Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử
Trang 1Vi phạm hành chính và Trách nhiệm hành chính
Đề tài 5: Vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính Phân biệt vi phạm hành chính với các loại vi phạm khác Phân biệt trách nhiệm hành chính với các loại trách nhiệm khác
Người thực hiện: Lê Minh Dương
Nguyễn Minh Hoàng
1
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 2I Khái niệm và đặc điểm
1 Vi phạm hành chính.
1.1 Khái niệm.
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
(Khoản 1, Điều 2, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012)
1.2 Đặc điểm.
Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức
độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Đây chính là dấu hiệu
“pháp định” của vi phạm
Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hành động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong
ý thức hoặc mới chỉ là dự định
Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây là dấu hiệu xác định “chủ thể” của vi phạm
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi của chủ thể, tức là người vi phạm nhận thức được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của
vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm
2 Trách nhiệm hành chính.
I.1 Khái niệm.
- Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng trong hoạt
động quản lý – hoạt động hành chính nhà nước theo quy định của luật hành chính Thông qua việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định trong những chế tài của quy phạm pháp luật bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính
2
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 3- Trách nhiệm hành chính thể hiện sự phản ứng tiêu cực của nhà nước đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính, kết quả là chủ thể đó phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần
I.2 Đặc điểm.
- Cơ sở của xác định trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính
- Trách nhiệm hành chính có tính chất ít nghiêm khắc hơn trách nhiệm hình sự, người chịu trách nhiệm hành chính không mang án tích và được áp dụng chủ yếu bởi các cơ quan quản lí nhà nước chứ không phải Tòa án
- Trách nhiệm hành chính được áp dụng đối với mọi công dân, giữa đối tượng bị xử phạt và cơ quan có thẩm quyền không tồn tại quan hệ trực thuộc (khác với trách nhiệm kỉ luật – người bị áp dụng bao giờ cũng thuộc cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng chế tài đó)
- Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:
UBND các cấp
Cơ quan cảnh sát, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, thuế vụ, quản lí thị trường và những cơ quan thực hiện chức năng thanh tra nhà nước chuyên ngành
Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự
II Phân biệt vi phạm hành chính với các vi phạm khác
1 Vi phạm hành chính.
1.1 Khái niệm.
- Vi phạm hành chính là nhưng hành vi trái pháp luật do các cá nhân, tổ chức có năng lực hành chính thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại quy tắc nhà nước trong các lĩnh vực đời sống xã hội mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
1.2 Văn bản quy định.
Đối với các hành vi vi phạm hành chính thì do tính đa dạng và đa lĩnh vực của vi phạm mà Điều 2 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã giao cho Chính phủ - cơ quan hành pháp cao nhất quyền quy định các hành vi vi phạm hành chính cụ thể trong các lĩnh vực quản lý nhà nước Vi phạm hành chính được quy định trong nhiều văn
3
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 4bản pháp luật khác nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như luật, pháp lệnh, nghị định (Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 171/2013 /NĐ –
CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt,…)
1.3 Chủ thể.
- Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng thực hiện hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt không chỉ là cá nhân mà cả tổ chức, bao gồm: cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang, Chủ thể của vi phạm hành chính: Theo Khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân ( người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi
vi phạm hành chính do mình gây ra) hay có thể là tổ chức (cơ quan nhà nước, các pháp nhân,…)
1.4 Thủ tục xử lí.
- Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính phần nhiều mang tính quyền lực đơn phương
từ phía cơ quan hành chính nhà nước Khi phát hiện có hành vi vi phạm hành chính đang diễn ra của các nhân, tổ chức thì người có thẩm quyền xử phạt buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính được thực hiện bằng lời nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật
- Nếu xem xét và thấy rằng vi phạm chỉ bị phạt ở mức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ, không cần lập biên bản (trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản)
- Nếu không thuộc vào các trường hợp trên thì người xử phạt phải lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính Việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính
1.5 Thẩm quyền.
Việc xử lý đối tượng vi phạm hành chính, theo quy định của pháp luật hiện hành, được giao cho rất nhiều cơ quan và người có thẩm quyền, trong đó chủ yếu là các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước Việc xử phạt vi phạm hành chính của Tòa
