1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý kinh tế hướng đến phát triển bền vững trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề liên quan Kỷ yếu hội thảo khoa học

325 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý Kinh Tế Hướng Đến Phát Triển Bền Vững Trong Xu Thế Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Và Những Vấn Đề Liên Quan
Tác giả PGS.TS Hồ Thủy Tiên, TS Đoàn Ngọc Phúc, PGS.TS Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư, PGS.TS Phan Thị Hằng Nga, TS Đoàn Ngọc Phúc, PGS.TS Phan Thị Hằng Nga, TS Đoàn Ngọc Phúc, TS Nguyễn Quyết, ThS Bùi Hồng Trang
Trường học Trường Đại học Tài chính – Marketing
Thể loại kỷ yếu hội thảo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 325
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, FDI là nguồn vốn quan trọng bổ sung nhu cầu vốn cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển sản xuất, tạo động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho đất nước; góp p

Trang 2

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH THÁNG 10 NĂM 2021

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC

QUẢN LÝ KINH TẾ HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG XU THẾ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

Trang 3

BAN CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

PGS.TS Hồ Thủy Tiên

TS Đoàn Ngọc Phúc

CHỊU TRÁCH NHIỆM NỘI DUNG

PGS.TS Trần Nguyễn Ngọc Anh ThưPGS.TS Phan Thị Hằng Nga

Trang 4

ĐỀ DẪN HỘI THẢO

Kính thưa Qúy vị đại biểu, các nhà khoa học!

Trong xu thế Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với những đặc trưng nổi bật là mọi hoạt động dựa trên nền tảng kết nối internet, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ robot, điều khiển tự động, công nghệ in 3D, công nghệ điện toán,… Hiện nay, CMCN 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, môi trường, mang lại nhiều cơ hội cho các quốc gia nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững Trong xu thế đó, các phương thức hoạt động kinh tế của các quốc gia trên thế giới cũng có sự thay đổi mạnh mẽ và Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ

Để thích ứng với những thay đổi tích cực đó, đổi mới quản lý kinh tế hướng đến phát triển bền vững trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0 là hướng đi đúng đắn, cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Với tinh thần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, tổng kết thực tiễn cũng như dự báo xu thế tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến đổi mới phương thức quản lý kinh tế để khai thác hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững Do vậy, Trường Đại học Tài chính – Marketing tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề

“Quản lý kinh tế hướng đến phát triển bền vững trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề liên quan” Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học, các nhà quản

lý, các chuyên gia có thể trao đổi học thuật, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, cung cấp thêm bằng chứng khoa học và các giải pháp kiến nghị liên quan đến vấn đề quản lý kinh tế trong

xu thế hiện nay

Sau thời gian chuẩn bị, Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học tại các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức nhà nước Trong quá trình biên tập, Ban Tổ chức đã lựa chọn được 25 bài tham luận đầy tâm huyết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giảng viên của Trường Đại học Tài chính – Marketing và các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để in trong Kỷ yếu hội thảo Các bài viết đã khai thác các khía cạnh khác nhau theo ba chủ đề chính như: i) Đổi mới quản lý kinh tế hướng đến phát triển bền vững; ii) Vai trò của nguồn nhân lực trong thời đại 4.0; iii) Định hướng, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp bền vững Các bài tham luận được đánh giá là có chất lượng tốt, theo sát với chủ đề của hội thảo, thể hiện sự quan tâm, tâm huyết của các nhà khoa học Ngoài các bài tham luận được trình bày trong hội thảo, còn nhiều bài viết có chất lượng,

là sự sẻ chia kinh nghiệm quý báu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và quý thầy/cô Chúng tôi đánh giá rất cao những đóng góp này và trân trọng gửi lời cảm ơn đến các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và quý thầy/cô

Trang 5

Hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận các vấn đề sau:

– Đổi mới, hoàn thiện thể chế và công cụ quản lý kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh

tế nhanh và bền vững;

– Quản lý nhà nước dựa trên nền tảng công nghệ và đổi mới sáng tạo;

– Hệ thống thông tin,cơ sở dữ liệu, kinh tế số thúc đẩy phát triển bền vững;

– Chính phủ kiến tạo trong quản lý và phát triển kinh tế;

– Đổi mới quản lý và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp;

– Vai trò của nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0;

– Đổi mới phương thức, công cụ quản lý kinh tế trong từng ngành, hoặc lĩnh vực cụ thể

BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1 QUẢN LÝ KINH TẾ HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1 Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam .2

Lê Trung Đạo, Đoàn Ngọc Phúc

2 Quản lý tài chính về đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh .12

Nguyễn Thị Hảo, Ngô Thị Hồng Giang

5 Thuế – công cụ kinh tế trong vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững .47

Ngô Thị Duyên, Nguyễn Thị Hương Thảo

6 Ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở cấp độ địa phương tại Việt Nam .59

Nguyễn Thị Quý

7 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế đến kinh tế Việt Nam .72

Phan Ngọc Yến Xuân, Lê Trường Giang

8 Tăng cường quản lý và kiểm soát nợ công ở Việt Nam .84

Đoàn Ngọc Phúc

9 Cơ hội phát triển bền vững từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: phân tích bằng mô hình ISM .93

Nguyễn Quyết

PHẦN 2 NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHIỆP 4.0

10 Định hướng hoạt động đào tạo nghề nghiệp trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư .108

Nguyễn Văn Tuyên

11 Phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 117

Trang 7

14 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến quan hệ lao động ở Việt Nam và hàm

ý chính sách .151

Bùi Thanh Tùng

15 Mối quan hệ giữa quản lý nguồn nhân lực xanh và kết quả thực hiện công việc .164

Phạm Văn Thiệu, Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Văn Hiếu

16 Quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp hướng đến phát triển bền vững: trường hợp quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp cho lao động nông thôn ở cấp huyện,

xã .176

Đoàn Thị Thủy, Đoàn Thị Vân

PHẦN 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP BỀN VỮNG

17 Các yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm của khách hàng với các thương hiệu cà phê kinh doanh theo chuỗi ở Thành phố Hồ chí minh .192

Ao Thu Hoài

18 Phân tích các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê: tiếp cận bằng mô hình trọng lực 212

Nguyễn Thị Hoài Đan, Nguyễn Thị Hương Quỳnh, Đặng Thị Nhã Trúc,

Trần Thị Hạ Vy, Nguyễn Quyết

19 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp logistics – trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh .223

Nguyễn Văn Tuyên, Ngô Thị Hồng Giang

20 Sử dụng các mô hình phân lớp, cảnh báo sớm rủi ro phá sản của doanh nghiệp, thông qua báo cáo tài chính, bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam .235

Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Tâm Nhi

21 Doanh nghiệp niêm yết và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CSR): bằng chứng tại Việt Nam .252

Nguyễn Thanh Chương

22 Thực trạng phát triển kinh tế số Việt Nam .270

Trần Anh Sơn, Nguyễn Thị Thủy

23 Phát triển bền vững kinh tế tư nhân: cần tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước .284

Trang 8

PHẦN 1

QUẢN LÝ KINH TẾ HƯỚNG ĐẾN

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Trang 9

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

TS Lê Trung Đạo *

TS Đoàn Ngọc Phúc *

TÓM TẮT

Sau hơn 30 năm ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đến nay khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã thực sự trở thành bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Bên cạnh vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, khu vực FDI vẫn còn những hạn chế nhất định cần có sự quản lý và điều tiết Thông qua phương pháp phân tích thống kê kinh tế các số liệu thứ cấp thu thập về tình hình thu hút vốn từ năm 2000 đến

2020 được lấy từ Niên giám thống kê (GSO), Bộ Kế hoạch và Đầu vư (MPI), bài viết đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quản lý hoạt động FDI, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu khả thi nhằm tăng cường quản lý hoạt động FDI trong thời gian tới.

Từ khóa: FDI, quản lý FDI, Việt Nam.

1 Đặt vấn đề

Với chủ trương mở cửa hội nhập, trong những năm qua, lượng vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Có thể nói, FDI là nguồn vốn quan trọng bổ sung nhu cầu vốn cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu

tư, phát triển sản xuất, tạo động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho đất nước; góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thay đổi cơ cấu lao động… Ngoài ra, khu vực FDI còn góp phần quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh

tế của Việt Nam, không những nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

mà còn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước thông qua chuyển giao và phát triển công nghệ Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động FDI vẫn còn những tồn tại nhất định, do vậy, tăng cường quản lý hoạt động FDI là hết sức cần thiết

và có ý nghĩa thực tiễn to lớn.

2 Cơ sở lý thuyết về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quản lý nhà nước đối với hoạt động thu hút FDI là sự tác động của cơ quan quản lý nhà nước có chức năng và thẩm quyền nhất định tới hoạt động FDI nhằm thực hiện các mục

* Trường Đại học Tài chính – Marketing.

Trang 10

tiêu đã định trong lĩnh vực này nhằm hướng tới mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế của đất nước (Sengphai Vanh, 2013).

