ty chi nhận nữ, không nhận nam Trong trường hợp này, luật
sư X có thể bị coi là vi phạm quy tăc khách quan, hay quy tắc đối xử bình đẳng
và công bằng với các đồng nghiệp, trừ trường hợp luật sư X có thể chứng minh rằng do lượng tập sự nam quá đông nên ưu tiên tuyển nữ để tạo sự cân bằng giới trong công ty Các chính sách tuyển dụng trong công ty đều phải được quy định
Trang 20cụ thể và công khai, để không thành viên nào trong công ty có thể nói công ty không khách quan, hay không tạo điều kiện cho mình thăng tiến
2.3 Quy tắc 3 - Giữ gìn danh dự, uy tín và phát huy truyền thống của luật sư
“3.1 Luật sư coi trọng, bảo vệ danh dự, uy tín của đội ngũ luật sư như bảo vệ danh dự, uy tín của chính mình; xây dựng, củng cố, duy trì niềm tin của khách hàng, cộng đồng xã hội với luật sư và nghề luật sư
3.2 Luật sư có nghĩa vụ phát huy truyền thống tốt đẹp của nghề luật sư; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn; giữ gìn phẩm chất, nhân cách và uy t ín nghề nghiệp; có thái độ ứng xử đúng mực, có văn hóa trong hành nghề và lối sống; xứng đáng với sự tin cậy, tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư.”
(i) Nội dung chi tiết
a Ý nghĩa Quy tắc 3 nhấn mạnh nghĩa vụ của luật sư đối với tập thể Vì vai trò của luật sư trong hệ thống nhà nước pháp quyền XHCN và sứ mệnh của luật sư, luật
sư không thể để “con sâu làm rầu nồi canh”, mặc dù nếu đối với một công dân bình thường, thì “ai làm người ấy chịu” Vì vậy, Liên đoàn Luật sư Việt Nam yêu cầu mỗi luật sư phải bảo vệ uy tín của liên đoàn, của đoàn luật sư mà mình
là thành viên bằng cách gương mẫu trong cuộc sống và trong công việc, vừa hồng vừa chuyên Thông qua đó, luật sư chiếm được niềm tin của khách hàng, cộng đồng và xã hội Xét cho cùng, điều này cũng quay về bài dạy “bốn đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và định nghĩa “đại trượng phu” của Mạnh Tử đã bàn
ở Quy tắc 2
b Giải thích nội dung
*Truyền thống tốt đẹp của luật sư
Dân tộc Việt Nam từ rất lâu đã là nơi sản sinh ra những bậc kỳ tài về tranh biện, hay sau này là những luật sư nổi tiếng Thời phong kiến nhà Lý, có trạng nguyên Lê Văn Thịnh đã dùng tranh biện để buộc nhà Tống trả lại 6 huyện 3 động thuộc châu Quảng Nguyên cho Đại Việt Thời nhà Lê có danh nhân Nguyễn Trãi viết thư hòa giải dụ hàng đến hàng chục thành lũy quân Minh Thời Chúa Nguyễn có đại thần Nguyễn Cư Trinh vừa đánh vừa đàm mà trong 3 năm (1753-1756) thu phục được cả Miền Tây Nam Bộ Thời Pháp thuộc có luật sư Phan Văn Trường, người Việt Nam đầu tiên đậu tiến sỹ luật khoa ĐH Sorbone Pháp, là một trong 4 chí sỹ (trong đó có Bác Hồ) ký dưới bút danh Nguyễn Ái Quốc vào Yêu sách của Nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Versailles 1918 Thời chống Pháp có luật sư Trinh Đình Thảo, luật sư Thái Văn Lung, luật sư
Trang 21Phan Anh, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, luật sư Phạm Văn Bạch và nếu có thể,
kể đến cả giáo sư luật, đại tướng Võ Nguyên Giáp Thời chống Mỹ có luật sư Nguyễn Hữu Thọ là chủ tịch mặt trân dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam,
có luật sư Vũ Văn Mẫu là một trong những người đặt nền móng cho dân luật Việt Nam Các luật sư này, dù lớn lên dưới nền giáo dục thuộc địa, vẫn kế thừa những truyền thống tốt đẹp của đất nước, cùng với văn minh nhân loại về tam quyền phân lập và sự độc lập, liêm chính của ngành tư pháp mà xây dựng được truyền thống tốt đẹp của đội ngũ luật sư Luật sư Việt Nam chúng ta tự hào là hậu duệ của những bậc tiền bối nổi tiếng đó
*Nghĩa vụ bảo vệ danh dự, uy tín của luật sư đối với đồng nghiệp và đội ngũ luật sư
Vì kế thừa truyền thống tốt đẹp của đội ngũ luật sư, vì kỳ vọng của nhà nước, của xã hội và cộng đồng với đội ngũ luật sư, luật sư có nghĩa vụ phải bảo
vệ danh dự, uy tín của chính mình đội ngũ luật sư nói chúng và từng luật sư đồng nghiệp nói riêng Khổng Tử dạy, phải “tịnh tâm, thu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Trước tiên, luật sư phải có lòng tự trọng, tự bảo vệ uy tín danh
dự của mình Muốn vậy, trước tiên luật sư phải độc lập và trung thực (quy tắc 2) Sau đó, phải tôn trọng danh dự uy tín của các đồng nghiệp khác Không dùng tin nhắn, báo chí, mạng xã hội để tung tin nói xấu luật sư đồng nghiệp Ở đây, cũng cần phân biệt giữa “nói xấu” và “nói đúng sự thật” Nếu là thông tin khách quan, trung thực, nhưng là thông tin không tốt về luật sư đồng nghiệp, luật sư cũng không nên công bố công khai các thông tin đó, mà nên xử lý thông tin có trách nhiệm, đúng nơi đúng chỗ để bảo vệ uy tín đội ngũ luật sư, nhưng đồng thời cũng không bao che cho cái xấu, cái ác
*Nghĩa vụ không ngừng học hỏi của luật sư
Mặc dù được kế thừa truyền thống vinh quang đáng tự hào, chiến tranh đã làm gián đoạn sự phát triển nghề luật ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến tân sau năm 1975 Các trường đại học luật mới mở từ những năm 1980, Bộ luật dân sự mới được ban hành từ năm 1995, và các công ty luật nước ngoài cũng chỉ mới được mở cùng năm đó Như vậy, nghề luật của chúng ta đi sau các nước tiên tiến hàng trăm năm Điều này tạo ra áp lực cho giới luật sư phải không ngừng học hỏi, học từ trường lớp, từ các luật sư ở các nước tiên tiến, từ doanh nghiệp, từ nhân dân Luật sư Việt Nam không ngừng học hỏi, lấy kiến thức nhân loại làm giàu cho tri thức của mình, áp dụng tri thức đó vào thực tiễn, rồi quay lại bảo vệ quyền lợi của đất nước Việt Nam trước các luật sư hàng đầu thế giới, nhất định sẽ có được sự tôn trọng và tin tưởng của chính quyền, của nhân dân
*Nghĩa vụ giữ gìn phẩm chất, nhân cách và uy tín nghề nghiệp
Trang 22Nghĩa vụ giữ gìn phẩm chất, nhân cách và uy tín nghề nghiệp của luật sư
có liên quan đến nghĩa vụ bảo vệ uy tín, danh dự của chính mình và nghề nghiệp Trong ngắn hạn, người luật sư nhượng bộ các nhu cầu vật chất của bản thân của gia đình mà hạ thấp phẩm chất nhân cách, nhưng họ sẽ phải trả giá đắt trong dài hạn Trái lại, người giữ gì phẩm chất, nhân cách và uy tín trong ngắn hại có thể gặp nhiều gian khổ, nhưng về dài hạn sẽ cứu được nhiều người, bảo
vệ được nhiều doanh nghiệp, đem lại lợi ích cho khách hàng, và thậm chí cứu được đất nước trong những vụ kiện quốc tế hay khi danh dự quốc gia bị đặt lên bàn cân
*Tính chuyên nghiệp của luật sư: ứng xử đúng mực, có văn hóa trong hành nghề và lối sống
Vì “quan trên trông xuống người ta trông vào”, nên luật sư phải thể hiện tính chuyên nghiệp – có văn hóa trong khi hành nghề và cả lối sống Sẽ rất phản cảm nếu người dân bắt gặp luật sư bạo hành gia đình, đánh đập hay mạt sát nhân viên, vi phạm pháp luật, phóng nhanh vượt ẩu, nhậu nhẹt say sưa, hay vô cảm trước nỗi đau của đồng loại Người dân sẽ cho rằng luật sư không tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội đối với bản thân mình, thì cũng không thể giúp người dân tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội, đồng thời cũng tự hỏi vì sao Liên đoàn vẫn còn chấp nhận những luật sư như vậy trong tổ chức Chính vì thế, trở thành người luật sư là nhiệm vụ rất khó khăn Luật sư không được phép tự cao tự đại,