án chỉ được áp dụng trong phạm vi rất hẹp
2 Vi phạm hình sự (tội phạm)
2.1 Khái niệm.
4
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 5Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trọng bộ luật Hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quan hệ
xã hội được luật hình sự bảo vệ
2.2 Văn bản quy định
Tội phạm chỉ được quy định trong Bộ luật hình sự do Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành
2.3 Chủ thể
- Chủ thể của tội phạm trước đây được quy định là cá nhân, tuy nhiên theo Điều 2
bộ Luật hình sự 2015 thì pháp nhân thương mại cũng có thể xét vào tội phạm Quy định này đã khắc phục được những hạn chế trên thực tiễn hiện nay khi mà nhiều doanh nghiệp đã có rất nhiều các hành vi vi phạm như: sản xuất hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng; xả thải gây ô nhiễm môi trường; trốn thuế; kinh doanh ngành nghề bị pháp luật cấm….nhưng cũng chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt tiền không thấm vào đâu so với những hậu quả mà họ đã gây ra cho xã hội nhưng vẫn không có chế tài xử lý vi phạm hình sự Như vậy, bên cạnh chủ thể là cá nhân thì hiện nay pháp nhân thương mại cũng trở thành chủ thể của tội phạm và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Pháp luật Hình sự nếu có hành vi vi phạm pháp luật
2.4 Thủ tục xử lí.
Người phạm tội bị truy tố trước Tòa án theo thủ tục tố tụng tư pháp, có sự tham gia của luật sư nhằm bảo đảm đến mức cao nhất quyền của công dân chỉ bị kết tội bởi bản
án hình sự khi có các chứng cứ đầy đủ, rõ ràng và sau những thủ tục tranh tụng công khai và bình đẳng
2.5 Thẩm quyền
Việc xử lí tội phạm được giao cho một cơ quan duy nhất là tòa án
Phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm hình sự.
Dấu hiệu căn bản để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm (được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố này thường được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền) Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm Và căn cứ vào các quy định hiện hành, việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm và
vi phạm hành chính thường dựa vào những căn cứ dưới đây:
a Mức độ gây thiệt hại:
5
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 6Mức độ gây thiệt hại có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như giá trị tài sản bị xâm hại, mức độ gay thương tật, giá trị hàng hóa phạm pháp,…
Ví dụ: Anh A khi điều khiển xe gắn máy trong thành phố Đến đoạn đường vắng anh
đi với tốc độ 50km/h và đã đâm chết một người qua đường Nếu anh A chỉ đi vượt quá tốc độ cho phép và bị cảnh sát giao thông phát hiện thì anh A chỉ bị xử lý vi phạm hành chính theo Mục c Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ của Chính phủ Nhưng
vì anh đã gây chết người nên anh phải bị xử lý theo Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015
b Mức độ tái phạm nhiều lần:
Dấu hiệu này cũng có thể giúp chúng ta xác định được ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính Trong nhiều trường hợp, nếu chỉ đánh giá về mặt hành vi thì khó xác định được đó là tội phạm hay vi phạm hành chính mà phải căn cứ vào dấu hiệu tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần
Ví dụ: Anh A, do nhà nghèo, lại thất nghiệp và nghiện rượu, nên trong 1 lần sang chơi nhà hàng xóm đã lấy cắp của nhà đó 700 nghìn đồng và bị phát hiện Do giá trị tài sản
mà anh A lấy thấp hơn 2 triệu đồng, không gây hậu quả nghiêm trọng và lần đầu thực hiện hành vi vi phạm nên hành vi của anh A là hành vi vi phạm hành chính Nhưng nếu anh A vẫn tiếp tục lấy cắp tài sản của nhà người khác và bị phát hiện cho dù tài sản đó có giá trị dưới 2 triệu đồng thì anh A sẽ bị coi là tội phạm vì đã vi phạm Khoản
1 Điều 138 Bộ luật hình sự
c Công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm:
Đây cũng là một trong những căn cứ đế đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm
Ví dụ: Chị A và chị B, do xảy ra xung đột nên đã đánh nhau Và chị B đã phải vào bệnh viện Tuy nhiên, sau khi khám sức khỏe thì bác sỹ kết luận mức độ thương tật của chị B là dưới 11% Trong trường hợp này thì hành vi của chị A chỉ là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt hành chính về hành vi “đánh nhau” theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định của Chính phủ số 150/2005/NĐ-CP Ngày 12/12/2005
6
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 7Tuy nhiên, nếu trường hợp chị A sử dụng cán cuốc đập vào lưng chị B, gây thương tích cho chị B, mặc dù mức độ thương tật chỉ dưới 11% nhưng chị A vẫn bị coi là tội phạm và bị xử lý hình sự theo Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự
3 Vi phạm dân sự
3.1 Khái niệm.
Vi phạm dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản
3.2 Văn bản quy định.
Các hành vi vi phạm dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015
3.3 Chủ thể.
Chủ thể vi phạm của vi phạm dân sự và hành chính đều có thể là các cá nhân hoặc tổ chức
3.4 Thủ tục xử lí.
Thủ tục xử lí đối với cá nhân hoặc chủ thể vi phạm dân sự bao gồm các bước thụ lí vụ