Mục tiêu quản lý nhà nước về FDI bao gồm tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng Mục tiêu trung gian nhằm (1) tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI (2) Định hướng hoạt động FDI (3) Khuyến khích, thu hút FDI (4) kiểm soát hoạt động FDI Mục tiêu cuối cùng của quản lý nhà nước về FDI hường đến tăng trưởng và hiệu quả (Nguyễn Thạc Hoát & Nguyễn Thế Vinh, 2021)

Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI có vai trò nâng cao trình độ công nghệ quốc gia; nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và chuyễn dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả (Sengphai Vanh, 2013)

Sengphai Vanh (2013) còn cho rằng, quản lý nhà nước về hoạt động FDI bao gồm các nội dung chủ yếu sau: xây dựng, thực thi hệ thống luật pháp liên quan đến FDI; xây dựng và thực chiến lược, kế hoạch thu hút FDI; xây dựng chính sách thu hút FDI; kiểm tra, kiểm soát việc xây dựng, tổ chức thực hiện cơ chế quản lý FDI; tổ chức bộ máy quản

lý nhà nước về thu hút FDI

Cạnh tranh về FDI ngày càng gay gắt do chính phủ các nước phát triển và đang phát triển đều chú trọng đến chất lượng hơn là số lượng FDI đòi hỏi một tổ hợp chính sách mới

và một cách tiếp cận mới để đánh giá hiệu quả hoạt động trong hoạt động xúc tiến đầu tư Nghiên cứu này còn cho rằng, những thách thức mà các cơ quan xúc tiến đầu tư phải đối mặt từ góc độ quản lý vốn trí tuệ, vốn nhân lực, từ đó nghiên cứu này đưa ra một khuôn khổ hướng dẫn tốt hơn cho việc cải cách và đánh giá chính sách thu hút FDI (José Guimón

& Sergey Filippov, 2012)

Nghiên cứu của Nguyễn Nguyên Dũng (2020) cho rằng, để hướng hoạt động FDI theo chiều sâu gắn với mục tiêu phát triển bền vững, ưu tiên những dự án chất lượng, sản phẩm có giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao, cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở lĩnh vực này Những giải pháp mà ttác giả này đề xuất nhằm tăng cường quản lý hoạt động FDI trong thời gian tới bao gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, nhất quán, tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, làm tốt công tác xúc tiến đầu tư đầu tư nước ngoài; kiện toàn

bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài; phát huy vai trò các tổ chức, các lực lượng trong quản lý FDI

3 Phương pháp nghiên cứu

Phân tích này chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp: số liệu có liên đến đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các niêm giám thống kê của Tổng cục thống kê, Báo cáo tổng kết 30 năm thu

Trang 11

hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bộ Kế hoạch & Đầu tư; số liệu từ các báo cáo của các Bộ, ngành; các bài báo và các công trình khoa học uy tín có liên quan Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này bao gồm: phân tích và tổng hợp các số liệu thu thập được; phương pháp phân tích thống kê kinh tế, phương pháp so sánh.

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Thực trạng và vai trò của vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Đến hết năm 2020, nay cả nước có 29.792 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng

ký 481 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI đạt khoảng 231,5 tỷ USD, bằng 48,13% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực, đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế Khu vực FDI chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp gần 20% GDP; tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và khoảng 5-6 triệu lao động gián tiếp (MPI, 2020)

Xét theo lĩnh vực đầu tư: có đến 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong đó lĩnh vực chế biến, chế tạo chiếm 58% tổng vốn FDI; lĩnh vực kinh doanh bất động sản chiếm 16,8%; sản xuất và phân phố điện, khí chiếm 6,6% tổng vốn FDI (MPI,2020)

Theo đối tác đầu tư: các nước ASEAN với khoảng 22% vốn đầu tư; Hàn Quốc 16,6%; Nhật Bản 13,7%; Đài Loan 9%; EU chiếm 8,2%; Mỹ chiếm khoảng 5,2%;… Trong thời gian gần đây, lượng vốn FDI vào Việt Nam từ Trung Quốc tăng khá nhanh nhưng vốn đăng

ký còn thấp (chỉ chiếm khoảng 3% tổng vốn FDI) và quy mô dự án nhỏ (bình quân chỉ khoảng 6,2 triệu USD) (MPI, 2020)

Xét theo phân bổ dự án: đầu tư nước ngoài hiện nay đã có mặt khắp 63 tỉnh, thành phố, trong đó thành phố Hồ chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI khoảng 45,5

tỷ USD (chiếm 13% tổng vốn FDI), Hà Nội 33,4 tỷ USD (chiếm 9,5 tổng vốn FDI); Bình Dương 32,7 tỷ USD (chiếm 9,3 tổng vốn FDI) (MPI, 2020)

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, góp phần bổ sung vốn đầu tư xã hội: FDI là nguồn bổ sung quan trọng

trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Trong giai đoạn 1996 – 2000: tỷ trọng vốn FDI chiếm 21,6%; giai đoạn 2001 – 2005 chiếm 15,7%; giai đoạn 2006 – 2010: 25,3%; giai đoạn 2011 – 2015: 22,6%; giai đoạn 2016 – 2019: 34,1% Tính chung cả giai đoạn

1991 – 2020, tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội duy trì ở mức

từ 15,7-25,3% Năm 2020, FDI đăng ký đạt gần 28,5 tỷ USD, chiếm khoảng 21,4% vốn đầu tư toàn xã hội

Trang 12

Bảng 1 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển chia theo khu vực kinh tế

giai đoạn 2000 – 2020

(%)

Kinh tế ngoài nhà nước (%) Kinh tế có vốn ĐTNN (%)

Nguồn: Tổng hợp từ Kinh tế Việt Nam 2020 – 2021: Việt Nam & thế giới, tr.44

Thứ hai, thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, nâng cao năng lực

cạnh tranh của nền kinh tế Khu vực FDI đang giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu của Việt Nam hiện nay Thông qua các doanh nghiệp FDI, Việt Nam có thể nhanh chóng hợp tác với nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế, qua đó từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Năm 2020, xuất khẩu của khu vực FDI đạt 202,89 tỷ USD (đóng góp khoảng 71% kim ngạch xuất khẩu cả nước) và xuất siêu khoảng 33,87 tỷ USD (GSO, 2021)

Thứ ba, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế và năng lực sản xuất công nghiệp: khu vực FDI tạo ra hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp; góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra những sản phẩm mới, năng suất và có khả năng cạnh tranh Số liệu thống kê cho thấy, tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP ngày càng tăng, trong khi tỷ trọng kinh tế nhà nước ngày càng giảm

Bảng 2 Cơ cấu GDP chia theo khu vực kinh tế giai đoạn 2000 – 2020

nhà nước (%)

Kinh tế ngoài nhà nước (%)

Kinh tế có vốn ĐTNN (%)

Trang 13

bình quân 28% tổng thu ngân sách Nhà nước Song tại nhiều địa phương, doanh nghiệp vốn FDI chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu ngân sách Chẳng hạn, với Vĩnh Phúc là 93,5%; Bắc Ninh là 72%, Đồng Nai 63%, Bắc Giang 60% và Bình Dương 52% (MPI, 2020).

Thứ năm, tạo tác động lan tỏa công nghệ, thúc đẩy tăng năng suất lao động; nguồn

vốn FDI đã tạo ra tác động lan tỏa công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý FDI là kênh quan trọng để phát triển công nghệ, tạo ra áp lực đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước Mặt khác, thông qua khu vực FDI, Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến của thế giới, giảm dần các ngành thâm dụng lao động hướng tới phát triển các ngành thâm dụng vốn, các ngành sử dụng công nghệ cao, các ngành sử dụng nhiều chất xám, từ đó thúc đẩy tăng trưởng năng suất lao động và làm dịch chuyển lao động từ khu vực kinh tế trong nước có năng suất thấp sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có năng suất cao hơn

Thứ sáu, tạo công ăn việc làm cho người lao động, từng bước cải thiện chất lượng

nguồn nhân lực: Năm 1995 cả nước có khoảng 330 nghìn lao động làm việc trong DN FDI; năm 2000 khoảng 358,5 nghìn người thì đến năm 2020 là khoảng 3,6 triệu người, chiếm khoảng 26% lực lượng lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp (GSO,2020) Ngoài ra, khu vực FDI còn gián tiếp tạo ra khoảng 5-6 triệu lao động Theo thống kê của

Bộ lao động, tỷ lệ DN FDI tham gia đào tạo cho người lao động đạt 57%, trong đó tự đào tạo chiếm 40%, liên kết với các cơ sở đào tạo chiếm 17%, qua đó góp phần hình thành và phát triển một lực lượng lao động có kỹ năng nghề và du nhập nhiều kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp tiên tiến

4.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI

Đạt được những thành tựu về thu hút FDI trong thời gian qua là do trong suốt hơn

30 đổi mới kinh tế và mở cửa hội nhập, Việt Nam đã tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài bằng việc tạo ra một môi trường chính trị ổn định; môi trường kinh doanh thông thoáng; nguồn tài nguyên dồi dào và nguồn lao động giá rẻ; hoạt động xúc tiến đầu tư được tăng cường Đặc biệt, từ năm 2005, Luật đầu tư chung ra đời thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật đầu tư trong nước trong nước tạo nên bước đột phá về cải thiện môi trường đầu tư, xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp, giữa các khu vực kinh tế Đến năm 2014, Luật đầu tư này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng tách thủ tục đầu tư và thủ tục thành lập doanh nghiệp đã tạo động lực và tăng tính hấp dẫn với nhiều ưu đãi trong việc tiếp cận các nguồn lực về đầt đai, thuế, hải quan,… cho các doanh nghiệp FDI Có thể nói, trong những năm qua, Việt Nam liên tục hoàn thiện thể chế, chính sách ưu đãi về tài chính để thu hút và quản lý tốt hơn nguồn lực đầu tư nước ngoài Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, chính sách nhằm thu hút, quản lý FDI tại Việt Nam tiêu biểu như: Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật Thuế xuất khẩu,

Trang 14

thuế nhập khẩu, Luật Sử dụng đất phi nông nghiệp cùng với các văn bản hướng dẫn về cơ chế, chính sách khuyến khích DN FDI đầu tư vào Việt Nam Cụ thể:

Tạo khung pháp lý bảo đảm cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài: Các chính

sách liên quan đến DN FDI đều tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, không

có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài Luật Đầu tư đã quy định cụ thể 13 nhóm lĩnh vực và 3 loại địa bàn được ưu đã đầu tư; quy định rõ điều kiện, thủ tục, quy trình đăng ký kinh doanh cũng như hình thức đầu tư và triển khai thực hiện các

dự án đầu tư… Đồng thời, bảo đảm quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật Quy định này khiến nhà đầu tư nước ngoài vững tin hơn khi tham gia đầu tư vào Việt Nam

Về quy trình, thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận đầu tư, do có sự nỗ lực trong cải cách hành chính nên đã giảm đáng kể thời gian và chi phí cho DN FDI…

Chính sách thuế đối với các DN: Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn quy

định cụ thể các mức ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thống nhất chung cho tất cả các loại hình DN; bãi bỏ các quy định về thuế TNDN bổ sung; bãi bỏ quy định về thuế chuyển lợi nhuận

ra nước ngoài Việc cắt giảm thuế quan hàng năm theo các cam kết khu vực và quốc tế đối với các nguyên vật liệu thô cũng giúp cho các DN, trong đó có DN FDI cắt giảm đáng kể một phần chi phí đầu vào, nâng cao sức cạnh tranh về giá cho sản phẩm

Chính sách đất đai, mặt bằng: Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành cùng

thống nhất quan điểm xoá bỏ sự phân biệt giữa các loại hình DN trong cơ hội tiếp cận, sử dụng đất đai và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với hoạt động sử dụng đất đai

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quản lý FDI hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập Cụ thể:

Chưa tạo được sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn FDI và khu vực kinh tế trong nước: FDI chưa tạo được liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong nước

để cùng tham gia vào chuỗi giá trị cũng như thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ Bên cạnh đó, tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp có vốn FDI còn thấp; phần lớn phụ tùng, nguyên vật liệu và dịch vụ phục vụ cho hoạt động của khu vực doanh nghiệp FDI được nhập khẩu thay vì được cung ứng bởi các doanh nghiệp ttrong nước Ngoài ra, các doanh nghiệp khu vực FDI cũng chưa thật sự tạo được hiệu ứng lan tỏa công nghệ và năng suất chưa cao như kỳ vọng thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệp cho các doanh nghiệp trong nước

Phân bổ vốn FDI không đều giữa các khu vực, tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi như Thành phố Hố Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương,… Năm

2020, có khoảng 42,4% vốn FDI đầu tư vào vùng Đông Nam Bộ và 27,7% vốn FDI đầu tư

Trang 15

vào vùng Đồng bằng sông Hồng, trong khi chỉ có 4,7% vốn FDI đầu tư vào miền Núi và trung du Bắc Bộ (GSO, 2020) Ngoài ra, cơ cấu đầu tư còn mất cân đối chủ yếu đầu tư vào những ngành sản xuất thay thế nhập khẩu, những ngành lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hóa thấp, hoặc những ngành sản xuất được nhà nước ưu đãi thuế, những ngành sử dụng nhiều tài nguyên, các ngành sử dụng nhiều lao động, công nghệ trung bình, gây ô nhiễm môi trường, các dự án FDI chỉ tập trung vào lĩnh vực sản xuất, chưa chú trọng đầu tư ở các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao cao như tài chính, công nghệ cao, nghiên cứu phát triển Khả năng tiếp cận công nghệ chưa đạt được mục tiêu đặt ra: thiết bị, máy móc chuyển giao vào nước ta còn lạc hậu một số dự án đầu tư không hiệu quả đã hạn chế khả năng thu hút công nghệ Nhiều dự án FDI tập trung ở một vài công đoạn trong các ngành sử dụng nhiều lao động để gia công, lắp ráp và chế biến Đầu tư của khu vực FDI vào lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn còn hạn chế dẫn đến việc tiếp cận công nghệ mới, tiên tiến từ các nước công nghiệp phát triển như Tây Âu, Bắc Mỹ chưa đạt được như mục tiêu

kỳ vọng

FDI vẫn còn nhiều hành vi tiêu cực, mức độ động viên vào ngân sách nhà nước còn thấp một số doanh nghiệp FDI luôn báo lỗ và có dấu hiệu cơ chế chuyển giá để trốn thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước Cách thức chuyển giá mà các doanh nghiệp FDI thường sử dụng là mua hàng hóa, nguyên vật liệu và các dịch vụ với giá cao trong nội bộ tập đoàn hoặc chuyển giá thông qua các khoản vay từ công ty mẹ, công ty liên kết với lãi suất cao để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Ngược lại, còn xuất hiện hiện tượng chuyển gia, chuyển lợi nhuận vào Việt Nam và chuyển giá giữa các doanh nghiệp FDI trong nước

có quan hệ liên kết được hưởng ưu đãi lớn về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Số liệu báo cáo tài chính của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2012 – 2017 cho thấy, số lượng doanh nghiệp lỗ hàng năm từ 44% đến 52% (GSO,2020) Riêng năm 2017, khoảng 52% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ với giá trị lỗ tương đương 4 tỷ USD và trong số này có khoảng 20% doanh nghiệp lỗ mất vốn (GSO, 2017)

Nguyên nhân của những bất cập trên là do nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương về vị trí vai trò nguốn vốn FDI chưa thật sự đầy đủ và nhất quán

Hệ thống pháp luật nói chung và luật đầu tư nói riêng mặc dù tương đối đồng bộ và thông thoáng nhưng việc thực thi còn tùy tiện Chính sách quản lý FDI chưa tạo được sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI Ngoài ra, cơ chế quản lý vẫn còn chồng chéo; việc thu hút vốn FDI trong thời gian qua chưa gắn với tổng thể quy hoạch

và phát triển vùng; chưa tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tổng thể phát triển kinh

tế xã hội của vùng; tình trạng cạnh tranh trong thu hút vốu FDI khá phổ biến đã tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và dẫn đến những hệ lụy như trên mà còn tạo ra sự

Trang 16

thiếu nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế và thực thi chính sách trong thu hút nguồn lực quan trọng này.

5 Kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động FDI

Trong bối cảnh khu vực và trong nước đặt ra nhiều cơ hội và thách thức mới đối với việc thu hút và sử dụng FDI Quy mô dòng vốn FDI toàn cầu giảm, xung đột thương mại giữa Mỹ – Trung, Nhật Bản – Hàn Quốc, nguy cơ khủng hoảng ở các nền kinh tế mới nổi;

sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ tới đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển công nghệ,… sẽ tác động không nhỏ đến sự di chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế Do vậy để tăng cường quản lý hoạt động FDI trong thời gian tới, chúng tối kiến nghị các giải pháp chủ yếu sau:

Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách trong quản lý hoạt động FDI; hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng công khai, minh bạch, đảm bảo tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực Đặc biệt cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý; sớm loại bỏ hoàn toàn tính tùy tiện trong thực thi pháp luật để thu hút nguồn vốn FDI.Cần có mục tiêu đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khu công nghiệp cho từng giai đoạn phát triển, phải có lựa chọn đối với các DN này cho phù hợp với mục tiêu của đất nước Điều này có liên quan mật thiết đến việc lập chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và chính sách thu hút đầu tư phải phù hợp với mục tiêu phát triển mới đem lại hiệu quả cao Khi đã có mục tiêu rõ ràng thì cần có quy hoạch chi tiết cho mục tiêu đó Đồng thời, phải có lựa chọn cho phù hợp với mục tiêu đặt ra Cần tránh những thất bại như các nước trong khu vực dẫn đến cơ cấu kinh tế kém phát triển, kinh tế thiếu bền vững, không tạo ra năng lực sản xuất thực sự

Quản lý nhà nước đối với DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải hướng đến phát triển cân đối các ngành, vùng Sự mất cân đối này có thể gây ra những hậu quả trong phát triển dài hạn Để giải quyết tình trạng này cần quan tâm đến việc xây dựng và phát triển quy hoạch tổng thể, cả quy hoạch theo ngành, nghề và quy hoạch theo vùng thống nhất trong cả nước Thu hẹp các ngành, nghề hạn chế đầu tư, phát triển quy hoạch vùng, tạo nên các cực kinh tế trọng điểm, mở rộng các vùng kinh tế và chuyển dịch các cực kinh tế rộng khắp cả nước

Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư phải nhất quán và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội quốc gia và cũng là cơ hội tốt nhất để quản lý hoạt động của DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các chính sách bảo đảm đầu tư và giải quyết các tranh chấp phải thỏa đáng, phải bảo đảm công bằng Khuyến khích đầu tư nước ngoài,

Trang 17

cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào mọi lĩnh vực, trừ các lĩnh vực ảnh hưởng tới

an ninh – quốc phòng

Chính sách quản lý cần tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội của vùng; tránh tình trạng cạnh tranh trong thu hút vốu FDI khá phổ biến đã tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và dẫn đến những hệ lụy như trên mà còn tạo ra sự thiếu nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế và thực thi chính sách trong thu hút nguồn lực; hoàn thiện hệ thống quy hoạch theo hướng hiện đại, đồng bộ giữa các địa phương và giữa các vùng trong cả nước Việc thu hút vốn FDI gắn với tổng thể quy hoạch và phát triển vùng, tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tổng thể phát triển kinh

tế xã hội của vùng, tránh tình trạng cạnh tranh trong thu hút vốu FDI giữa các địa phương như trong thời gian qua

Cần có chiến lược thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc theo hướng cần xác định những ngành, lĩnh vực ưu tiên, mục tiêu nhằm định hướng thu hút đầu

tư một cách chủ động, đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế và thực thi chính sách trong thu hút FDI Cần tập trung ưu tiên thu hút FDI vào các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều chất xám và ưu đãi dựa vào hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình cấp phép và quản lý vốn FDI; hạn chế cấp phép các dự án FDI sử dụng công nghệ lạc hậu; thẩm tra chặt chẽ các dự án sử dụng nhiều tài nguyên, đặc biệt là các dự án sử dụng nhiều đất; cần giao đất theo tiến độ triển khai dự

án đầu tư và nên cần quy định về tỷ suất đầu tư/đơn vị diện tích đất đối với các dự án đầu

tư FDI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Kế hoạch & Đầu tư (2017) Dự thảo chiến lược và Định hướng Chiến lược Thu hút FDI thế hệ mới giai đoạn 2018 – 2030.