mà phải khiêm tốn và ứng xử đúng mực, có văn hóa, kính trên nhường dưới trong lời ăn tiếng nói hàng ngày Có như vậy, thì luật sư mới xứng đáng với sự tin cậy, tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư
c Mối liên hệ với các quy tắc khác trong bộ quy tắc, các quy định của pháp luật về luật sư
*Quy tắc 3 và Quy tắc 9 (những điều luật sư không được làm)
Quy tắc 9 đã cụ thể hóa các nghĩa vụ tại Quy tắc 2 và Quy tắc 3 Tuy nhiên, danh sách tại Quy tắc 9 đôi khi cũng khó giải thích Khi đó, luật sư phải quay lại Quy tắc 2 và Quy tắc 3 làm kim chỉ nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: xét cho cùng, vấn đề của công tác tư pháp là sống ở đời và làm người Vì thế, việc thuôc lòng Quy tắc 9 rất quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn, là hiểu được tinh thần của Quy tắc 9 và các quy tắc khác thông qua Quy tắc 2 và Quy tắc 3
* Quy tắc 3 và các quy tắc về quan hệ luật sư với khách hàng
Đối với các quy định của bộ quy tắc trong chương quan hệ với khách hàng, Quy tắc 3 áp dụng trong việc tôn trọng luật sư đồng nghiệp, không chèo kéo khách hàng hay quảng cáo theo cách thức ảnh hưởng đến uy tín, danh dự
Trang 23của luật sư khác Đồng thời, việc ứng xử đúng mực buộc luật sư phải chịu khó lắng nghe yêu cầu của khách hàng, không áp đặt ý chí chủ quan của mình lên trên ý chí của khách hàng, và cũng không lợi quan hệ với khách hàng để đạt lợi ích tình cảm, vật chất trái pháp luật
*Quy tắc 3 và các quy tắc về quan hệ luật sư với đồng nghiệp, cơ quan nhà nước
Đối với các quy định của bộ quy tắc trong chương quan hệ với luật sư đồng nghiệp và cơ quan nhà nước, Quy tắc 3 đặt nền tảng cho nguyên tắc bảo vệ lợi ích tập thể, đặt lợi ích tập thể, của đội ngũ lên trên lợi ích cá nhân Khi luật
sư sống đúng với Quy tắc 3, thì luật sư cũng đã tự động tuân thủ các quy tắc trong chương quan hệ với luật sư đồng nghiệp và cơ quan nhà nước
(ii) Ví dụ minh hoạ
Ví dụ 1: Luật sư này nói xấu luật sư khác
Tình huống nói xấu các luật sư với nhau có thể rất đa dạng Có luật sư lên mạng phát biểu rằng “ở Việt Nam luật sư chân chính là nghèo” Phát biểu này có thể coi như xúc phạm toàn thể đội ngũ luật sư Tuy nhiên, nếu có bằng chứng cho thấy luật sư A, B hay C vi phạm pháp luật, thì luật sư đồng nghiệp cũng không thể bao che Còn nếu không có bằng chứng, nhưng suy đoán rồi quy kết, thì luật sư đó không những phạm tội vu khống, mà còn vi phạm Quy tắc 3 về bảo vệ danh dự, uy tín của đội ngũ luật sư
Ví dụ 2: Luật sư không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hay không đóng đoàn phí
Pháp luật bắt buộc luật sư phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp,
và quy chế liên đoàn luật sư yêu cầu luật sư phải đóng đoàn phí Luật sư không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là vi phạm nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, không đóng đoàn phí là vi phạm quy chế liên đoàn Đồng thời, xã hội không có vật bảo chứng cho trách nhiệm của luật sư, và liên đoàn hay đoàn luật sư sẽ không có kinh phí để thực thi bộ quy tắc và giữ vững kỷ cương đoàn thể Vì vậy, việc không đóng bảo hiểm trách nhiệm hay không đóng đoàn phí là cơ sở để khai trừ luật sư ra khỏi đoàn luật sư
Ví dụ 3: Luật sư không nói hết sự thật hay nói quá sự thật
Để khách hàng tin tưởng và giao nhiệm vụ, luật sư thường phải trình bài kinh nghiệm, hay thậm chí là các mối quan hệ của mình Tuy nhiên, việc luật sư nói không hết sự thật hay nói quá sự thật có thể dẫn đến làm mất uy tín đồng nghiệp, hay làm cho khách hàng hiểu lầm Điều này vi phạm Quy tắc 2 (trung thực) và cả Quy tắc 3 (giữ gìn phẩm chất, nhân cách và uy tín nghề nghiệp)
Trang 24Ví dụ 4: Luật sư có biểu hiện bất công, bắt nạt với nhân viên, đồng nghiệp
và các bên thứ ba khác
Vì phải giữ gìn phẩm chất và nhân cách, cũng như phải gương mẫu, nên luật sư có biểu hiện bất công, bắt nạt với nhân viên và đồng nghiệp, phân biệt đối xử theo giới tính, tuổi tác sẽ bị coi là vi phạm Qquy tắc 3 Người bị vi phạm
có quyền phản đối với luật sư đó, sau đó báo cáo lên tổ chức mà luật sư chịu sự quản lý Sau đó, nếu tổ chức không có giải pháp thỏa đáng, thì người bị vi phạm
có quyền đưa vấn đề lên đoàn luật sư để có hình thức cảnh cáo, kỷ luật thích đáng đối với luật sư này
Ví dụ 5: Một số tình huống vi phạm khác
- Luật sư X nhận được thông tin có một tờ báo A nói xấu mình Luật sư
X viết một lá thư nặng nề, xúc phạm đến tổng biên tập tờ báo A
- Luật sư X bị Ban kỷ luật đoàn luật sư gọi lên vì có đơn thư của người dân về hành vi không đúng mực của luật sư X (say xỉn nhậu nhẹt gây ồn ào hàng xóm) Luật sư X từ chối không lên, cho rằng do người dân không phải là khách hàng của mình nên mình không có nghĩa vụ gì đối với người dân đó Trong tình huống này, Luật sư vi phạm Quy tắc 3, cho dù người gửi đơn thư là khách hàng của mình hay không
- Luật sư X (đồng thời là một giám đốc doanh nghiệp) nói xấu đồng nghiệp là luật sư Y trên mạng Luật sư Y gửi đơn lên đoàn luật sư đề nghị xử lý
kỷ luật Đoàn luật sư yêu cầu luật sư X lên gặp, luật sư X không lên, cho rằng mình nói xấu luật sư Y với tư cách là một giám đốc doanh nghiệp chứ không phải với tư cách là một luật sư, vì vậy Quy tắc 3 không thể áp dụng Trong trường hợp này, luật sư X vẫn vi phạm Quy tắc 3, vì đã là luật sư là chịu sự điều chỉnh của quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư, cho dù dưới danh nghĩa nào
- Đoàn luật sư P ra kỷ luật rút tên luật sư F Lý do kỷ luật là bởi luật sư F
đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, có nhiều bài viết, phát ngôn, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài mang tính bịa đặt; nói xấu luật sư, các cơ quan tố tụng, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhằm mục đích kích động, tuyên truyền, xuyên tạc, không đúng sự thật, gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng và Luật sư Việt Nam Dù Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư P đã nhiều lần họp nhắc nhở nhưng luật sư F không thừa nhận sai phạm, không khắc phục
2.4 Quy tắc 4 - Tham gia hoạt động cộng đồng
“4.1 Luật sư luôn sẵn sàng và tích cực tham gia vào những hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng xã hội, phù hợp với nghề nghiệp của luật sư
Trang 254.2 Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý bằng sự tận tâm, vô tư và trách nhiệm nghề nghiệp như đối với các vụ việc có nhận thù lao.”