án, hòa giải vụ án, chuẩn bị xét xử và mở phiên tòa xét xử
3.5 Thẩm quyền xử lí.
Cơ quan có chức năng giải quyết thi hành án dân sự duy nhất là Tòa án
4 Vi phạm hành chính với vi phạm kỷ luật
4.1 Khái niệm.
Vi phạm kỷ luật là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế quy tắc xác lập trật
tự trong nội bộ các cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng kỉ luật lao động, học tập, công tác, hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan tổ chức đó
4.2 Văn bản quy định
Vi phạm kỷ luật được quy định trong luật cán bộ, công chức và những nghị định khác được ban hành bởi Chính phủ
4.3 Chủ thể.
Chủ thể vi phạm kỉ luật là cá nhân hoặc tổ chức
4.4 Thủ tục xử lí
Chủ thể vi phạm kỷ luật phải viết kiểm điểm, đơn vị có người vi phạm thành lập hội đồng kỷ luật, đề xuất phương án kỷ luật, lưu trữ hồ sơ
7
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 84.5 Thẩm quyền xử lí
Cơ quan đơn vị có chủ thể vi phạm đứng ra xử lí, thủ trưởng đơn vị báo cáo lên cấp trên xem xét giải quyết các trường hợp vượt quá thẩm quyền xử lí
III Phân biệt trách nhiệm hành chính với các loại trách
nhiệm khác.
1 Trách nhiệm hành chính.
1.1 Cơ sở: Cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính.
1.2 Các cơ quan có thẩm quyền (Chương II Luật xử lí vi phạm hành chính
2013):
- UBND các cấp
- Cơ quan cảnh sát, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, thuế vụ, quản lí thị trường và những cơ quan thực hiện chức năng thanh tra nhà nước chuyên ngành
- Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự
- Cục quản lí lao động ngoài nước, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự,
cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
1.3 Biện pháp xử lí:
- Biện pháp xử phạt: xử phạt chính (cảnh cáo, phạt tiền), xử phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật, …) và trục xuất (mục 1, chương I phần thứ hai Luật xử lí vi phạm hành chính 2013)
- Biện pháp khắc phục hậu quả (mục 2, chương I phần thứ hai Luật xử lí vi phạm hành chính 2013):
Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép
Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra
Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện
Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng
và môi trường, văn hóa phẩm độc hại
Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn
Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm
Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng
8
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 9 Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiên vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật
2 Trách nhiệm hình sự.
2.1 Khái niệm:
Là sự phản ứng của nhà nước đối với chủ thể thực hiện tội phạm, thể hiện tập trung ở việc áp dụng hình phạt đối với chủ thể đó
2.2 Cơ sở:
- Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự
- Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của
Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự
2.3 Hình phạt và các biện pháp tư pháp (Chương VI, VII Bộ luật hình sự):
- Hình phạt chính: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình
- Hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền và trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính
- Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Hình phạt chính bao gồm: phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính
Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung
- Ngoài ra còn có các biện pháp tư pháp khác quy định tại chương VII của Bộ luật hình sự như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm hay bắt buộc chữa bệnh,…
2.4 Các cơ quan có thẩm quyền: Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa
án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác
9
Tiểu luận Tư tưởng HCM
Trang 103 Trách nhiệm dân sự.
3.1 Khái niệm: quy định tại khoản 1 điều 351 Bộ luật dân sự 2015, bên có nghĩa
vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ
3.2 Cơ sở: căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự là sự vi phạm hợp đồng dân sự;
hành vi pháp lý đơn phương; chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật và những căn cứ khác do bộ luật quy định
3.3 Các biện pháp pháp lý: tùy vào từng trường hợp vi phạm nghĩa vụ mà chủ thể
chịu trách nhiệm dân sự có thể phải giao lại vật, bồi thường thiệt hại, chịu chi phí phát sinh, hoàn thành nốt nghĩa vụ,… được quy định trong Bộ luật dân sự 2015
3.4 Các cơ quan có thẩm quyền: Tòa án nhân dân và các cơ quan khác có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật
4 Trách nhiệm kỷ luật.
4.1 Khái niệm: trách nhiệm kỷ luật là trách nhiệm pháp lí áp dụng đối với cán bộ,
công chức, viên chức do vi phạm kỷ luật, vi phạm quy tắc hay nghĩa vụ trong hoạt động công vụ hoặc vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
4.2 Cơ sở: sự vi phạm các quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, tổ
chức; không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, công tác được đề ra trong nội bộ cơ quan
4.3 Các biện pháp xử lí: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cắt chức,
buộc thôi việc
- Trách nhiệm kỉ luật thông qua trình tự hành chính (thành lập hội đồng kỉ luật) chủ yếu được áp dụng trong nội bộ cơ quan
10
Tiểu luận Tư tưởng HCM