Bộ Kế hoạch & Đầu tư (2019) 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: tầm nhìn và cơ

hội mới trong kỷ nguyên mới Kỷ yếu hội thảo khoa học.

Nguyễn Nguyên Dũng (2020) Giải pháp tăng cường quản lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài của

Thành phố Hà Nội hiện nay Tạp chí công thương, 4, 20-24.

Nguyễn Thạc Hoát & Nguyễn Thế Vinh (2021) Thu hút và quản lý nhà nước các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thủ đô Hà Nội Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.

José Guimón & Sergey Filippov (2012) Competing for High-quality FDI: Management Challenges

for Investment Promotion Agencies Institutions and Economies, 4(2), 25.

Quốc hội (2014) Luật Đầu tư 2014 Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

Trang 18

Sengphai Vanh Seng Aphone (2013) Quản lý nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Luận án tiến sĩ kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân Thời báo kinh tế Việt Nam (2020) Kinh tế 2018 – 2019 Việt nam và Thế giới Nhà xuất bản Thông

tin & Truyền thông

Thời báo kinh tế Việt Nam (2021) Kinh tế 2020 – 2021 Việt Nam và Thế giới Nhà xuất bản Thông

tin & Truyền thông

Tồng cục Thống kê (2019) Tăng trưởng kinh tế các vùng trọng điểm giai đoạn 2011 – 2017 Nhà

xuất bản Thống kê

Tổng cục Thống kê (2011) Niên giám thống kê năm 2010 Nhà xuất bản Thống kê.

Tổng cục Thống kê (2016) Niên giám thống kê năm 2015 Nhà xuất bản Thống kê.

Tổng cục Thống kê (2021) Niên giám thống kê năm 2021 Nhà xuất bản Thống kê.

Trang 19

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS Nguyễn Đình Thái *

TÓM TẮT

Mục tiêu của nghiên cứu này tập trung làm rõ khung lý thuyết quản lý tài chính đất đai; đánh giá, phân tích thực trạng quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bao gồm kết quả đạt được và nhữnh hạn chế trong quản lý giá đất, các nguồn thu từ đất đai của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2020 Dựa vào những phân tích và kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả về quản lý tài chính đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Từ khóa: Đất đai; giá đất, quản lý tài chính đất đai, Thành phố Hồ Chí Minh.

1 Đặt vấn đề

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt để con người sản xuất

ra của cải vật chất Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của đất đai được xác định lại cho phù hợp với giá trị vốn có của nó Mỗi quốc gia xác lập quyền sở hữu và quản lý đất đai bằng nhiều phương thức khác nhau Ở Việt Nam, đất đai được xác định là tài sản quốc gia,

là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước Muốn quản lý đất đai có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường thì Nhà nước phải thay đổi phương thức quản lý; không chỉ sử dụng các biện pháp hành chính mà còn sử dụng ngày càng nhiều các biện pháp kinh tế để quản

lý đất đai Nhìn nhận đất đai dưới khía cạnh tài sản quốc gia, nguồn nhân lực quan trọng

để phát triển đất nước thì tất yếu phải đặt ra vấn đề quản lý tài chính về đất đai và giá đất Hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và quản lý các nguồn thu ngân sách từ đất đai

Thành phố Hồ Chí Minh là đô đặc biệt, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh do đó làm cho đất đai trở nên có giá trị và giá trị sử dụng cao Trong những năm qua, hoạt động quản

lý tài chính về đất đai được chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh quan tâm thực hiện quyết liệt Trong đó, hoạt động quản lý giá đất và nguồn thu từ đất đai được tăng cường Tuy nhiên, trong những năm gần đây thị trường bất động sản bắt đầu tăng giá làm cho hoạt động quản lý giá đất và nguồn thu từ đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nảy sinh những vấn đề cần tăng cường các giải pháp quản lý

* Học viện Chính trị khu vực II.

Trang 20

2 Cơ sở lý thuyết quản lý tài chính đất đai

Hoạt động quản lý đất đai được pháp luật quy định bởi Luật Đất đai, các nghị định của Chính phủ và Quyết định của UBND cấp tỉnh Nội dung và khung lý thuyết quản lý đất đai đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, trong đó có hoạt động quản lý tài chính

về đất đai Ở Việt Nam, để quản lý đất đai là nguồn lực quan trọng cùa quốc gia một cách hiệu quả, công bằng, minh bạch thì Nhà nước quyết định giá đất và quyết định chính sách tài chính về đất đai (Luật Đất đai, 2013) Các nghiên cứu hoạt động quản lý tài chính về đất đai hầu hết dựa trên khung quy định của pháp luật về đất đai

Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), quản lý tài chính luôn là nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai vì nó là quản lý các nguồn tài chính trực tiếp liên quan đến đất đai nhưng lúc đầu chỉ đơn thuần là quản lý thuế đất Chính vì thế, trong lịch sử phát triển ở nước ta đã có lúc ngành quản lý đất đai nằm trong Bộ Tài chính Đến khi Luật Đất đai 1993 quy định quyền sử dụng đất có giá trị, mọi hoạt động giao dịch về đất đai như: giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục lịch sử dụng đất, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thu thuế khi chuyển quyền sử dụng đất đều dựa trên cơ sở giá trị của quyền sử dụng đất thì quản lý tài chính đất không chỉ đơn thuần là quản lý thuế đất

mà là quản lý tất cả những gì thuộc lĩnh vực tài chính liên quan trực tiếp đến đất đai Như vậy, nội dung này đã được đề cập đến từ lâu nhưng chưa nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai mà nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật về tài chính Đến nay, khi ban hành Luật Đất đai 2003, 2013, Nhà nước đưa vào hệ thống pháp luật đất đai những quy phạm pháp luật quy định về tài chính liên quan trực tiếp đến đất đai để quản lý Vì vậy, quản lý tài chính về đất đai trở thành một trong các nội dung của công tác quản lý nhà nước

về đất đai Quản lý tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và quản lý các nguồn thu

ngân sách từ đất đai

i) Quản lý giá đất

Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất Giá trị trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Luật Đất đai, 2013)

Mục đích của việc xác định giá đất là sử dụng làm căn cứ để tính thuế đối với việc sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; tính tiền sử dụng đất

và tiền thuê Đất khi giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp nhà nước khi doanh nghiệp cổ phần hóa, lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất để thu lệ

Trang 21

phí trước bạ khi chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; tính giá trị quyền

sử dụng đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước theo qui định của pháp luật

ii) Quản lý các nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai

Các khoản thu từ đất đai bao gồm: Tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất có tiền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất mà phải nộp tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất khi được Nhà nước cho thuê; Thuế sử dụng đất;Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất;Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật

về đất đai;Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai;Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai Chính phủ quy định chi tiết việc thu tiền

sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai (Điều 107 Luật Đất đai 2013) Ngoài Luật Đất đai năm 2013, Điều 22 nội dung quản lý nhà nước về đất đai có 15 khoản, trong đó Khoản 10 quy định quản lý tài chính về đất đai và giá đất Nghị định Chính phủ điều chỉnh, quản lý tài chính đất đai và giá đất được cụ thể hoá ở Nghị định số 96/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19 tháng 12 năm 2019 Quy định về khung giá đất Theo đó, Điều 3 Nghị định 96/2019/NĐ-CP quy định thành hai nhóm khung giá đất: Nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp Trong đó, mỗi nhóm đất sẽ có những loạt đất khác nhau ứng theo khung giá được quy định Quy định cụ thể về giá đất Chính phủ có Nghị định số 44/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 5 năm 2014 Quy định về giá đất và

Bộ Tài nguyên và Môi trường có Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm

2014 Quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất

Bảng 1 Khung giá đất tại đô thị vùng Đông Nam Bộ

Trang 22

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn tài liệu liên quan, số liệu từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố

Hồ Chí Minh, Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Niên giám Thống kê Thành phố

Hồ Chí Minh, các báo cáo của UBND Thành phố Hồ Chí Minh Thông tin, số liệu thứ cấp thu nhập nhằm sử dụng để hình thành khung lý thuyết nghiên cứu, làm rõ các khái niệm, lý luận, chính sách quản lý liên quan quản lý tài chính về đất đai

Thời gian nghiên cứu về quản lý tài chính đất đai ở Thành phố Hồ Chí Minh được giới hạn trong giai đoạn 2015 – 2020 và có tham chiếu so sánh những năm tiếp theo Về nội dung, nghiên cứu tập trung luận giải và phân tích thực tiễn quản lý tài chính đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ở trên phương diện: Hoạt động quản lý giá đất và hoạt động quản lý các nguồn thu tài chính từ đất đai

Phương pháp được sử dụng là: phân tích, tổng hợp; so sánh; phương pháp mô hình hoá các số liệu để lý giải và phân tích những vấn đề thực trạng quản lý tài chính đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Một số kết quả quản lý tài chính về đất đai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