(i) Nội dung chi tiết
Luật sư luôn phải hoàn thành sứ mệnh của luật sư (được quy định ở Quy tắc 1), luật sư còn phải sẵn sàng và tích cực tham gia vào những hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng xã hội phù hợp với nghề luật sư Điều đó có thể hiểu trên một số phương diện sau:
Luật sư tham gia vào các hoạt động trợ giúp pháp lý, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho cộng đồng, tham gia vào công tác xây dựng pháp luật, luật sư có trách nhiệm tham gia vào công tác đào tạo, bồi dưỡng luật sư Việc truyền nghề từ thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau là đạo đức của nghề luật
sư Ngoài ra luật sư còn tham gia vào các hoạt động cộng đồng với tư cách là một công dân, luật sư tham gia vào các hoạt động thiện nguyện thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng
Thông qua những hoạt động vì cộng đồng của đội ngũ luật sư nêu trên, giá trị xã hội của nghề luật sư sẽ được người dân và xã hội ghi nhận và tôn vinh, đây là một nghề cao quý phục vụ cộng đồng và phụng sự công lý Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ được Luật luật sư quy định, vừa là quyền lợi và đạo đức nghề nghiệp luật sư để thể hiện tinh thần phục vụ cộng đồng của luật sư
Mỗi luật sư khi hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng thì cần phải thỏa thuận thù lao để duy trì phát triển nghề nghiệp Thù lao của luật sư được tính trên cơ sở công sức thời gian trì trệ của luật sư và tính chất phức tạp của vụ việc Do đó, luật sư phải nỗ lực tận tâm phục vụ khách hàng Còn trợ giúp pháp lý của luật sư thì không có thù lao, do đó, để có thể nhận được sự tin cậy của người dân là nghề luật sư không phải là một nghề theo đuổi lợi nhuận, mỗi luật sư luôn phải ý thức không để cho người dân hiểu nhầm và làm tổn thương nghề luật sư Mỗi luật sư phải ý thức và nỗ lực bằng sự tận tâm, vô tư để tiến hành trợ giúp pháp lý cho người dân Có như vậy, luật sư mới nhận được sự tin cậy của người dân và xã hội
Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý cho người dân là cơ hội để mỗi luật sư
và cả đội ngũ xây dựng uy tín và niềm tin với người dân và xã hội Do đó, luật
sư không thể để xảy ra sai sót trong thực hiện trợ giúp pháp lý thiếu trách nhiệm, không thiết thực để người dân không thể tiếp cận công lý, tiếp cận pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân Qua công tác trợ giúp pháp lý sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân vào công lý, công bằng và vào luật pháp
Trang 26Đối với luật sư đã ký hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng
có nhận thù lao, nhưng trong quá trình thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý, luật
sư phát hiện khách hàng có nhiều khó khăn và gặp nhiều hoàn cảnh cần giúp đỡ thi cũng khuyến khích luật sư có thể thực hiện trợ giúp pháp lý trong điều kiện
có thể cho khách hàng bằng hình thức miễn, giảm một phần thù lao đã được thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ đã ký Nếu làm được điều đó thì luật sư luôn nhận được sự tin cậy của khách hàng và của xã hội, uy tín của luật sư sẽ được ghi nhận và ngày càng được củng cố trước người dân và xã hội
Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý là hoạt động thường xuyên luôn song hành với hoạt động nghề nghiệp của luật sư Do đó, mỗi luật sư cần ý thức trách nhiệm việc thực hiện trợ giúp pháp lý như việc thực hiện cung cấp dịch vụ pháp
lý có thù lao Mỗi luật sư và cả đội ngũ cần phải làm tốt thì mới có thể xây dựng nghề luật sư, đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của người dân
(ii) Ví dụ minh họa:
Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh triển khai chiến dịch mùa hè xanh huy động đội ngũ luật sư đến vùng sâu vùng xa giúp đỡ, xây dựng cầu cho bà con người dân Liên đoàn Luật sư Việt Nam huy động kinh phí để giúp chính quyền nhân dân thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam phòng chống COVID-
19 Đội ngũ luật sư Việt Nam đóng góp kinh phí giúp đỡ đồng bào bị bão lũ ở miền Trung năm 2020
Trang 27CHUYÊN ĐỀ 2 Quan hệ của Luật sư với khách hàng
I Abstract / Bản tóm tắt
Trong tổng thể các mối quan hệ giữa luật sư với các chủ thể khác nhau trong hành nghề luật sư, quan hệ luật sư – khách hàng là mối quan hệ nền tảng làm phát sinh các quan hệ khác;
Về pháp lý, quan hệ luật sư – khách hàng là một loại quan hệ dân sự, cụ thể là quan hệ hợp đồng dịch vụ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Trong quan hệ này, các quyền và nghĩa vụ của luật sư với khách hàng được thiết lập trên cơ sở tự nguyện của hai bên Tuy nhiên, vì là loại quan hệ dịch vụ pháp lý
nên còn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật về luật sư
Danh dự, uy tín, trạng thái tích cực hay tiêu cực trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư gắn liền với quá trình thực hiện mối quan hệ này Do vậy, tính chất đạo đức trong hành vi ứng xử của luật sư có thể nói là bản chất của mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng, là một trong những yếu tố (như kỹ năng hành nghề) góp phần quyết định sự thành công trong nghề nghiệp của luật sư
1.1 Mục tiêu:
Giúp luật sư hiểu được bản chất mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng, thấy được bổn phận trách nhiệm của luật sư trong hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng để từ đó củng cố lòng tin của khách hàng vào luật sư, góp phần xây dựng hình ảnh cao đẹp của người luật sư trong xã hội
Chương II của Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của luật sư gồm có
12 Quy tắc (từ Quy tắc 5 đến Quy tắc 16) xác định những nghĩa vụ đạo đức và ứng xử của luật sư với khách hàng -mối quan hệ được cho là nền tảng để phát sinh các quan hệ khác Chương II được chia thành bốn mục lớn lần lượt là:
“Những quy tắc cơ bản”, “Nhận vụ việc”, “Thực hiện vụ việc” và “Kết thúc vụ việc” Mỗi mục quy định chi tiết những nghĩa vụ, cách ứng xử của Luật sư trong từng giai đoạn Từ đó, là cơ sở cho các luật sư có thể dựa vào để ứng xử một cách phù hơp với khách hàng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và hình ảnh của luật sư với xã hội
Trang 28II Chương trình học chi tiết
2.1 Quy tắc 5 - Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của
khách hàng
Luật sư có nghĩa vụ tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và các biện pháp hợp pháp để bảo
vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định của pháp
l uật và Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam
(i) Ý nghĩa
Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, cùng với bảo mật thông tin, là hai quy tắc cơ bản và quan trọng nhất của luật sư Chỉ khi tuân thủ quy tắc này, luật sư mới có thể hoàn thành được công việc của mình là cung cấp cho khách hàng những giải pháp pháp lý hiệu quả và phù hợp nhất Việc tuân thủ quy tắc này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ giúp luật sư thực hiện công việc của mình như trên, mà còn giúp nâng cao uy tín của luật sư trên thị trường pháp lý, củng cố niềm tin của khách hàng và mở rộng hơn phạm vi khách hàng
(ii) Giải thích nội dung
Để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, Quy tắc 5 quy định:
- Nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng; và
- Luật sư phải bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng dựa trên cơ sở tận tâm với công việc và có kiến thức chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp
*Nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng
Để bảo vệ được tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng, luật sư trước hết phải không làm xấu đi tình trạng của khách hàng Đây là mức tối thiểu cần đạt được mà quy tắc đặt ra Quy tắc này quy định luật sư đặt quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng là ưu tiên hàng đầu khi thực hiện dịch vụ pháp lý Trong mọi trường hợp, quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng phải được luật sư bảo vệ ở mức độ cao nhất trong khả năng cho phép Tuy nhiên, trên thực tế vẫn
có những trường hợp luật sư không đảm bảo được yêu cầu này
Ví dụ, trong nhiều trường hợp, các luật sư được phân công bào chữa cho
bị cáo bị khởi tố hình sự đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng như giết người, hiếp dâm, v.v chia sẻ những “cảm nghĩ cá nhân” về khách hàng của mình trên mạng xã hội hay các phương tiện thông tin đại chúng Các bình luận này đôi khi dẫn đến những hệ quả trái ngược, bao gồm việc đẩy góc nhìn của dư luận sang chiều hướng xấu hơn cho khách hàng Như vậy, luật sư không chỉ không thực
Trang 29hiện được sứ mệnh bảo vệ lợi ích của khách hàng, mà còn làm cho tình trạng của khách hàng trở nên bất lợi hơn Trừ khi thực hiện theo yêu cầu của khách hàng, việc luật sư bình phẩm không tốt về thái độ giải quyết của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đối với vụ việc của khách hàng, khiến cho các các cơ quan, người có thẩm quyền này có thiện cảm không tốt đối với khách hàng dẫn đến vô tình gây bất lợi cho chính khách hàng của mình Nói tóm lại, luật sư cần phải đảm bảo tuân thủ tối đa việc không làm xấu hơn tình trạng của khách hàng, làm nền tảng cho việc đạt được những kết quả cao hơn mà quy tắc yêu cầu
Mặc dù quy tắc đặt ra yêu cầu luật sư phải bảo vệ tốt nhất lợi ích cho khách hàng, điều này không đồng nghĩa với việc luật sư phải đáp ứng mọi yêu cầu và mong muốn chủ quan của khách hàng Cần lưu ý là quyền và lợi ích tốt nhất của khách hàng phải là những quyền lợi hợp pháp, tức nghĩa vụ của luật sư
là bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong phạm vi pháp luật cho phép
Trên thực tế, có hai trường hợp mà luật sư hay gặp phải Một là, khách hàng nhờ luật sư tư vấn về một hành vi vi phạm pháp luật, ví dụ như nhờ luật sư
tư vấn sản xuất vũ khí Trong trường hợp này, cách xử lý của luật sư đó là từ chối tư vấn cho khách hàng Ngoài ra, luật sư cần lưu ý nghĩa vụ tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Theo
đó, luật sư cần dựa trên các cơ sở của pháp luật hình sự để thực hiện hay không thực hiện việc tố giác
Trường hợp thứ hai, cũng là trường hợp mà luật sư rất hay gặp phải khi hành nghề, là khi khách hàng yêu cầu luật sư tư vấn làm thế nào để không vi phạm pháp luật nhưng vẫn giúp khách hàng đó đạt được mục đích có lợi nhất
Ví dụ, làm thế nào để giảm thiểu nghĩa vụ thuế hay không phải thực hiện một số thủ tục hành chính Vì hành vi này không được xem là vi phạm pháp luật nên theo quy tắc trên thì luật sư cần phải bảo vệ tốt nhất cho lợi ích của khách hàng Tuy nhiên, luật sư cần phải xem xét kĩ lưỡng việc tư vấn hoặc đại diện cho khách hàng trong trường hợp trên có đươc coi là đã bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng chưa Bởi lẽ, rủi ro trong những trường hợp này vẫn có thể xảy ra và gây bất lợi cho khách hàng Ngoài ra, luật sư cần xem xét thêm ý nghĩa và mục đích của việc ban hành ra các thủ tục, nghĩa vụ đó là gì để đưa ra quyết định có
tư vấn, đại diện cho khách hàng trong trường hợp này hay không
*Luật sư phải bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng dựa trên cơ sở tận tâm với công việc và có kiến thức chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp
Trước tiên, luật sư cần tận tâm với công việc, tức là làm việc hết mình, dành thời gian để bảo đảm tốt nhất chất lượng dịch vụ pháp lý cho khách hàng
và đúng với thời hạn mà khách hàng yêu cầu, kể cả khách hàng ở nước ngoài có
Trang 30múi giờ khác Việt Nam Yêu cầu này đòi hỏi luật sư không chỉ dừng ở mức hoàn thành công việc, mà còn phải đặt cả tâm huyết và sự thấu hiểu khách hàng lên hàng đầu, để cung cấp cho khách hàng những giải pháp tốt nhất, hiệu quả nhất
có thể Trên thực tế có những trường hợp luật sư không tận tâm trong việc bảo
vệ quyền lợi của khách hàng, ví dụ như không nghiên cứu hoặc nghiên cứu hồ
sơ của vụ án một cách hời hợt, vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng
cứ và hòa giải hay thậm chí là phiên xét xử
Thứ hai, trong quá trình thực hiện công việc, luật sư cần sử dụng các kiến thức chuyên môn và kĩ năng làm việc một cách hiệu quả Để trở thành một luật
sư ở Việt Nam, cần phải trải qua một quá trình học tập và rèn luyện lâu dài Tuy nhiên, sau khi đã hành nghề một cách chính thức, các luật sư vẫn cần rèn luyện kiến thức và kĩ năng chuyên môn mỗi ngày để có thể cải thiện năng lực của bản thân nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng một cách tốt nhất Do đó, ngoài việc tham gia các khóa học bắt buộc, luật sư cần tham gia các hội thảo chuyên sâu do Bộ Tư pháp, Liên đoàn luật sư tổ chức Đồng thời, mỗi luật sư cần tự mình trau dồi, cập nhật kiến thức pháp lý mỗi ngày hoặc giao lưu với các đồng nghiệp để học hỏi thêm các kiến thức mới
Trong thực tiễn hành nghề, luật sư phải vận dụng tối đa các kiến thức và
kĩ năng nghề nghiệp mà mình có để giải quyết một vấn đề pháp lý Lấy ví dụ như trong công việc nghiên cứu, luật sư phải biết được các nguồn luật, văn bản
có giá trị pháp lý và tiến hành nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trước khi đưa ra đề xuất cho khách hàng Trong một vụ viêc mà khách hàng yêu cầu luật sư tư vấn hoặc thực hiện các dịch vụ pháp lý về cấp phép, ngoài các văn bản và các mốc thời gian luật định, luật sư nên bổ sung thêm các văn bản khác mà cơ quan nhà nước yêu cầu thêm hoặc thời gian thực tế mà luật sư biết được thông qua kinh nghiệm xử lý các vụ việc trước đó Lấy ví dụ trường hợp một nhà đầu tư nước ngoài cần tư vấn một vấn đề pháp lý về thành lập doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề có điều kiện, ngoài kiến thức về pháp luật doanh nghiệp, luật sư cần tìm hiểu thêm các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan đến mà doanh nghiệp cần phải đáp ứng để được thành lập doanh nghiệp (như các báo cáo về môi trường, tiêu chuẩn kĩ thuật, đất đai v.v.)