4.1.1 Hoạt động quản lý giá đất

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất của cả nước, một trung tâm lớn về kinh

tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt và ảnh hưởng trực tiếp đến Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, những năm qua nền kinh tế của Thành phố đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, thu hút mạnh mẽ đầu tư trong nước và nước ngoài Một trong những yếu tố tự nhiên quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh có được vị thế đó là nhờ vào vị trí địa lý và đất đai Vị trí địa lý, đất đai thúc đẩy sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đồng thời sự phát triển nhanh

về kinh tế – xã hội ở đây cũng góp phần làm cho giá trị sử dụng đất và nguồn thu từ đất đai tăng lên

Nhận thức được tầm quan trọng của đất đai trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến hoạt động quản lý nhà nước về đất đai nói chung và quản lý tài chính về đất đai và giá đất nói riêng Bởi đây là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách địa phương

i) Về xây dựng bảng giá đất

Căn cứ quy định của pháp luật và chỉ đạo, hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Tài nguyên

và Môi trường, từ khi có Luật đất đai năm 2013, nhất là các Nghị định hướng dẫn của

Trang 23

Chính phủ, Thông tư của Bộ về khung giá đất và giá đất, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai công tác điều tra giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường; khảo sát mức chi phí, thu nhập từ đất phục vụ việc xây dựng bảng giá đất của địa phương; Thành phố đã triển khai xây dựng Bảng giá đất ban hành và công bố công khai vào ngày 01/01 hằng năm theo đúng quy định của pháp luật về đất đai

Trên cơ sở đó, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình và kết quả xây dựng bảng giá đất của từng năm Hiện nay, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh tại Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND; áp dụng từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2019; đồng thời thay thế Quyết định số 60/2013/QĐ-UBND ngày 26/12/2013 của UBND Thành phố về ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh Trong quá trình áp dụng, có một số tuyến đường, đoạn đường mới được đặt tên nên Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 30/2017/QĐUBND ngày 22/7/2017 cập nhật, bổ sung giá đất các tuyến đường mới Bảng giá đất này cũng là căn cứ

để xác định giá cụ thể theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất

Giai đoạn năm 2020 – 2024, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 02/2020/QĐ-UBND ngày 16/01/2020, thay thế Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014

Có thể khẳng định, Bảng giá đất đã ban hành đúng trình tự, quy định của của Luật Đất đai; sát với Khung giá đất giá đất do Chính phủ ban hành; được xây dựng với sự đóng góp

ý kiến và thống nhất cao của các đối tượng có liên quan, đảm bảo sự công khai, dân chủ và được Hội đồng nhân dân Thành phố thông qua Trong thực tiễn áp dụng, Bảng giá đất đã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo phù hợp trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2020)

Thực tế giá các loại đất trong Bảng giá đất của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn

2016 – 2020, cơ bản phù hợp với giá đất thị trường và có điều chỉnh tăng giá đất tại một

số vị trí, đường phố, khu vực có đầu tư nâng cấp hạ tầng tốt hơn, đồng thời điều chỉnh giảm giá đất tại một số vị trí, tuyến đường, khu vực cho phù hợp với tình hình thực tế thị trường tại địa phương

ii) Về hệ số điều chỉnh giá đất

Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành các quyết định quy định về hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm như: Quyết định số 35/2015/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2015;

Trang 24

Quyết định số 09/2016/QĐ-UBND ngày 25 tháng 3 năm 2016; Quyết định số 19/2017/QĐ-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2017; Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 15 tháng

3 năm 2018; Quyết định số 18/2019/QĐ-UBND ngày 01 tháng 8 năm 2019; Quyết định số 03/2020/QĐ-UBND ngày 16 tháng 01 năm 2020

Theo đó, các trường hợp quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 4 Điều 114, Khoản

2 Điều 172 và Khoản 3 Điều 189 của Luật Đất đai mà thửa đất hoặc khu đất của dự án có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng thì Cục Thuế Thành phố xác định nghĩa vụ tài chính và các khoản thu liên quan đến đất đai cho ngân sách Thành phố (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2021)

iii) Xử lý giá đất giáp ranh

Về giáp ranh địa giới hành chính các tỉnh lân cận: Năm 2014, khi triển khai xây dựng Bảng giá đất theo Luật Đất đai, các sở, ngành của Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức họp với các sở, ngành của 02 tỉnh lân cận là Đồng Nai và Long An để cân đối, điều chỉnh giá đất của những tuyến đường giao thông đi qua 02 tỉnh giáp ranh theo tiêu chí không chênh lệch quá 30% giữa 02 địa phương theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Quy định về giá đất Tuy nhiên,

do tiêu thức phân vùng, phân loại, phân vị trí đất để xác định giá đất tại các tỉnh không giống nhau và có sự khác biệt về hạ tầng giao thông, các công trình công cộng, do đó, giá đất thị trường tại khu vực giáp ranh, nằm ngoài các tuyến đường giữa các tỉnh là không giống nhau

Về giáp ranh trên cùng địa bàn Thành phố: Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo các

Sở, ngành liên quan cùng Ủy ban nhân dân các quận, huyện nơi có các tuyến đường giao thông đi qua, từ đó cân đối điều chỉnh giá đất các tuyến giao nhau theo nguyên tắc mức chênh lệch không quá 30% (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2021)

iv) Về giá đất cụ thể

Trên cơ sở quy định của pháp luật về định giá đất cụ thể, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức thực hiện việc xác định giá đất cụ thể tại các quận, huyện, phường, xã, tuyến đường cụ thể

Về giá đất để tính bồi thường: Từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến nay, Ủy ban nhân dân Thành phố đã phê duyệt 574 quyết định về hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư

Nhằm rút ngắn thời gian bàn giao mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công, Ủy ban nhân dân Thành phố đã kiến nghị Chính phủ cho phép áp dụng thí điểm cơ chế, quy

Trang 25

trình đặc thù để rút ngắn thời gian thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và đã được Chính phủ chấp ban hành Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2020 Theo đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 10/2021/QĐ-UBND ngày 04 tháng

5 năm 2021 quy định về hệ số điều chỉnh giá đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lấy ý kiến người dân có đất thu hồi trên địa bàn Thành phố

Về giá đất để xác định nghĩa vụ tài chính: Ủy ban nhân dân Thành phố đã phê duyệt

261 quyết định về phương án giá đất theo giá thị trường, làm căn cứ xác định các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai, với tổng số tiền thu nộp ngân sách là 177.484 tỷ đồng (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2021)

Trong những năm qua, việc xác định giá đất cụ thể để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất thực hiện Giá đất cụ thể được xác định cơ bản phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường theo nguyên tắc định giá đất quy định tại Điều 112 của Luật Đất đai, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm quyền lợi của người có đất thu hồi

v) Các cơ quan định giá đất

Thành phố Hồ Chí Minh chú trọng đến công tác định giá đất Do đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định thành lập Hội đồng thẩm định giá đất Thành phố

và Quy chế hoạt động của Hội đồng thẩm định giá đất Thành phố Theo đó, Sở Tài nguyên

và Môi trường tổ chức việc xác định giá đất, gửi Hội đồng thẩm định giá đất Thành phố có

ý kiến thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt Ngoài ra, ở Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống cơ quan định giá đất tư nhân cũng khá phát triển Căn cứ Nghị định số 89/2013/NĐ-CP ngày 6 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giá và thẩm định giá, hàng năm Bộ Tài chính đều có Thông báo Danh sách các doanh nghiệp thẩm định về giá đủ điều kiện hành nghề Hiện nay, cả nước có 330 doanh nghiệp hoạt động thẩm định về giá, trong đó có khoảng 200 doanh nghiệp có trụ sở

và Chi nhánh hoạt động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, có khoảng 18 đơn vị có kỹ năng tốt trong thực hiện tư vấn giá đất cụ thể (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2021)

Như vậy, cách hoạt động quản lý giá đất của Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đúng quy định của pháp luật đât đai, tạo môi trường pháp lý, cơ chế quản lý để người dân và doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là kinh doanh bất động sản

Trang 26

4.1.2 Hoạt động quản lý các khoản thu tài chính từ đất đai

Thực hiện quy định của pháp luật về đất đai trong các khoản thu từ đất đai, Thành phố

Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của pháp luật về các khoản thu được nêu trên Nguồn thu này chủ yếu từ nhà đất, bán đất, chuyển quyền sử dụng đất, cho thuê đất Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung đẩy nhanh việc đấu giá quyền sử dụng đất, kịp thời giao đất và thu tiền sử dụng đất phát sinh Kết quả thu ngân sách từ đất đai của Thành phố Hồ Chí Minh tăng qua các năm Từ giai đoạn 2014 – 2020 nguồn thu từ đất đai của Thành phố Hồ Chí Minh là 177.484 tỷ đồng Trong đó, tiền sử dụng đất: 98.314 tỷ đồng; Tiền thuê đất: 29.863 tỷ đồng; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: 2.061 tỷ đồng; Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất: 21.063 tỷ đồng; Phí, lệ phí: 26.180 tỷ đồng (Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, 2021)

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê và Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh

Theo biểu đồ 1 được mô tả thì nguồn thu từ đất đai cụ thể qua các năm: Năm 2014: 10.972 tỷ đồng; Năm 2015: 23.277 tỷ đồng; Năm 2016: 26.113 tỷ đồng; Năm 2017: 34.808

tỷ đồng; Năm 2018: 30.449; Năm 2019: 30.199 tỷ đồng; Năm 2020: 21.665 tỷ đồng

Sự tăng trưởng của Thành phố trong những năm qua có sự đóng góp quan trọng từ nguồn nghĩa vụ tài chính đất đai, số thu từ ngân sách với các khoản thu từ đất giai đoạn năm 2014-2020 bình quân đạt 25.355 tỷ đồng/năm, đặc biệt nguồn thu ngân sách từ đất kể

từ năm 2015 đến nay (thực hiện theo Luật Đất đai 2013), tăng khá cao so với nguồn thu ngân sách từ đất kể từ năm 2014 trở về trước đây (tăng trên 100%); Tổng số thu liên quan đến đất đai chiếm từ 5-7% tổng thu ngân sách địa phương

Trang 27

Bảng 2 Cơ cấu thu về nhà, đất của Thành phố Hồ Chí Minh

giai đoạn 2018 – 2020

ĐVT: Tỷ đồng

2 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 365,206 417,894 409,377

4 Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước 4,571,579 6,031,692 4,957,839

5 Tiền cho thuê và tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước 348,344 249,827 268,058

Nguồn: Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh

Trong cơ cấu thu từ các loại đất thì đất nông nghiệp có tỷ lệ thu thấp nhất Nguồn thu chủ yếu là từ tiền sử dụng đất, sau đó là tiền cho thuê đất, đất phi nông nghiệp và nguồn thu từ việc cho thuê, bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước (xem bảng 2) Cơ cấu thu có tăng dần qua các năm, tuy nhiên, trong năm 2020, số này giảm đáng kể do đại dịch covid 19, và

dự kiến nguồn thu này trong năm 2021 vẫn giảm, mặc dù trong 6 tháng đầu năm theo báo cáo kinh doanh của các công ty kinh doanh bất động sản có lợi nhuận khủng Tuy nhiên, cơ cấu nguồn thu từ đất về lâu dài vẫn chưa thực sự bền vững, hầu như nguồn thu từ khai thác quỹ đất chủ yếu dự vào tiền sử dụng đất chiếm đến 74%, nhưng nguồn thu này chỉ được thu một lần khi giao đất và sẽ giảm dần khi diện tích đất giao giao và cho thuê giảm đi (Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, 2021)

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế, thương mại của khu vực phía Nam và cả nước, nhất là có vị trị địa lý thuận lợi, đắc địa, nhưng nguồn thu từ đất đai so với tiềm năng chưa chưa lớn trong cơ cấu thu ngân sách Điều này do nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là từ chính sách thu, cách tính thuế thu từ đất đai Theo biểu đồ 2, chúng

ta thấy nguồn thu từ đất đai trong giai đoạn 2016 – 2020 của Thành phố Hồ Chí Minh là thấp so với cơ cấu các nguồn thu khác; đồng thời là quá thấp so với tiềm năng đất đai và

sự phát triển của Thành phố

Trang 28

Biểu đồ 2 So sánh tổng thu từ nhà, đất với tổng thu ngân sách

của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2020

Nguồn: Niên giám Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Một số bất cập trong quản lý tài chính về đất đai của Thành phố Hồ Chí Minh

Mặc dù là địa phương đi đầu trong cả nước trong việc thực hiện quản lý tài chính về đất đai Tuy nhiên, cùng với cả nước, hoạt động quản lý tài chính về đất đai, mà cụ thể là hoạt động quản lý giá đất và các nguồn thu từ đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còn bộc lộ những bất cập, hạn chế cần được khắc phục

Thứ nhất, trong công tác định giá đất, thời gian thực hiện việc xác định giá đất cụ thể

trong một số trường hợp còn kéo dài, chưa đáp ứng kịp yêu cầu về tiến độ để tính thu tiền

sử dụng đất, tiền thuê đất, tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; việc xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất còn phức tạp Việc điều tra, khảo sát giá đất phổ biến trên thị trường để phục vụ cho công tác xác định giá đất

cụ thể còn gặp khó khăn do người cung cấp thông tin về giá đất (người chuyển nhượng hoặc người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) không ký vào Phiếu điều tra để xác nhận thông tin về giá đất đã cung cấp Nguyên nhân của tình trạng trên là do: Quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến việc áp dụng các phương pháp định giá để xác định

Trang 29

giá đất cụ thể trong một số trường hợp còn phức tạp, chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương như thiếu thông tin giá đất thị trường, đội ngũ tư vấn định giá đất chưa

đủ để đáp ứng yêu cầu của công tác định giá Công tác chỉ đạo thực hiện tại một số quận, huyện chưa thực sự sát sao, quyết liệt

Ngoài ra, theo quy định, Bảng giá đất cấp tỉnh được xây dựng và ban hành áp dụng trong 5 năm; Bảng giá phải đảm bảo trong khung giá đất do Chính phủ quy định Tuy nhiên, khung giá các loại đất tại đô thị loại đặc biệt thuộc vùng Đông Nam bộ được quy định tại Nghị định số 96/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ khá thấp

so với giá đất được giao dịch trên thị trường (chiếm khoảng 20%), hàng năm có ban hành

hệ số điều chỉnh giá đất, nhưng hệ số này cũng chưa thể điều chỉnh được giá đất theo thực

tế, gây khó khăn cho công tác định giá đất cụ thể

Giá đất giáp ranh với các tỉnh lân cận mặc dù đã có sự thống nhất về mức giá nhưng thực tế mới chỉ xử lý được một phần về chênh lệch mức giá đất tại các vị trí khu vực giáp ranh Nguyên nhân là do tiêu thức phân vùng, phân loại, phân vị trí đất để xác định giá đất tại các tỉnh không giống nhau và có sự khác biệt về hạ tầng giao thông, công trình công cộng làm giá đất thị trường tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh có sự chênh lệch khá lớn (Sở Tài nguyên và Môi trường, 2021)

Thứ hai, sự chênh lệch đáng kể giữa bảng giá đất của UBND Thành phố Hồ Chí Minh

và giá đất trên thị trường đang thất thu cho ngân sách nhà nước đối với nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí có liên quan tới đất đai Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, không thể tìm đâu ra chứng cứ về giá đất trên thị trường vì tất cả các hợp đồng chuyển nhượng đất đai đều ghi giá thấp hơn bảng giá của UBND Thành phố quy định với mục đích trốn thuế Đây

là một khó khăn lớn đối với việc áp dụng phương pháp so sánh giá thị trường để định giá đất Thực tế trong những năm gần đây cho thấy sự chênh lệch này Chưa kể người chuyển chuyển sử dụng đất kê khai chưa đúng giá trị đất để giảm mức đóng thuế trước bạ và thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất Những cơn sốt đất trên địa bàn Quận 2, Quận 9 (cũ), huyện Bình Chánh cuối năm 2016 đầu năm 2017, 2018 cho thấy rõ điều đó

Bảng 3 Giá đất Thành phố Hồ Chí Minh theo thị trường tháng 8/2021

Trang 30

STT Quận Giá trung bình

Thứ ba, quy định của pháp luật về giá đất để tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao

đất, tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất, tính tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và tính giá trị quyền sử dụng khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải xác định phù hợp với thị trường mới chỉ mang tính nguyên tắc, chưa có quy định chi tiết và thống nhất về trình tự, thủ tục triển khai Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện theo phương thức trưng cầu dịch vụ định giá đất trên thị trường, sau đó chuyển cho

Sở Tài chính chủ trì thẩm định để trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định Tuy nhiên,

cơ chế này vẫn chứa đựng một nguy cơ tham nhũng rất cao và là nguyên nhân dẫn tới tình trạng khiếu kiện của người bị thu hồi đất ngày càng nhiều, giải quyết rất khó khăn

Thứ tư, về giá đất bồi thường khi thu hồi đất ở cho người bị thu hồi đất Hiện nay, đa

số các trường hợp tính giá bồi thường thấp hơn giá thị trường, đặc biệt ở các khu vực đô

Trang 31

thị khi thu hồi đất phục vụ các dự án xây dựng đô thị mới, chỉnh trang đô thị Giá đất do UBND Thành phố Hồ Chí Minh công bố chỉ bằng khoảng 40-50% giá thị trường Với mức giá này dẫn đến sự thiếu đồng tình, ủng hộ của người dân bị thu hồi đất Đồng thời, dẫn đến tình trạng khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo, làm chậm tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Ngoài ra, có một thực tế đáng quan tâm là, giá bồi thường đất đối với các dự án 100% kinh phí của Nhà nước thường cao hơn các dự án có sự tham gia của nhà đầu tư.

Thứ năm, cách tính thuế và các khoản nộp về đất đai rất phức tạp, chưa minh bạch

Việc chống thất thu các khoản phí, lệ phí chưa hiệu quả Hiện nay nhiều khoản thuế, phí,

lệ phí liên quan đến đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cần được thu nhưng chưa được phép thu do chưa có cơ chế chính sách phù hợp Bở vì đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn, đặc biệt Do đó các hoạt động quản lý đất đai cũng cần có cơ chế phù hợp hơn để tăng tu ngân sách trên địa bàn, lập lại trật tự thị trường nhà đất

4 Giải pháp tăng cường quản lý tài chính về đất đai và giá đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Để tăng cường công tác quản lý tài chính về đất đai trên đại bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Trong đó chú trọng các giải pháp sau đây:

Một là, cần học tập kinh nghiệm quốc tế trong định giá đất tài sản gắn liền với đất để

quản lý đất đai có hiệu quả Ở các nước công nghiệp phát triển, hệ thống quản lý giá đất được xây dựng trên cơ sở dịch vụ định giá đất đai và tài sản chất lượng cao Đây là phương thức quản lý đặc thù đối với những nghề nghiệp đòi hỏi chuyên môn sâu, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, phục vụ trực tiếp cho thực thi luật pháp đất đai Quản lý về định giá bất động sản cũng tương tự như quản lý đối với các nghề nghiệp chuyên môn khác như đăng

ký, công chứng, đo đạc, quy hoạch, v.v Việc quản lý các nghề nghiệp chuyên sâu như vậy dựa vào cộng đồng những người làm nghề đã được cấp phép hành nghề (gọi là hiệp hội nghề nghiệp) và các chuyên gia có uy tín để thẩm định về chuyên môn và đạo đức Các nước công nghiệp phát triển có một khung pháp luật lâu đời đối với hành nghề cung cấp dịch vụ định giá Mọi công dân cũng có trình độ dân trí cao, hiểu biết pháp luật và tự giác thực thi pháp luật