Tóm lại, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng là quy tắc cơ bản và quan trọng nhất của một luật sư Để đảm bảo tuân thủ quy tắc này, luật sư cần tận tâm, nỗ lực hết sức để cung cấp giải pháp pháp lý và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất trên cơ sở kiến thức chuyên môn và kĩ năng nghề nghiệp của mình
(iii) Mối liên hệ với các quy tắc khác trong bộ quy tắc, các quy định của pháp luật về luật sư
Trang 31Vì là nghĩa vụ cơ bản nhất của luật sư, Quy tắc 5 được xem là tiền đề và
có mối quan hệ mật thiết với các quy tắc còn lại trong Bộ Quy tắc Các quy tắc
về những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng, nghĩa vụ của luật sư khi nhận vụ việc, thực hiện vụ việc và kết thúc vụ việc được quy định từ Quy tắc 9 đến Quy tắc 16 đều liên quan đến nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng
a Quan hệ với Quy tắc 9 (Những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng)
Quy tắc 9 quy định những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng Các hành vi bị nghiêm cấm trong Quy tắc 9 đều nhằm để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng nhằm tuân thủ đạo đức hành nghề luật sư Quy tắc 9 đã cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm nhằm tuân thủ Quy tắc 5
b Quan hệ với Quy tắc 12 (Thực hiện vụ việc của khách hàng)
Quy tắc 12 khuyến khích luật sư giải quyết vụ việc của khách hàng một cách tích cực, trách nhiệm, chủ động Cụ thể, luật sư phải (a) chủ động, tích cực giải quyết vụ việc của khách hàng và thông báo tiến trình giải quyết vụ việc để khách hàng biết; (b) nhận và có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài liệu, hồ sơ mà khách hàng giao cho mình; (c) phải có thái độ ứng xử phù hợp, tránh làm phát sinh tranh chấp với khách hàng; và (d) nếu có sự không thống nhất ý kiến giữa các luật sư có thể gây bất lợi cho khách hàng thì luật sư phải thông báo để khách hàng thực hiện quyền lựa chọn Quy tắc 12 chính là các nguyên tắc về đạo đức
mà luật sư phải tuân thủ trong quá trình thực hiện vụ việc trên cơ sở bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng
c Quan hệ với Quy tắc 15 (Xung đột về lợi ích)
Quy tắc 15 quy định về xung đột lợi ích và các trường hợp xung đột lợi ích mà luật sư cần từ chối tiếp nhận hoặc từ chối thực hiện Xung đột về lợi ích
là trường hợp do ảnh hưởng từ quyền lợi của luật sư, nghĩa vụ của luật sư đối với khách hàng hiện tại, khách hàng cũ, bên thứ ba dẫn đến tình huống luật sư bị hạn chế hoặc có khả năng bị hạn chế trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng Mục đích của việc từ chối theo Quy tắc 15 là để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trước các trường hợp xảy ra xung đột về lợi ích Một số trường hợp có thể gây hạn chế đến khả năng bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng theo Quy tắc 15 là:
- Xung đột về lợi ích giữa khách hàng và luật sư;
- Xung đột về lợi ích giữa nhiều khách hàng với nhau;
Trang 32- Xung đột về lợi ích giữa khách hàng và người thân của luật sư
Như vậy, Quy tắc 15 được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ Quy tắc 5 một cách chặt chẽ, phù hợp với đạo đức luật sư
2.2 Quy tắc 6 - Tôn trọng khách hàng
“Luật sư thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý trên cơ sở yêu cầu hợp pháp của khách hàng, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp và sự lựa chọn của khách hàng.”
(i) Nội dung chi tiết
a Ý nghĩa Quy tắc này hướng đến việc tạo lập, xây dựng quan hệ dịch vụ pháp lý giữa luật sư và khách hàng một cách tốt đẹp, lành mạnh Quy tắc này là quy phạm đạo đức chung và xuyên suốt trong quan hệ giữa luật sư và khách hàng, bao gồm các giai đoạn tiếp nhận vụ việc, thực hiện vụ việc và kể cả khi quan hệ dịch vụ pháp lý đã chấm dứt
Quy tắc đã đặt ra yêu cầu luật sư khi tiếp nhận và tham gia thực hiện dịch
vụ pháp lý cho khách hàng phải xuất phát từ “yêu cầu hợp pháp” Luật sư không được nhận và thực hiện đối với “yêu cầu không hợp pháp” từ khách hàng
Đồng thời, quy tắc xác định nghĩa vụ của luật sư là phải tôn trọng “quyền, lợi ích hợp pháp” và phải xuất phát từ tự do ý chí của khách hàng trong việc lựa chọn luật sư, lựa chọn phương thức giải quyết nội dung vụ việc
b Giải thích nội dung Quy tắc này yêu cầu luật sư khi tiếp nhận, cung cấp dịch vụ pháp lý phải dựa trên cơ sở có “yêu cầu hợp pháp của khách hàng” Yêu cầu hợp pháp của khách hàng là những yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Các yêu cầu này không vi phạm một quy định cụ thể nào đó của pháp luật hoặc trái chuẩn mực xã hội, đi ngược lại lợi ích cộng đồng Trường hợp khách hàng đưa ra “yêu cầu không hợp pháp” thì không phải là căn cứ để luật sư tiếp nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý Trong trường hợp này luật sư phải từ chối theo yêu cầu của Quy tắc 11 và Quy tắc 13
Một trong các chức năng hoạt động nghề nghiệp của luật sư quy định tại Điều 3 Luật luật sư là góp phần bảo vệ “quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức” Do đó, luật sư phải “tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp” của khách hàng Quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng có thể hiểu là các quyền lợi về nhân thân, tài sản, tinh thần phù hợp với các quy định của pháp luật, được pháp luật bảo vệ hoặc được phong tục, tập quán xã hội khuyến khích Luật sư khi thực hiện dịch vụ pháp lý phải tranh đấu để bảo vệ thành công, tận tâm để
Trang 33đạt được kết quả tốt đẹp nhất đối với quyền lợi hợp pháp, chính đáng của khách hàng, phù hợp với quy định của pháp luật
Quy tắc này còn yêu cầu luật sư trong quá trình thực hiện dịch vụ pháp lý, bao gồm tư vấn, đại diện, bảo vệ quyền lợi hoặc thực hiện các thủ tục hành chính pháp lý cho khách hàng thì phải tôn trọng “sự lựa chọn của khách hàng” Trước hết, luật sư phải tôn trọng ngay chính việc khách hàng chọn lựa luật sư, không dùng những phương thức, thủ đoạn không hợp pháp hoắc trái đạo đức để lôi kéo khách hàng, để tiếp nhận bằng được vụ việc
Đồng thời, quy tắc đòi hỏi luật sư phải lấy ý chí, mong muốn, nguyện vọng của khách hàng làm căn cứ tiến hành các công việc, nhằm đạt được mục đích, yêu cầu chính đáng của khách hàng Trong quá trình thực hiện nội dung dịch vụ pháp lý thì có thể có nhiều cách thức lựa chọn để giải quyết về một vấn
đề nào đó Luật sư tư vấn cho khách hàng các khả năng, phương thức giải quyết
sự việc nhưng phải tôn trọng tự do ý chí của khách hàng
(ii) Ví dụ minh họa
Trong một vụ việc tranh chấp tài sản thừa kế, nếu khách hàng nhượng bộ trong tranh chấp, tự nguyện chia phần tài sản nhiều hơn cho người thừa kế khác
và tự nhận phần tài sản ít hơn cho mình so với quy định thì luật sư phải tôn trọng
sự lựa chọn đó Bởi lẽ, sự lựa chọn này hoàn phù hợp với quy định của pháp luật
và đạo đức xã hội, phù hợp với tinh thần tự hòa giải, tự thỏa thuận mà pháp luật luôn khuyến khích
2.3 Quy tắc 7 - Giữ bí mật thông tin
“7.1 Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và sau khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật
7.2 Luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và nhâ n viên trong tổ chức hành nghề của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và luật sư có trách nhiệm giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.”
(i) Nội dung chi tiết
a Ý nghĩa
Quy tắc này đề cập đến nghĩa vụ bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp cho luật sư và cả các đồng nghiệp và nhân viên có liên quan trong tổ chức hành nghề của mình Đây được xem là quy tắc quan trọng và nòng cốt trong đạo đức hành nghề luật sư, thể hiện chữ tín của luật sư và sự tin cậy của khách hàng đối với luật sư Vì tính chất nghề nghiệp của luật sư là tư vấn, thực hiện các
Trang 34cung cấp Nếu luật sư không biết giữ bí mật, khách hàng sẽ không tin tưởng để tiết lộ thông tin và yêu cầu luật sư bảo vệ quyền lợi của mình, kể cả khi khách hàng đã tiết lộ thông tin cho luật sư mà luật sư không biết giữ bí mật, thì có thể ảnh hưởng không chỉ đến quyền lợi khách hàng mà còn cả quyền lợi của luật sư
Vì việc lộ bí mật nếu gây ảnh hưởng tới khách hàng, bản thân khách hàng có thể khiếu nại, khởi kiện luật sư vì làm lộ thông tin gây ảnh hưởng đến quyền lợi của mình
Chính bởi có sự tin tưởng mà xã hội dành cho Luật sư về việc tuân thủ nghĩa vụ bảo mật nên mới có được nền tảng nghề nghiệp của Luật sư với tư cách
là những chuyên gia về pháp luật Xét trên khía cạnh này, nghĩa vụ bảo mật cần
có vị trí quan trọng và nòng cốt nhất trong đạo đức hành nghề luật sư
b Giải thích nội dung
* Bí mật là gì?
“Bí mật” có nghĩa là những sự thật không được số đông biết đến, và
không chỉ giới hạn ở những hạng mục mà chính bản thân người nắm giữ nó muốn giữ kín (bí mật với ý nghĩa mang tính chủ quan) mà bao gồm cả những hạng mục khi xét từ một lập trường thông thường ai cũng thấy cần phải giữ kín
nó (bí mật với ý nghĩa mang tính khách quan)
Bí mật của khách hàng nhắc đến ở đây ngoài những bí mật về các hành vi phạm tội trong quá khứ, hành vi trái đạo đức, bệnh tật, thân phận, quan hệ họ hàng, quan hệ tài sản, bí mật về việc có hay không bản di chúc, thông tin về nơi
ở của thân chủ và những thông tin khác gây bất lợi cho thân chủ là đương nhiên phải được công nhận, còn bao gồm tất cả những thông tin mà theo cách hiểu thông thường trong xã hội được cho là không muốn để lộ cho người khác biết được
Có thể loại trừ những thông tin mà luật sư đã biết trước thông qua nguồn thông tin công khai, công cộng, thì những thông tin mà khách hàng cung cấp nên được xem là thông tin bí mật, trừ khi khách hàng đồng ý cho tiết lộ hoặc theo quy định của pháp luật (sẽ được phân tích dưới đây)
*Tiết lộ, sử dụng là gì?
“Tiết lộ” có nghĩa là việc công khai cho người thứ ba Việc này không chỉ giới hạn trong trường hợp công khai cho người thứ ba không xác định hoặc số đông những người thứ ba nào đó, mà còn bao gồm cả trường hợp công khai cho người thứ ba được xác định và với số ít Ngay cả trong trường hợp yêu cầu người thứ ba mà mình đã cho biết bí mật phải hứa là không được kể cho ai khác, thì vẫn bị coi là “tiết lộ bí mật”
Trang 35Đã có ví dụ về trường hợp đăng tải nội dung cụ thể của một vụ việc gồm quá trình diễn biến của vụ việc, tình hình xử lý lên Facebook, mặc dù đã giấu
họ tên của thân chủ nhưng vẫn bị kết luận là vi phạm nghĩa vụ bảo mật
Quy tắc này không chỉ cấm việc “tiết lộ” bí mật của thân chủ mà còn cần hiểu rộng ra là cấm cả việc “sử dụng” những bí mật đó Vậy sử dụng là gì?
“Sử dụng” có nghĩa là hành vi lên kế hoạch sử dụng bí mật để được hưởng một lợi ích, hiệu quả nhất định nào đó Cho dù không tiết lộ nhưng chỉ cần sử dụng bí mật thôi đã là vi phạm Quy tắc này Ví dụ, việc sử dụng bí mật của thân chủ để bán số cổ phần mà bản thân nắm giữ vào một thời điểm cụ thể hòng kiếm lời hoặc cắt lỗ thì không bị quy là tiết lộ bí mật nhưng bị coi là sử dụng bí mật
* Giữ bí mật thông tin khách hàng
Để phục vụ cho khách hàng, Luật sư được tiết lộ nhiều bí mật từ thân chủ
kể cả những bí mật gây bất lợi cho chính thân chủ, để từ đó Luật sư có thể đưa
ra các tư vấn, hành động pháp lý thích hợp bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình Do đó, việc không được phép tiết lộ bí mật mà mình biết được thông qua khách hàng cho người khác là nghĩa vụ cơ bản và quan trọng nhất của Luật sư
Trách nhiệm giữ bí mật không chỉ với luật sư trực tiếp làm việc với khách hàng, mà cả các đồng nghiệp và nhân viên trong tổ chức hành nghề của mình nếu có liên quan, cũng phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin tương tự
Việc bảo vệ thông tin cá nhân, quyền riêng tư là nghĩa vụ quan trọng, và cần thực hiện nghiêm túc, không chỉ với luật sư mà bất kỳ cá nhân nào
Điều 21 Hiến pháp 2013 quy định quyền riêng tư là một trong những quyền nhân thân cực kỳ quan trọng đối với mỗi cá nhân và trở thành một nguyên tắc hiến định ở nước ta trong xu hướng bảo vệ quyền con người trên thế giới
Điều 387 Bộ luật dân sự 2015 quy định trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác
Điểm c Khoản 7 Điều 6 Nghị định 82/2020/NĐ-CP (có hiệu lực và 01/09/2020) quy định mức phạt tiền đối với hành vi tiết lộ thông tin về vụ, việc,
về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
Trang 36Do đó, giữ bí mật không chỉ là quy tắc đạo đức trong hành nghề luật sư
mà còn là trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật về việc bảo mật thông tin khách hàng, và không sử dụng vào mục đích riêng hoặc trái pháp luật
Theo Quy tắc này, Luật sư ngay cả sau khi đã hoàn tất việc xử lý vụ việc, cũng không được giải phóng khỏi những nghĩa vụ như thế này
*Lý do chính đáng (trường hợp việc tiết lộ bí mật được cho phép)
Quy tắc này quy định hai trường hợp được tiết lộ bí mật: có sự chấp thuận của khách hàng và theo quy định của pháp luật Việc tiết lộ trong những trường hợp này được xem là có lý do chính đáng, và do đó nghĩa vụ bảo mật sẽ được miễn trừ
Những trường hợp dưới đây được hiểu là trường hợp có lý do chính đáng: (1) Trường hợp có sự chấp thuận của khách hàng
Để có thể nói được là có sự chấp thuận của khách hàng hay không thì cần phải dựa vào quan điểm thật sự của khách hàng Chính vì thế nên điều kiện tiên quyết ở đây là Luật sư cần giải thích một cách dễ hiểu và cụ thể về tính cần thiết