Hai là, hoàn thiện hệ thống quản lý giá đất Việc hoàn thiện hệ thống quản lý giá đất

cần tập trung các giải pháp nhằm mục tiêu: (i) nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn từ đất đai, (ii) bảo đảm tính khách quan trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

về giá đất, (iii) định giá đất trong mọi trường hợp phải phù hợp với giá đất trên thị trường

Ba là, cần hình thành Hiệp hội định giá bất động sản của Thành phố Hồ Chí Minh

Hiệp hội này hoạt động động độc lập so với cơ quan chính quyền, dựa trên những nguyên

Trang 32

tắc, tiêu chuẩn, chức năng nhiệm vụ riêng Cần xây dựng Hiệp hội là cộng đồng của những người hành nghề định giá bất động sản có chức năng thẩm định về chuyên môn và đạo đức của hoạt động hành nghề Hệ thống quyết định về giá bất động sản có tính độc lập tương đối với hệ thống hành chính, thường dưới dạng một Hội đồng gồm các chuyên gia định giá

có uy tín với sự tham gia của chính quyền hoặc do một lãnh đạo chính quyền làm Chủ tịch Hội đồng này được lập theo cấp hành chính và tạo thành hệ thống để quyết định về giá đất đai và tài sản gắn liền, giải quyết các tranh chấp giá bất động sản và các khiếu nại về giá bất động sản đã được quyết định

Bốn là, cần đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai, nhất là trong các

khâu thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nộp thuế, phí, lệ phí liên quan đến đất đai Trong thời gian qua Thành phố Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh cải cách hành chính trong đó có lĩnh vực đất đai, ứng dụng công nghệ thông tin quản lý đất đai, giá đất, quy hoạch, bản đồ địa chính đất đai, Theo đó, thời gian làm thủ tục của người sử dụng đất trong thực hiện nghĩa vụ tài chính đã được giảm xuống hàng trăm giờ mỗi năm Cần thực hiện thủ tục hành chính đối với tài chính đất đai được thực hiện theo cơ chế một cửa, đồng thời áp dụng phương pháp xác định tiền sử dụng đất và xác định thời gian trả kết quả cho người sử dụng đất rất rõ ràng, minh bạch, với trách nhiệm cụ thể được quy về cơ quan quản lý nhà nước Người sử dụng đất chỉ phải một lần đến nộp hồ sơ ban đầu xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất… tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ Trong vòng từ 3 đến 5 ngày, các cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải

có trách nhiệm thực hiện luân chuyển hồ sơ, xác định nghĩa vụ tài chính để thông báo cho người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai với nhà nước Trong từng trường hợp, nếu ở một công đoạn chậm sẽ ảnh hưởng đến quy trình giải quyết thủ tục, tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người dân thì trách nhiệm cũng được xác định cụ thể tới từng cá nhân, cơ quan xử lý hồ sơ; quy định này được hiểu rằng, nếu làm chậm gây ảnh hưởng đến lợi ích, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người dân thì cá nhân,

cơ quan có liên quan phải bồi thường,…

Năm là, kiến nghị một số chính sách về đất đai: Theo UBND Thành phố Hồ Chí Minh

(2021), Chính phủ cần xem xét, điều chỉnh bỏ quy định về khung giá đất tối thiểu, tối đa để các địa phương có cơ sở xây dựng Bảng giá đất tiệm cận với giá thị trường tránh thất thu thuế nhà đất đối với các trường hợp áp dụng theo Bảng giá Bên cạnh đó cần phải sửa các quy định liên quan đến mức thu để bảo đảm phù hợp khi giá đất ban hành sát giá thị trường

để bảo đảm việc khuyến khích đầu tư và giảm mức thu của người sử dụng đất, bảo đảm hài hòa lợi ích, bảo đảm nguồn thu ngân sách

Việc bỏ khung giá đất sẽ khắc phục những hệ lụy phát sinh, đồng thời đem lại khá nhiều hiệu quả cho Nhà nước và xã hội:

Trang 33

– Giao dịch nhà, đất sẽ thể hiện giá trị thực sẽ làm tăng tính minh bạch, thuận tiện cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất làm cơ sở rất quan trọng cho công tác xác định giá đất (phục vụ thu ngân sách, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, định giá phục vụ thế chấp, định giá theo yêu cầu của các cơ quan bảo vệ pháp luật, ); tạo thuận lợi cho việc xây dựng bảng giá đất, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước;

– Hạn chế tối đa tranh chấp, kiện tụng phát sinh do tình trạng “giá trong”, “giá ngoài” khi giao dịch nhà, đất; Tăng tính an toàn trong hoạt động tín dụng khi xác định giá trị quyền

sử dụng đất để nhận thế chấp; Đẩy nhanh tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng đồng thời hạn chế khiếu nại về giá đất bồi thường; Đẩy nhanh tiến độ tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, giúp sớm đưa đất vào khai thác; Nâng cao ý thức của người sử dụng đất (sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả); Hạn chế tối đa tình trạng lợi dụng Bảng giá đất thấp để “lách” luật Tuy nhiên, đồng thời với việc này thì nhất thiết phải xây dựng lại mức thu các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai cho phù hợp

Đồng thời, hướng đến quy định về việc áp dụng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để tính thu nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất (không phân biệt trường hợp trên 30

tỷ hay dưới 30 tỷ) và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo tính chặt chẽ và thống nhất trong việc tính toán, xác định giá đất; hoàn thiện các phương pháp xác định giá đất bảo đảm khách quan, minh bạch, phù hợp với giá trị trường, giá đất được tính đúng, tính đủ các giá trị tăng thêm từ các yếu tố lợi thế trong đó có lợi thế về vị trí địa lý, lợi thế quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất, đầu tư kết cấu hạ tầng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chính phủ (2002) Nghị định số Nghị định số 188/2004/NĐ-CP và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá đất các loại đất Chính phủ (2014) Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất, ban hành ngày 15/05/2014 Chính phủ (2014) Nghị định số 104/2014/NĐ-CP quy định về khung giá đất, ban hành ngày

14/11/2014

Quốc hội (2012) Luật số 45/2013/QH13 về Luật Đất đai năm 2013, ban hành ngày 29/11/2013 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2016) Quyết định số 09/2016/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về hệ sống điều chỉnh giá đất năm 2016 trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2016) Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hồ Chí Minh Ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn Thành phố Hồ

Trang 34

Chí Minh áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, ban hành

Trang 35

CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO TRONG QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

ThS Phan Thị Cẩm Lai *

TÓM TẮT

Bài viết khái quát những kết quả của chính phủ kiến tạo (CPKT) trong công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế ở Việt Nam Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, thu thập và so sánh các tài liệu thứ cấp về CPKT trong quản lý và phát triển kinh tế làm tiền đề cho việc bình luận các thành tựu đạt được như: 1) Về thay đổi tư duy và phương thức chỉ đạo, điều hành nền kinh tế; 2) Về xây dựng

và củng cố năng lực thể chế Nhà nước; 3) Về cải thiện và tạo dựng môi trường kinh doanh, môi trường hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; 4) Về phát huy dân chủ trong xã hội để đưa Chính phủ đến gần người dân và doanh nghiệp hơn Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong công tác quản lý, điều hành kinh tế của CPKT, tạo nền tảng để huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Từ khóa: Chính phủ kiến tạo, phát triển kinh tế, quản lý kinh tế.

1 Đặt vấn đề

Học giả Leftwich đã viết rằng “Ngày nay có vẻ như không tránh khỏi cho bất kỳ xã hội nào thực hiện chuyển đổi nhanh chóng và thành công từ đói nghèo mà không có mô hình Nhà nước tôn trọng ít nhiều đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển” (Leftwich, 1995) Nhận định này của Leftwich đến nay vẫn còn nguyên giá trị khi sự phát triển mạnh

mẽ của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang làm thay đổi tư duy

về sản xuất, tiêu dùng, thị trường, phương thức kinh doanh và cả tổ chức xã hội, lao động, việc làm, văn hóa, lối sống Vì vậy, việc xây dựng một chính phủ có thể khơi gợi sự phát triển của thị trường đang trở thành một yêu cầu bức thiết nhất là đối với các quốc gia có thu nhập thấp Nguyên lý này không là ngoại lệ với Việt Nam – khi phát triển kinh tế được đặt là mục tiêu hàng đầu trong thời kỳ đổi mới đất nước Xây dựng một CPKT phục vụ người dân và doanh nghiệp đã trở thành một định hướng lớn trong chủ trương của Đảng và Nhà nước “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2017) Đó là một chính phủ có bộ máy

* Nghiên cứu sinh, Trường Đại học Thủ Dầu Một.