và cách thức của việc công khai bí mật và nhận được sự chấp thuận chính thức,
rõ ràng từ khách hàng (về việc đồng ý hay không, đồng ý được tiết lộ ở những nội dung gì, mức độ tiết lộ là bao nhiêu)
Cũng có trường hợp Luật sư chưa nhận được sự chấp thuận rõ ràng và không thể liên lạc được với khách hàng để xác nhận lại, trong khi đó lại cần phải bảo vệ danh dự và uy tín của khách hàng thì có thể tiết lộ hay không? Câu trả lời với trường hợp này rất khó khăn Để đảm bảo Quy tắc giữ bí mật khách hàng trong trường hợp này, Luật sư cần hết sức thận trọng khi đưa ra quyết định và mặc dù vậy Luật sư cũng chỉ tiết lộ đối với một số ít những trường hợp khẩn cấp (nghĩa là rất cấp thiết và quan trọng phải tiết lộ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng), và không còn phương án nào khác
(2) Tiết lộ bí mật theo quy định của pháp luật
Điều 19 Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 (“Bộ luật Hình sự 2015”) đã bổ sung thêm một chủ thể mới là người bào chữa Theo đó, người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này (Nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, từ Điều 108 đến Điều 122) hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang
Trang 37chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa
Quy định trên của Bộ luật Hình sự 2015 là một ngoại lệ của Quy tắc này
mà Luật sư với tư cách người bào chữa phải tuân thủ nghĩa vụ về tố giác tội phạm Luật sư không chỉ có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của thân chủ, mà xét từ vai trò xã hội của Luật sư thì cũng có trường hợp vì lợi ích của cộng đồng phải miễn trừ cho Luật sư nghĩa vụ bảo mật Do đó việc Nhà nước không miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm của người bào chữa là đúng đắn, xuất phát từ mục đích bảo vệ
an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng nên trong một số trường hợp người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm của chính người mà mình bào chữa
c Mối liên hệ với các quy tắc khác trong bộ quy tắc, với pháp luật về luật sư
* Quy tắc 7 và quy định về giữ bí mật thông tin trong Luật Luật sư
Điều 25 Luật Luật sư cũng quy định nghĩa vụ của Luật sư không được tiết
lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ khi được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác
Ngoài ra, Điều 25 cũng làm rõ nghĩa vụ của Luật sư không được sử dụng thông tin khách hàng vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Như vậy, Quy tắc 7 đã ghi nhận các quy định trong Luật luật sư, đồng thời làm rõ nghĩa vụ giữ bị mật có nghĩa là không được tiết lộ và không sử dụng vào mục đích trái pháp luật, và xâm phạm lợi ích của Nhà nước, công cộng, của tổ chức hay cá nhân khác
* Quy tắc 7 và các quy tắc về quan hệ luật sư với khách hàng
Đối với các quy định của bộ quy tắc trong chương quan hệ với khách hàng, Quy tắc 7 áp dụng trong việc giữ bí mật để không ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của khách hàng, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng
Đồng thời, Quy tắc 7 cũng có thể xem là được quy định ở một khía cạnh tại Điều 9.5 Quy tắc 9 về nghĩa vụ Luật sư không được sử dụng thông tin biết được từ vụ việc mà luật sư đảm nhận để mưu cầu lợi ích không chính đáng Nếu việc sử dụng này không được khách hàng đồng ý, điều đó có nghĩa là Luật sư đã
vi phạm cả Quy tắc 7 và Quy tắc 9
Việc bảo mật thông tin của khách hàng cũng áp dụng trong cả trường hợp Hợp đồng với khách hàng đã chấm dứt Như vậy, nếu luật sư biết thông tin bí mật của khách hàng A; và B là người có lợi ích đối địch với khách hàng A Thì
Trang 38nếu khách hàng A không thuê luật sư nữa, luật sư cũng không được làm luật sư cho B Vì lúc này, có rủi ro là các thông tin bí mật của khách hàng A có thể bị bộc lô vì lợi ích của khách hàng B
* Quy tắc 7 và Quy tắc 1
Trong mối quan hệ giữa Quy tắc 7 và Quy tắc 1, Luật sư có nghĩa vụ giữ
bí mật thông tin khách hàng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cho thân chủ của mình Tuy nhiên, Luật sư cũng có nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, cơ quan, bảo vệ sự độc lập của tư pháp, và xây dựng
nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do đó, trong trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của tổ chức,
cá nhân khác, Luật sư có nghĩa vụ tiết lộ thông tin mà mình biết được để đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ tố giác tội phạm của công dân
* Quy tắc 7 và Quy tắc 31, Quy tắc 32
Quy tắc 7 có mối liên hệ mật thiết với Quy tắc 31 về thông tin, truyền thông và Quy tắc 32 về quảng cáo Việc cung cấp thông tin cho truyền thông, báo chí theo Quy tắc 31 phải trung thực, chính xác, khách quan và theo Quy tắc
7, trước khi cung cấp nếu thông tin liên quan đến Khách hàng, Luật sư phải có
sự đồng ý từ Khách hàng trước khi thông tin Tuy nhiên Quy tắc 31 cũng đặt ra trường hợp Luật sư cung cấp thông tin nhằm bảo vệ quyền lợi không hợp pháp của khách hàng là vi phạm Quy tắc này Do đó, kể cả trường hợp Luật sư được tiết lộ thông tin theo Quy tắc 7 khi có sự chấp thuận của khách hàng, việc cung cấp thông tin nếu nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi bất hợp pháp, Luật sư cũng cần xem xét kỹ và quyết định không tiết lộ thông tin, để đảm bảo tuân thủ Quy tắc 31
Một trong những trường hợp phổ biến là Luật sư thường dùng thông tin các vụ việc mình đã thực hiện để quảng cáo cho dịch vụ và chất lượng dịch vụ của mình Ngay cả khi quảng cáo, Luật sư cũng cần ghi nhớ Quy tắc 7 để thực hiện hành động hỏi ý kiến và có được sự chấp thuận của khách hàng về việc dùng thông tin của khách hàng để quảng cáo cho dịch vụ của mình
(ii) Ví dụ minh họa
Ví dụ 1: Khách hàng A yêu cầu luật sư X soạn đơn khiếu nại quyết định
ấn định thuế của Cục thuế đối với doanh nghiệp A Trong quá trình tìm hiểu vụ việc, luật sư X phát hiện khách hàng A đã cố ý khai sai nghĩa vụ nộp thuế Luật
sư X không nhất thiết có nghĩa vụ phải tố giác vấn đề này với cơ quan nhà nước, nhưng có nghĩa vụ phải khuyên khách hàng A nên thông báo với Cục thuế là mình đã khai sai, và đề nghị được sửa đổi, bổ sung tờ khai nộp thuế Nếu khách hàng từ chối không làm, thì luật sư X nên từ chối không đại diện cho khách
Trang 39hàng Vì nếu đại diện, luật sư X sẽ phải bảo mật thông tin của khách hàng, và như vậy thì lại vi phạm nghĩa vụ trong Điều 19 Bộ luật hình sự Không những thế, luật sư X còn là đồng phạm giúp sức cho khách hàng A phạm tội
Ví dụ 2: Luật sư X hành nghề trong lĩnh vực bất động sản Khách hàng A
đề nghị luật sư X tư vấn cho mình trong việc mua lại tòa nhà B Để mua lại tòa nhà B, khách hàng A nhờ Ngân hàng H thu xếp khoản vay, theo đó tòa nhà B sau khi mua sẽ trở thành tài sản bảo đảm cho khoản vay đó Ngân hàng H cũng
là khách hàng của công ty luật nơi luật sư X hành nghề Trước khi mua tòa nhà
B, khách hàng A tiết lộ cho luật sư X rằng mình đã khai tăng thu nhập của mình
để Ngân hàng H đồng ý cho vay Luật sư X có phải bảo mật thông tin này, và theo đó phương hại đến quyền lợi của khách hàng khác, là Ngân hàng H hay không? Nếu luật sư X không bảo mật thông tin thì sẽ vi phạm nghĩa vụ bảo mật với Khách hàng A Mặt khác, nếu luật sư X không tiết lộ thông tin cho Ngân hàng H thì lại vi phạm nghĩa vụ trung thực với Ngân hàng H Trong trường hợp
này, cách tốt nhất là luật sư X nên khuyên khách hàng A thông báo lại về thu nhập của mình cho Ngân hàng Nếu khách hàng A từ chối, thì luật sư X nên từ chối đại diện cho khách hàng A, vì lúc này giữa Ngân hàng H và khách hàng A
là xung đột lợi ích Thậm chí nếu tiếp tục đại diện cho khách hàng A thì luật sư
X còn bị coi là đồng phạm giúp sức cho khách hàng A phạm tội lừa đảo
Ví dụ 3: Luật sư X có mối quan hệ tốt đẹp với luật sư Y là luật sư nội bộ của công ty A Luật sư X cũng đại diện cho công ty A trong 1 số trường hợp Sau đó công ty A đề nghị luật sư X tiến hành điều tra một số hành vi xảy ra trong công ty, theo đó có một vài hành vi liên quan đến luật sư Y Luật sư X có nghĩa vụ chia sẻ thông tin này với luật sư Y hay không? Nhìn chung, thì do khách hàng cua luật sư X là công ty A, nên luật sư X phải hỏi người đại diện theo pháp luật của công ty A (chứ không phải luật sư Y) trước khi tiến hành chia
sẻ thông tin Nghĩa vụ bảo mật trước tiên là nghĩa vụ đối với khách hàng của luật sư Vì thế, xách định ai là khách hàng rất quan trọng
Ví dụ 4: Luật sư X là người bào chữa cho hai bị can A và B trong một vụ hình sự Cả hai đều không nhận tội Một ngày trước phiên xử, A nói với luật sư
X rằng mình sẽ nhận tội, nhưng mình chỉ là người giúp sức cho B là kẻ chủ mưu Luật sư X có được sử dụng thông tin này trước tòa hay không? Trong trường hợp này, nếu sử dụng thông tin do A cung cấp là luật sư X gây hại cho một thân chủ khác của mình là B Vì vậy, luật sư X chỉ có 2 lựa chọn Một là từ chối bào chữa cho cả A và B Hai là tiếp tục bào chữa cho B (không sử dụng thông tin bất lợi mà A vừa cung cấp – vì thế vẫn bảo mật thông tin khách hàng)
và đề nghị A tìm luật sư khác bảo vệ quyền lợi cho mình
Trang 40Ví dụ 5: Luật sư X được công ty A thuê để soạn nội quy lao động cho công ty Sau đó luật sư X lại được ông B, là nhân viên trước đây của công ty A thuê để kiện công ty A do sai thải mình trái luật Mặc dù về mặt kỹ thuật, trường hợp này không nảy sinh mâu thuẫn lợi ích, vì kể cả ông B có thắng kiện thì cũng không liên quan gì đến nội quy lao động mà luật sư X soạn cho Công ty A, và lợi ích của Công ty A khi thuê luật sư X soạn Hợp đồng cũng không mâu thuẫn với lợi ích của ông B Tuy nhiên, có thể có vấn đề về bảo mật, vì khi đại diện cho ông B và kiện công ty A, luật sư X có thể sẽ sử dụng các thông tin bí mật
mà mình biết được về công ty A trong quá trình soạn nội quy lao động Vì thế,
vì lý do bảo mật, luật sư X nên từ chối đại diện cho ông B
Ví dụ 6: Luật sư X trước đây làm việc cho công ty luật A, và luôn nhận được việc từ khách hàng U Sau đó X chuyển sang làm việc cho công ty luật B,
mà ở đó có khách hàng đang chuẩn bị kiện công ty U Vậy luật sư X có thể tham gia tư vấn trong vụ kiện chống lại U không? Câu trả lời đơn giản là không Vì X
đã nắm nhiều thông tin bí mật của U Nếu X tham gia tư vấn chống khách hàng
U thì các thông tin đó có thể dùng để chống lại U Tuy nhiên công ty luật B có thể dùng luật sư khác để tham gia tư vấn chống lại U Mặt khác, nếu thông tin
mà luật sư X nắm về U cũng đã lỗi thời, và cũng không có thông tin nào bất lợi cho U, thì X có thể thông báo trước cho U về việc mình tham gia trong đội được giao nhiệm vụ chống lại U
Ví dụ 7: Luật sư X tư vấn cho khách hàng A Hôm đó đọc trên báo, luật
sư X được biết A đã bị bắt vì một số tội danh lạm dụng tín nhiệm trong các dự
án mà luật sư X cũng tham gia tư vấn nhưng không được A cung cấp thông tin đầy đủ A gọi điện cho luật sư X, đề nghị X trả lại cho A các tài liệu mà X đang giữ Luật sư X trả lời mình phải xem lại các tài liệu xem có gì liên quan đến mình không Vậy luật sư X có thể trả lại tài liệu cho A hay không, hay nên nộp cho công an? Theo nghĩa vụ bảo mật, luật sư X nên trả lại các tài liệu cho A Ngoại lệ của phương pháp này là Điều 19 BLHS Nếu như rơi vào các trường hợp đó, thì luật sư X nên giao lại tài liệu cho cơ quan chức năng khi có yêu cầu (và đã thẩm tra)
Ví dụ 8: Cùng với ví dụ 7, nếu có người gọi điện cho luật sư X, nói rằng mình là cơ quan cảnh sát điều tra đang cần thông tin về khách hàng A trong một
vụ liên quan đến Điều 19 BLHS, luật sư có nên hợp tác không? Câu trả lời ở đây là trước tiên luật sư X vẫn phải nghĩ đến nghĩa vụ bảo mật khách hàng Vì vậy, luật sư X cần cảnh giác trước cuộc gọi điện của một người tự xưng Cơ quan nhà nước không làm việc qua điện thoại, mà phải có giấy mời lên làm việc Tại cơ quan điều tra, cơ quan điều tra phải trao quyết định khởi tố vụ án với các nghi vấn cụ thể về A Chi khi nào luật sư X cảm thấy rõ ràng các chứng cứ đó đang cho thấy A rất có khả năng đã phạm tội quy định tại Điều 19 BLHS, thì