Trang 36

tinh gọn, hoạt động hiệu quả, tận tụy phục vụ và tạo điều kiện cho nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và người dân Bài viết tập trung đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế của CPKT Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tháo

gỡ những khó khăn, cản trở trong công tác quản lý, điều hành kinh tế của CPKT, tạo nền tảng để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ yêu cầu phát triển nhanh

và bền vững đất nước

2 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết

Khái niệm “Chính phủ kiến tạo” được sử dụng lần đầu tiên khi học giả Chalmers Ashby Johnson nghiên cứu về sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản những năm 1980 Ông cho rằng: CPKT là một mô hình quản lý trong đó Chính phủ không đứng ngoài thị trường

và cũng không làm thay thị trường, mà chỉ chủ động can thiệp vào thị trường để thúc đẩy phát triển nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra (Johnson, 1982) Đồng tình với khái niệm trên của Johnson, Leftwich cho rằng CPKT là mô hình chính phủ nằm giữa mô hình chính phủ điều tiết (theo chủ nghĩa tân tự do) và mô hình chính phủ kế hoạch hóa tập trung (theo mô hình Xô Viết) (Leftwich, 1995) Dưới góc độ kinh tế học thể chế, (Robinson & Acemoglu, 2012) cho rằng việc xây dựng CPKT là cần thiết để thu hút sự tham gia của mọi chủ thể trong xã hội, thúc đẩy sự sáng tạo, củng cố niềm tin, và qua đó tạo dựng một môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh để thúc đẩy tăng trưởng Cách hiểu này khá tương đồng với quan điểm về vai trò của CPKT mà nhiều nghiên cứu khác về thể chế đã chỉ ra như (White & Wade, 1984), (Evans, Rueschemeyer, & Skocpol, 1985), (Burmeister, 1986), (Onis, 1991) Trong khi đó, (North, 1990) lại cho rằng để duy trì một chính quyền tốt, hạn chế tham nhũng; những nước có thể chế chính trị dân chủ và quyền tự do dân sự sẽ đạt những thành quả kinh tế to lớn hơn là do có môi trường kinh tế tự do hơn

Ở Việt Nam, khái niệm CPKT được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập đến lần đầu tiên vào đầu năm 2014 Đến năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc coi việc xây dựng CPKT là mục tiêu và cương lĩnh hành động của Chính phủ ngay sau khi nhậm chức Trong phiên chất vấn trực tiếp Quốc hội (ngày 18 tháng 11 năm 2017), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc định nghĩa về CPKT như sau: CPKT là chủ động thiết kế chính sách pháp luật để đất nước phát triển, Nhà nước không làm thay thị trường Kiến tạo cũng có nghĩa là Chính phủ phải kiến thiết được môi trường kinh doanh thuận lợi Cuối cùng là phúc lợi xã hội phải tốt

và quan trọng hơn cả, CPKT là nói phải đi đôi với làm (VGP, 2017)

Như vậy có thể hiểu, CPKT là chính phủ xây dựng luật pháp, trả lại và bảo vệ các quyền cơ bản nhất để xã hội tự vận hành theo cách hiệu quả nhất Chính phủ chỉ đóng vai trò kiến tạo không gian phát triển và môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn cho người dân

và doanh nghiệp; đồng thời giám sát, hướng dẫn các chủ thể tuân theo “luật chơi” đảm bảo

Trang 37

phù hợp với các nguyên tắc của thị trường và mục tiêu phát triển của đất nước Như vậy, trong mô hình này, Chính phủ sẽ không làm thay cho thị trường hay doanh nghiệp những công việc cụ thể.

3 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết nhằm khái quát những thành tựu, hạn chế trong quản lý và phát triển kinh tế của CPKT ở Việt Nam Do đó, trong bài viết này, từ cơ sở là các tài liệu thứ cấp thu thập được như các Nghị quyết của Chính phủ, các số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2020 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), báo cáo của

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI), báo cáo về môi trường kinh doanh (Ngân hàng Thế giới), các kỷ yếu hội thảo, tạp chí nghiên cứu,… tác giả dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, thu thập, phân tích, đánh giá, rút ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế của CPKT Đồng thời sử dụng phép quy nạp để đưa ra các kết luận, tổng hợp lại để đề xuất các giải pháp

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Thành tựu trong quản lý và phát triển kinh tế của chính phủ kiến tạo

Một là, về thay đổi tư duy và phương thức chỉ đạo, điều hành nền kinh tế

Thực tế cho thấy, đổi mới tư duy là yếu tố quyết định mang tính chất bước ngoặt trong việc tháo bỏ các nút thắt thể chế để cải cách chuyển đổi mạnh mẽ sang kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập kinh tế quốc tế Sự thay đổi về tư duy và phương thức chỉ đạo, điều hành nền kinh tế của CPKT được thể hiện qua các quan điểm trong các phiên làm việc của Chính phủ như: xác định tăng trưởng kinh tế là hoạt động của người dân và doanh nghiệp; nhiệm

vụ của Chính phủ và các cấp cơ quan, ban ngành là phải tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tạo nên sự tăng trưởng Chính phủ không được trở thành rào cản của người dân, doanh nghiệp, cái gì thị trường làm được thì để thị trường làm, nhiệm vụ của Chính phủ chỉ nên tập trung vào công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, hoạch định chính sách, tạo môi trường cho đầu tư kinh doanh phát triển (Hoàng Thị Giang, 2020) Nhờ sự đổi mới tư duy

và phương thức điều hành như trên, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 đã có những chuyển biến đáng kể

Trang 38

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020

Hình 1 Biểu đồ so sánh tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2020

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Hình 1 cho thấy, tăng trưởng GDP của Việt Nam tăng đều qua các năm trong giai đoạn 2012 – 2020 Riêng năm 2020, tăng trưởng GDP của Việt Nam bị sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 Tuy nhiên, so với thế giới thì đó là một thành công của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm nước cao nhất thế giới với 2.91%, phản ánh những nỗ lực “vượt khó” rất đáng ghi nhận trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ (xem hình 2) Cũng trong năm 2020, cùng với Trung Quốc và Mianma, Việt Nam trở thành một trong ba quốc gia ở châu Á có mức tăng trưởng tích cực với quy mô nền kinh tế đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Singapore (337,5 tỷ USD) và Malaysia (336,3 tỷ USD), đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á (IMF, 2020)

Hình 2 Tăng trưởng GDP năm 2020 của Việt Nam so với thế giới

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Trang 39

Hai là, về xây dựng và củng cố năng lực thể chế Nhà nước

Điểm đầu tiên trong xây dựng thể chế phát triển là vai trò của CPKT trong việc hình thành và triển khai tầm nhìn chiến lược, như định hướng mục tiêu phát triển quốc gia trong thời gian dài Tầm nhìn chiến lược này được xây dựng trên cơ sở khoa học, đánh giá các yếu

tố trong nước và quốc tế, nhất là xu hướng phát triển của khu vực và thế giới, từ đó hoạch định mục tiêu, xây dựng các chính sách và các nguồn lực để thực hiện Từ năm 2016, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, quy định mang tính nguyên tắc cho việc kiện toàn tổ chức

bộ máy và đổi mới hoạt động của các cơ quan, ban ngành và cho công tác phòng chống tham nhũng trong cơ quan nhà nước như: Nghị định số 123/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Luật 36/2018/QH14 Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tham nhũng; Chỉ thị 10/CT-TTG về tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc; Quyết định 101/QĐ-TTg Ban hành kế hoạch triển khai, thi hành Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018; Quyết định 861/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2019 – 2021”; Luật 25/2018/QH14 Luật Tố cáo… Nhờ những chủ trương và chính sách tích cực trên đã giúp Chính phủ củng cố niềm tin về sự liêm khiết trong sạch, sự tận tâm của chính phủ phục

vụ cho người dân và doanh nghiệp Trong giai đoạn 2012 – 2020, chỉ số nhận thức tham nhũng của Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể

Hình 3 Kết quả CPI hàng năm của Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020

Nguồn: Transperency International

Hình 3 cho thấy, vào năm 2016, lần đầu tiên sau 4 năm, điểm số CPI của Việt Nam

đã tăng 2 điểm so với mức điểm 31/100 được duy trì từ năm 2012 đến 2015 Với điểm số

Trang 40

này, Việt Nam đứng thứ 113/176 trên bảng xếp hạng toàn cầu Đến năm 2020, chỉ số CPI

có giảm 1 điểm so với năm 2019 nhưng được cho là không đáng kể, Tổ chức Hướng tới Minh bạch (TT) – cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) tại Việt Nam đánh giá đây là một dấu hiệu đáng mừng đối với những nỗ lực phòng, chống tham nhũng, thể hiện những bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế và chính sách liên quan đến phòng chống tham nhũng của Chính phủ Việt Nam (TI, 2020) Việc đưa ra truy tố, xét xử hàng loạt các sai phạm, các vụ án lớn, như những vi phạm của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, của Tổng Công ty Viễn thông MobiFone, sai phạm của một số lãnh đạo cấp tỉnh, lãnh đạo các bộ, ngành, đã thể hiện rõ quyết tâm của chính phủ kiến tạo rằng sẽ không có “vùng cấm”, “vùng ngoại lệ” và người “miễn truy cứu” trong công tác phòng, chống tham nhũng

ở Việt Nam

Ba là, về cải thiện và tạo dựng môi trường kinh doanh, môi trường hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

Một trong những đặc điểm nổi bật của môi trường đầu tư kinh doanh trong giai đoạn

2015 – 2020 là số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng liên tục qua các năm

và luôn tăng cao hơn với số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động (xem hình 4) Trong năm 2016, cả nước có 110.100 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 891.094 tỷ đồng, tăng 16,2% về số lượng doanh nghiệp và tăng 48,1% về số vốn đăng ký

so với năm 2015 Bình quân giai đoạn 2015 – 2020 hàng năm cả nước có 126.593 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký là 1,35 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng số doanh nghiệp thành lập mới là 49,3%, với số vốn đăng ký tăng 24,8% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020)

Doanh nghiệp đăng ký thành lập Doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động

Hình 4 Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập và giải thể,

ngừng hoạt động giai đoạn 2015 – 2020

Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ngày đăng: 23/11/2023, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm