Kinh nghiệm của một số địa phương cấp quận, huyện trong thực thi chinh sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ………….... Tính cấp thiết của đề tài Một trong những định hướng phát tr
Trang 1Xin chân thành cảm ơn Học viện Chính sách và Phát triển đã tạo điềukiện giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn thạc sĩ Chính sách công.
Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Cao học Chính sách công 5 - Họcviện Chính sách và Phát triển đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tác giả hoànthành Luận văn thạc sĩ
Xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn,giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn thạc sĩ Chính sách công
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Phùng Hƣng
Trang 3CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH NT,NT Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, NT
KH, KT-CN Khoa học, Kỹ thuật - Công nghệ
Trang 4STT DANH MỤC BẢNG BIỂU
TRANG
Bảng 1.1 Quy trình thực thi kế hoạch PTLN theo hướng bền 40
vững ở địa phươngBảng 2.1 Số lượng các làng nghề, nghề truyền thống tại quận
Bảng 2.2 Cơ cấu tổ chức thực thi chính sách PTLN ở quận Nam 58
Từ LiêmBảng 2.3 Đội ngũ cán bộ thực thi chính sách PTLN ở quân Nam
Bảng 2.4 Kết quả thanh tra năm 2019 số hộ làng nghề vi phạm 78
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN……… i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU……… iii
MỤC LỤC……… iv
TÓM TẮT LUẬN VĂN……… vii
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG……… 5
1.1 Tổng quan về phát triển làng nghề theo hướng bền vững………… 5
1.1.1 Khái niệm làng nghề và phát triển làng nghề theo hướng bền vững…… 7
1.1.2 Đặc điểm phát triển làng nghề theo hướng bền vững……… 16
1.2.3 Vai trò của làng nghề theo hướng bền vững ………. 22
1.2.4 Các mô hình phát triển làng nghề theo hướng bền vững………… 26
1.2 Thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững 29 tại địa phương……….
1.2.1 Khái niệm về thực thi chính sách phát triển làng nghề theo 29 hướng bền vững ở địa phương ……….
1.2.2.Vai trò thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở địa phương ……… 30
1.2.3 Điều kiện thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở địa phương ……… 33
1.3 Nội dung thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững……… 36
1.3.1 Xác định chính sách và quy hoạch phát triển làng nghề theo hướng bền vững……… 36
1.3.2 Xây dựng kế hoạch thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ……… 38
1.3.3 Tuyên truyền chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững…… 40 1.3.4 Tổ chức thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững…. 40
Trang 61.3.5 Thanh tra, kiểm tra thực thi chính sách phát triển làng nghề theo
1.3.6 Tổng kết, đánh giá và điều chỉnh hoạt động thực thi chính sách
phát triển làng nghề theo hướng bền vững ……… 41 1.3.7 Các tiêu chí đánh giá thực thi chính sách phát triển làng nghề
1.4 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thực thi chính sách phát
triển làng nghề theo hướng bền vững……… 44
1.3.2 Các yếu tố khách quan ……… 44 1.4.1 Các yếu tổ chủ quan ……… 45
1.5 Kinh nghiệm của một số địa phương cấp quận, huyện trong thực thi chinh sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ………… 45
1.5.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển làng nghề
theo hướng bền vững ………. 47 1.5.2 Bài học kinh nghiệm……… 52
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở QUẬN NAM
TỪ LIÊM ……… 54
2.1 Môi trường phát triển làng nghề ở quận Nam Từ Liêm………… 54
2.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 54 2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ……… 55 2.1.3 Truyền thống làng nghề của quận Nam Từ Liêm ……… 56 2.1.4 Cơ cấu tổ chức thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững ở
quận Nam Từ Liêm……… 57
2.2 Thực trạng thực thi chính sách phát triển làng nghề ở quận
Nam Từ Liêm theo hướng bền vững ……… 59
2.2.1 Các văn bản đã ban hành liên quan đến chính sách PTLN theo
2.2.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch thực thi chính sách PTLN theo
hướng bền vững……… 61 2.2.3 Thực trạng tuyên truyền chính sách PTLN theo hướng bền vững… 66 2.2.4 Thực trạng tổ chức thực thi chính sách phát triển làng nghề theo
Trang 7hướng bền vững……… 69 2.2.5 Thực trạng thanh tra, kiểm tra thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững……… 71
2.2.6 Thực trạng tổng kết, đánh giá, điều chỉnh hoạt động thực thi chính
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC THI CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở QUẬN NAM TỪ LIÊM
3.1 Quan điểm và phương hướng thực thi chính sách phát triển làng
nghề ở quận Nam Từ Liêm theo hướng bền vững……… 80
3.1.1 Quan điểm thực thi chính sách phát triển làng nghề ở quận Nam Từ
Liêm theo hướng bền vững……… 80 3.1.2 Phương hướng phát triển làng nghề ở quận Nam Từ Liêm theo
hướng bền vững ……… 82
3.2 Giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách phát triển làng nghề theo
3.2.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch PTLN theo hướng bền vững……… 83
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền
chính sách PTLN theo hướng bền vững……… 92 3.2.3 Nhóm giải pháp tổ chức thực thi chính sách PTLN theo
2.2.4 Nhóm giải pháp về thanh tra, kiểm tra thực thi chính sách PTLN
theo hướng bền vững……… 96 2.2.5 Nhóm giải pháp tăng cường tổng kết, đánh giá, điều chỉnh hoạt
động thực thi chính sách PTLN……… 97
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phươngtrong thời kỳ CNH, HĐH đất nước được Đảng và Nhà nước Việt Nam quantâm là: Mở mang các ngành nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
PTLN theo hướng bền vững nhằm tạo việc làm, đảm bảo mục tiêu ansinh xã hội, an toàn năng lượng, bền vững môi trường cho người dân làngnghề là việc làm cấp bách của từng địa phương
Hiện nay, để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nghề, làng nghềđòi hỏi hệ thống chính trị địa phương phải xây dựng và thực thi chính sáchphát triển nghề, làng nghề phù hợp với đặc thù của từng địa phương, từng loạihình ngành nghề truyền thống Điều này, góp phần quan trọng trong việc gìngiữ, bảo tồn và nâng cao thương hiệu làng nghề địa phương
Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội được thành lập trên cơ sở cácxã: Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ; một phần diện tích đất tựnhiên và dân số của xã Xuân Phương và thị trấn Cầu Diễn phía Đông sôngNhuệ Sau khi thay đổi địa giới hành chính quận Nam Từ Liêm gồm có 10phường và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2014 Hiện nay, có 02làng nghề truyền phát triển và đáp ứng tiêu chí công nhận theo Nghị định số52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề NT
là làng nghề sản xuất bún Phú Đô và làng nghề sản xuất cốm (phường Mễ Trì)được công nhận danh hiệu “làng nghề Hà Nội” Ngoài ra, còn có các nghềnhư: nghề sản xuất dây đai kiện (phường Trung Văn); nghề cơ khí, rèn(phường Phương Canh); nghề gò hàn tôn (phường Tây Mỗ) Tuy nhiên, dohiện nay không đáp ứng được cơ chế kinh tế mới nên các làng nghề sản xuất
Trang 9dây đai kiện Trung Văn, rèn Phương Canh, gò hàn tôn Tây Mỗ đã dần bị maimột, chỉ còn lại rất ít một số hộ gia đình có hoạt động sản xuất tự phát.
Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH với tốc độ đô thị hóa ngày cànggia tăng, một số làng nghề truyền đang bị mai một và bị mất dần thương hiệu,hoặc gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khẻo của ngườidân làng nghề Vì vậy, phát trển triển làng nghề theo hướng bền vững là yêucầu cấp thiết nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân làngnghề, đồng thời bảo vệ môi trường làng nghề ở quận Nam Từ Liêm, thành
phố Hà Nội hiện nay Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội”, làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm đổi mới vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứukhoa học liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài đã được công bố ở nhiềugóc độ và phạm vi khác nhau, tác giả chia thành các nhóm cơ bản sau:
* Nhóm luận văn, luận án
Đinh Công Tuấn (2018), “Biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, Luận án Tiến sĩ Chuyên ngành Văn hóa học tại Đại
học Văn hóa, Hà Nội Tác giả chỉ ra, thực trạng biến đổi VHLN truyền thống ởBắc Ninh Từ đó, đề ra những giải pháp điều tiết quá trình biến đổi của văn hóalàng nghề truyền thống ở Bắc Ninh trong những năm đổi mới tiếp theo
Hoàng Minh Hải (2018), “Thực hiện chính sách PTLN truyền thống từ thực
tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đã Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành
Chính sách công Tác giả làm rõ lý luận và thực tiễn chính sách công về PTLN truyền thống Từ đó, phân tích và đánh giá thực trạng chính sách làng nghề truyền thống đá Mỹ nghệ Non nước quận Ngũ Hàng Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Trang 10Qua nghiên cứu cho thấy, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về làng nghề.Tuy nhiên, để nghiên cứu thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững trênđịa bàn Hà Nội thì có rất ít đề tài đi sâu nghiên cứu.
* Nhóm sách chuyên khảo
Nguyễn Điền (1997) có công trình “Công nghiệp hoá nông nghiệp, NTcác nước Châu Á và Việt Nam” Nội dung nghiên cứu rút ra những nhận xétđúng về kinh nghiệm về công nghiệp hoá của các nước trên thế giới để rút ra
kinh nghiệm nhằm đề xuất giải pháp tiến hành CNH, HDN ở nước ta Nội dung
quan trọng CHN, HĐH NT là khôi phục và PTLN Tuy nhiên, nghiên cứu nàymới dừng ở việc nêu ra vai trò của làng nghề trong quá trình CHN, HĐH NT
Dương Bá Phượng (2002) có công trình “Bảo tồn và PTLN trong quá
trình công nghiệp hóa” Nghiên cứu đề cập đến một số định hướng, phương
pháp và ít nhiều đã đề ra giải pháp và chính sách bản tồn và PTLN trong quátrình CNH
Trần Minh Yến (2004) có công trình “Làng nghề truyền thống trong
qua trình CHN, HĐH” Tác giả tập trung phân tích thực trạng cũng như xuhướng vận động của làng nghề truyền thống ở NT nước ta, trên cơ sở đó đềxuất quan điểm, giải pháp PTLN truyền thống ở NT nhằm đẩy mạnh quá trìnhCNH, HĐH đất nước đến năm 2010
Nghiên cứu cho thấy, đây là những cơ sở lý luận quan trọng cho nghiêncứu đề tài thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững trong giai đoạn đẩymạnh hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 11đầy đủ về thương hiệu, về vai trò và tầm quan trọng của thương hiệu trongviệc nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề (SPLN) cũngnhư sự thiếu đầu tư về thời gian, tài chính, nhân lực cho việc xây dựng vàphát triển thương hiệu.
Tạ Minh Vân (2019), “Quy hoạch và bảo tồn các làng nghề truyền thống quận Nam Từ Liêm”, Tạp chí Kiến trúc số 03-2019, Viện Kiến trúc
Quốc gia Tác giả chỉ, đặc điểm hình thành và phát triển quận Nam Từ Liêm,các làng nghề truyền thống quận Nam Từ Liêm Từ đó, đặt ra yêu cầu phảiquy hoạch các làng nghề truyền thống để đảo cho làng nghề phát triển vững,hội nhập với nền kinh tế thị trường (KTTT) hiện nay
Nhìn tổng quan, các công trình đã công bố có một số đề tài nghiên cứu
về phát triển bền vững, nhưng chủ yếu tập trung vào phát triển bền vững nóichung, trên phạm vi rộng Tuy có một số đề tài nghiên cứu ở phạm vi vùnglãnh thổ và địa phương song cũng chỉ mới tập trung nghiên cứu về từng khíacạnh của sự phát triển bền vững, hoặc mới đưa ra những định hướng về pháttriển bền vững nói chung và PTLN nói riêng Cho đến nay, chưa có công trìnhnào nghiên cứu về sự PTLN theo hướng bền vững ở quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Giải pháp đẩy mạnh thực thi chính sách phát triển làng nghề (PTLN) theo hướng bền vững ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận làng nghề
- Thực trạng thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững ở quân Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy nhanh thực thi chính sáchPTLN theo hướng bền vững ở quân Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về PTLN và thực tiễn PTLN
ở quận Nam Từ Liêm theo hướng bền vững
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm
Về thời gian: Nghiên cứu và khảo sát thực tế từ năm 2013 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở lý luận các lý thuyết về kinh tế học, kinh tế học pháttriển, PTLN, định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, địnhhướng chiến lược phát triển của các ngành, địa phương, …làm cơ sở lý luậncho đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về PTLN
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp tổng kết
kinh nghiệm
Phân tích, tổng kết kinh nghiệm PTLN trong nước và trên thế giới
- Phương pháp đánh giá thực thi chính sách
Phân tích, đánh giá thực thi chính sách làng nghề ở quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội
Sử dụng các tiêu chí đo lường, đánh giá kết quả thực hiện chính sách PTLN ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Nghiên cứu, tổng hợp, làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản
về PTLN theo hướng bền vững
Trang 13- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy PTLN quận Nam
Từ Liêm theo hướng bền vững
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan có trách nhiệmtrong hoạch định chính sách PTLN theo hướng bền vững tại quận Nam Từ Liêm
và các địa phương có điều kiện tương tự, luận văn là tài liệu tham khảo bổ íchtrong nghiên cứu và giảng dạy
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách phát triển làng nghề theohướng bền vững ở quận nam từ liêm
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thực thi chính sách phát triển làng nghề ở quận nam từ liêm theo hướng bền vững
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1 Tổng quan về phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.1.1 Khái niệm làng nghề và phát triển làng nghề theo hướng bền vững
- Tiếp cận trên bốn quan điểm về làng nghề
* Phát triển làng nghề (PTLN) theo hướng bền vững
PTLN theo hướng bền vững có thể tiếp cận trên hai khía cạnh cơ bản sau: Phát triển làng nghề theo hướng bền vững tức là phát triển đảm bảo ổn định,
-lâu dài; lợi ích của thế hệ hiện tại không làm ảnh hưởng đến lợi íchcủa thế hệ tương lai Sự phát triển dựa trên cơ sở mức tăng trưởng kinh tế cao
và ổn định của hoạt động SX - KD, đồng thời đảm bảo tiến bộ và công bằng
xã hội NT, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ mội trường
Trang 14- Phát triển bền vững làng nghề là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hàihoà trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, duy trì được năng suất laođộng, đảm bảo liên tục tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mang tính văn hóatruyền thống, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không gây ra những nguy đến cácthế hệ sau.
1.1.2 Đặc điểm phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.2.3 Vai trò của làng nghề theo hướng bền vững
1.2.4 Các mô hình phát triển làng nghề theo hướng bền vững
- Mô hình phát triển làng nghề gắn với văn hóa du lịch
- Mô hình phát triển làng nghề gắn với thị trường
Qua nghiên cứu các khái niệm nêu trên, là cơ sở để tác giả rút ra khái
niệm: Thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững ở địa phương là quá trình đưa chính sách PTLN vào thực tiễn đời sống xã hội, thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách PTLN và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững kinh tế gắn với phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường ở các làng nghề và tại địa phương có làng nghề.
1.2.2.Vai trò thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở địa phương
1.2.3 Điều kiện thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở địa phương
1.3 Nội dung thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.3.1 Xác định chính sách và quy hoạch phát triển làng nghề theo
hướng bền vững
Trang 151.3.2 Xây dựng kế hoạch thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.3.3 Tuyên truyền chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.3.4 Tổ chức thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững 1.3.5 Thanh tra, kiểm tra thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững.
1.3.6 Tổng kết, đánh giá và điều chỉnh hoạt động thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.3.7 Các tiêu chí đánh giá thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
- Đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và ổn định
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
- Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường
1.4 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.5.2 Bài học kinh nghiệm
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở QUẬN NAM TỪ LIÊM
2.1 Môi trường phát triển làng nghề ở quận Nam Từ Liêm
2.1.1 Điều kiện tự nhiên.
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3 Truyền thống làng nghề của quận Nam Từ Liêm
2.1.4 Cơ cấu tổ chức thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững ở
quận Nam Từ Liêm
Trang 162.2 Thực trạng thực thi chính sách phát triển làng nghề ở quận Nam
Từ Liêm theo hướng bền vững
2.2.1 Thực trạng xác định chính sách và quy hoạch PTLN theo
2.2.5 Thực trạng thanh tra, kiểm tra thực thi chính sách PTLN
bộ phận người dân làng nghề về PTLN theo hướng bền vững chưa tốt, tình trạng ô
nhiễm môi trường vẫn còn xảy ra ở làng nghề, việc lạm dụng hóa chất vẫn còn
diễn ra, bình quân thu nhập của người dân làng nghề, làm nghề truyền thống chưa
cao… Đây là những vấn đề tồn tại ở làng nghề quận Nam Từ Liêm, cần phải
có những cơ chế, chính sách, giải pháp đẩy mạnh thực thi PTLN theo hướngbền vững cho người dân làng nghề và cho địa phương
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở QUẬN NAM TỪ LIÊM THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Trang 173.1 Quan điểm và phương hướng thực thi chính sách phát triển làng nghề ở quận Nam Từ Liêm theo hướng bền vững
3.1.1 Quan điểm thực thi chính sách phát triển làng nghề ở quận Nam Từ
Liêm theo hướng bền vững
3.1.2 Phương hướng phát triển làng nghề ở quận Nam Từ Liêm
theo hướng bền vững
3.2 Giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững tại quận Nam Từ Liêm
3.2.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch PTLN theo hướng bền vững
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền chính
2 Kiến nghị
- Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
- Ủy ban nhân dân quận Nam Từ Liêm
- Người dân làng nghề
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phươngtrong thời kỳ CNH, HĐH đất nước được Đảng và Nhà nước Việt Nam quantâm là: Mở mang các ngành nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
PTLN theo hướng bền vững nhằm tạo việc làm, đảm bảo mục tiêu ansinh xã hội, an toàn năng lượng, bền vững môi trường cho người dân làngnghề là việc làm cấp bách của từng địa phương
Hiện nay, để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nghề, làng nghềđòi hỏi hệ thống chính trị địa phương phải xây dựng và thực thi chính sáchphát triển nghề, làng nghề phù hợp với đặc thù của từng địa phương, từng loạihình ngành nghề truyền thống Điều này, góp phần quan trọng trong việc gìngiữ, bảo tồn và nâng cao thương hiệu làng nghề địa phương
Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội được thành lập trên cơ sở cácxã: Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ; một phần diện tích đất tựnhiên và dân số của xã Xuân Phương và thị trấn Cầu Diễn phía Đông sôngNhuệ Sau khi thay đổi địa giới hành chính quận Nam Từ Liêm gồm có 10phường và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2014 Hiện nay, có 02làng nghề truyền phát triển và đáp ứng tiêu chí công nhận theo Nghị định số52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề NT
là làng nghề sản xuất bún Phú Đô và làng nghề sản xuất cốm (phường Mễ Trì)được công nhận danh hiệu “làng nghề Hà Nội” Ngoài ra, còn có các nghềnhư: nghề sản xuất dây đai kiện (phường Trung Văn); nghề cơ khí, rèn(phường Phương Canh); nghề gò hàn tôn (phường Tây Mỗ) Tuy nhiên, dohiện nay không đáp ứng được cơ chế kinh tế mới nên các làng nghề sản xuấtdây đai kiện Trung Văn, rèn Phương Canh, gò hàn tôn Tây Mỗ đã dần bị maimột, chỉ còn lại rất ít một số hộ gia đình có hoạt động sản xuất tự phát
Trang 19Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH với tốc độ đô thị hóa ngày cànggia tăng, một số làng nghề truyền đang bị mai một và bị mất dần thương hiệu,hoặc gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khẻo của ngườidân làng nghề Vì vậy, phát trển triển làng nghề theo hướng bền vững là yêucầu cấp thiết nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân làngnghề, đồng thời bảo vệ môi trường làng nghề ở quận Nam Từ Liêm, thành
phố Hà Nội hiện nay Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội”, làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm đổi mới vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứukhoa học liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài đã được công bố ở nhiềugóc độ và phạm vi khác nhau, tác giả chia thành các nhóm cơ bản sau:
* Nhóm luận văn, luận án
Đinh Công Tuấn (2018), “Biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, Luận án Tiến sĩ Chuyên ngành Văn hóa học tại Đại
học Văn hóa, Hà Nội Tác giả chỉ ra, thực trạng biến đổi VHLN truyền thống ởBắc Ninh Từ đó, đề ra những giải pháp điều tiết quá trình biến đổi của văn hóalàng nghề truyền thống ở Bắc Ninh trong những năm đổi mới tiếp theo
Hoàng Minh Hải (2018), “Thực hiện chính sách PTLN truyền thống từ thực
tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đã Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành
Chính sách công Tác giả làm rõ lý luận và thực tiễn chính sách công về PTLN truyền thống Từ đó, phân tích và đánh giá thực trạng chính sách làng nghề truyền thống đá Mỹ nghệ Non nước quận Ngũ Hàng Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Qua nghiên cứu cho thấy, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về làng nghề.Tuy nhiên, để nghiên cứu thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững trênđịa bàn Hà Nội thì có rất ít đề tài đi sâu nghiên cứu
* Nhóm sách chuyên khảo
Trang 20Nguyễn Điền (1997) có công trình “Công nghiệp hoá nông nghiệp, NTcác nước Châu Á và Việt Nam” Nội dung nghiên cứu rút ra những nhận xétđúng về kinh nghiệm về công nghiệp hoá của các nước trên thế giới để rút ra
kinh nghiệm nhằm đề xuất giải pháp tiến hành CNH, HDN ở nước ta Nội dung
quan trọng CHN, HĐH NT là khôi phục và PTLN Tuy nhiên, nghiên cứu nàymới dừng ở việc nêu ra vai trò của làng nghề trong quá trình CHN, HĐH NT
Dương Bá Phượng (2002) có công trình “Bảo tồn và PTLN trong quá
trình công nghiệp hóa” Nghiên cứu đề cập đến một số định hướng, phương
pháp và ít nhiều đã đề ra giải pháp và chính sách bản tồn và PTLN trong quátrình CNH
Trần Minh Yến (2004) có công trình “Làng nghề truyền thống trong
qua trình CHN, HĐH” Tác giả tập trung phân tích thực trạng cũng như xuhướng vận động của làng nghề truyền thống ở NT nước ta, trên cơ sở đó đềxuất quan điểm, giải pháp PTLN truyền thống ở NT nhằm đẩy mạnh quá trìnhCNH, HĐH đất nước đến năm 2010
Nghiên cứu cho thấy, đây là những cơ sở lý luận quan trọng cho nghiêncứu đề tài thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững trong giai đoạn đẩymạnh hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 21Tạ Minh Vân (2019), “Quy hoạch và bảo tồn các làng nghề truyền thống quận Nam Từ Liêm”, Tạp chí Kiến trúc số 03-2019, Viện Kiến trúc
Quốc gia Tác giả chỉ, đặc điểm hình thành và phát triển quận Nam Từ Liêm,các làng nghề truyền thống quận Nam Từ Liêm Từ đó, đặt ra yêu cầu phảiquy hoạch các làng nghề truyền thống để đảo cho làng nghề phát triển vững,hội nhập với nền kinh tế thị trường (KTTT) hiện nay
Nhìn tổng quan, các công trình đã công bố có một số đề tài nghiên cứu
về phát triển bền vững, nhưng chủ yếu tập trung vào phát triển bền vững nóichung, trên phạm vi rộng Tuy có một số đề tài nghiên cứu ở phạm vi vùnglãnh thổ và địa phương song cũng chỉ mới tập trung nghiên cứu về từng khíacạnh của sự phát triển bền vững, hoặc mới đưa ra những định hướng về pháttriển bền vững nói chung và PTLN nói riêng Cho đến nay, chưa có công trìnhnào nghiên cứu về sự PTLN theo hướng bền vững ở quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Giải pháp đẩy mạnh thực thi chính sách phát triển làng nghề (PTLN)theo hướng bền vững ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận làng nghề
- Thực trạng thực thi chính sách PTLN theo hướng bền vững ở quân Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy nhanh thực thi chính sáchPTLN theo hướng bền vững ở quân Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về PTLN và thực tiễn PTLN
ở quận Nam Từ Liêm theo hướng bền vững
Trang 224.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm
Về thời gian: Nghiên cứu và khảo sát thực tế từ năm 2013 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở lý luận các lý thuyết về kinh tế học, kinh tế học pháttriển, PTLN, định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, địnhhướng chiến lược phát triển của các ngành, địa phương, …làm cơ sở lý luậncho đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về PTLN
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp tổng kết
kinh nghiệm
Phân tích, tổng kết kinh nghiệm PTLN trong nước và trên thế giới
- Phương pháp đánh giá thực thi chính sách
Phân tích, đánh giá thực thi chính sách làng nghề ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Sử dụng các tiêu chí đo lường, đánh giá kết quả thực hiện chính sáchPTLN ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Nghiên cứu, tổng hợp, làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản
về PTLN theo hướng bền vững
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy PTLN quận Nam
Từ Liêm theo hướng bền vững
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan có trách nhiệmtrong hoạch định chính sách PTLN theo hướng bền vững tại quận Nam Từ Liêm
Trang 23và các địa phương có điều kiện tương tự, luận văn là tài liệu tham khảo bổ íchtrong nghiên cứu và giảng dạy.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách phát triển làng nghề theo hướng bền vững
Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách phát triển làng nghề theohướng bền vững ở quận nam từ liêm
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thực thi chính sách phát triển làng nghề ở quận nam từ liêm theo hướng bền vững
Trang 24MỞ ĐẦU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1 Tổng quan về phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.1.1 Khái niệm làng nghề và phát triển làng nghề theo hướng bền vững
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề *
Khái niệm nghề truyền thống và làng nghề
- Nghề truyền thống: Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các yếu tố,
quan niệm, giá trị của cộng đồng người hay của giá trị lưu giữ trong một thờigian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác Truyền thống biểu hiện tính kế thừa làchủ yếu tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử Truyền thống được biểuhiện ở hình thức: lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, truyền thống họctập, nghề truyền thống
Nghề truyền thống là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hìnhthành, tồn tại và phát triển lâu đời trong tiến trình lịch sử, được sản xuất tậptrung ở một vũng hay một làng nào đó và được truyền từ đời này qua đời khác(truyền nghề), lưu giữ kỹ thuật sản xuất (bí quyết nghề nghiệp), đúc kết kinhnghiệm làm nghề
Nghề truyền thống thường được lưu giữ trong một gia đình, một dòng
họ, một làng hay một vùng
Nghề thủ công truyền thống không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng nghề
mà còn mở rộng hơn như: xã nghề, phố nghề, phường nghề, hội nghề
Phố nghề là kết quả của quá trình đô thị hóa và mở rộng thị trường mới
và những người thợ thủ công từ các làng nghề tụ họp lại trên cùng một địađiểm để sản xuất hoặc kinh doanh Thí dụ: Thủ đô Hà Nội có phố nghề làmkim hoàn như vàng bạc, phố tiện gỗ Tô Lịch, phố cắt may áo dài Cầu Gỗ
Xã nghề để chỉ sự lan tỏa của nghề vượt khỏi phạm vi từ làng này sang làng khác
Trang 25Phường nghề, hội nghề là những người thợ thủ công cùng phường,nhóm họp lại thành tổ chức và luật lệ riêng Ngoài ra còn phải nói đến tổ nghề
là những người có đức, có công dạy nghề, hay phát minh ra nghề Tổ nghề thìkhông nhất thiết là người ở địa phương đó Một số làng tổ nghề được suy tôn
là thành hoàng làng hoặc được lập miếu thờ Một nghề có thể thờ nhiều tổnghề khác nhau ở các vùng khác nhau vì tổ nghề là người có công khởi xướngtruyền thống ở một vùng, một địa phương
Như vậy, nghề truyền thống là những nghề phi nông nghiệp tồn tạitrong một thời gian dài (trước Cách mạng Tháng Tám) và thường gắn với mộtđịa phương nhất định
- Làng nghề: Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với các thôn, làng và các
làng nghề là đặc trưng cho truyền thống kinh tế, văn hoá của xã hội NT Các
làng nghề là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, CN và NN, giữa NT vàthành thị và là yếu tố quan trọng trong quá trình CNH, HĐH ở NT Việt Nam
Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng chỉ ra: “làng nghề là làng ấy,tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi (gà, lợn, trâu,…) làm một sốnghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảovới một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ôngtrùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trìnhcông nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thânvinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, nhữngmặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan
hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ
đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài”1 Vìvậy, trong quá trình nghiên cứu đã xuất hiện thêm các quan điểm khác nhau
về làng nghề:
1 Tr ầ n Qu ố c V ượ ng Qu ố c, Đỗ Th ị H ả o (1996), Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề, NXB Văn hoá dân tộ c, tr 12.
Trang 26Quan điểm thứ nhất, “làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà
cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷcương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là một làngsống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợpquần thể để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là
sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc vàcác cá biệt của địa phương”2 Theo cách hiểu này, làng nghề là một đơn vịhành chính khu biệt, cư dân ở trong làng nghề cùng làm nghề và sinh sốngbằng nghề
Quan điểm thứ hai, “làng nghề là làng ở NT có một hoặc một số nghề
thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập Thu thập từcác làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng”3 Cách hiểu
này, đã nêu được hai yếu tố: Một là, làng (ở NT) và hai là, nghề (thủ công tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập), nên có khả năng bao quát hơn
về các làng nghề ở Việt Nam nói chung Tuy nhiên, nó chưa phản ánh phùhợp với hiện trạng các làng nghề ở Việt Nam, tồn tại đan xen cả thủ côngnghiệp và nông nghiệp, nhiều làng ở Việt Nam có nghề nhưng vẫn chưa đượcgọi là làng nghề
Quan điểm thứ ba, “làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần
được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm cácnghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch
sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian”4 Khái niệm về làng nghề nhấnmạnh đến khía cạnh văn hóa, mang những giá trị vật thể và phi vật thể phảnánh được lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan tới chính người dân làng nghề
2 Ph ạ m Côn S ơn (2004), Làng nghề truyền thống Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộ c, tr 6.
3 D ương Bá Phượ ng(2001), Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.13.
4 Lê Th ị Minh Lý (2003), Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể, T ạ p chí Di sản văn hóa, s ố
4, tr.19.
Trang 27Quan điểm thứ tư, “làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông
thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại
trong một không gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinhsống bằng nghề thủ công là chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về kinh tế,
xã hội và văn hóa”5 Khái niệm này, đề cập đến thiết chế kinh tế - xã hội, cơ
sở tồn tại của làng gắn với nghề thủ công
Về mặt thực thể, khái niệm làng nghề được cấu thành từ hai thành tố cấu là “làng” và “nghề” “Làng là một phạm trù dùng để chỉ một khối dân cư
ở NT làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hànhchính thấp nhất thời phong kiến”6 Làng là một tế bào xã hội của người Việt,một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnhthổ nhất định, tập hợp những người dân cùng sinh sống và sản xuất
Trên bình diện pháp lý, Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ quy định: “làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản,
làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một
xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề NT, sản xuất ra một hoặc nhiều loạisản phẩm khác nhau”
Ngày nay, do tác động của quá trình đô thị hoá, có những làng nghềkhông còn chỉ nằm ở khu vực NT nữa Qua khảo sát thực tiễn ở một số làngnghề cho thấy, các làng nghề này thường có từ 30 – 55 % số hộ chuyên làmnghề thủ công nghiệp trở lên”7 Trên cơ sở quan niệm của các nhà khoa học
về khái niệm làng nghề, kết quả nghiên cứu về hai yếu tố cấu thành của làngnghề là “làng” và “nghề” có thể rút ra nhận định sau:
5 Tr ầ n Minh Y ế n (2003), Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án bảo vệ tại viện kinh tế Việt Nam, tr.21.
6 NXB Đà Nẵng (1995), T ừ điển Tiếng Việt, tr 552.
7 Dương Bá Phượng (2001), B ảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá, NXB Khoa
học xã hội.
Trang 28- Làng nghề là làng có một (hoặc một số) nghề thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập.
- Về mặt định lượng: làng nghề là làng có trên 30% số hộ hoặc trên50% số lao động trong làng chuyên làm một, hoặc một số nghề thủ công nghiệp
mà các hộ có thể sinh sống bằng chính nguồn thu nhập từ nghề đó, tức (thu nhập
từ nghề chiếm trên 50% tổng giá trị thu nhập của làng) Như vậy, khái niệm làngnghề không bó hẹp ở những làng chỉ có những người chuyên làm các ngànhnghề thủ công nghiệp và cũng không có một làng nào chỉ là những làng buônbán đơn thuần theo cách phân chia trước đây
* Nhận diện làng nghề
Việc nhận diện làng nghề là tìm ra những điều kiện cần, những tiêuchuẩn mực để từ đó xem xét đánh giá một làng nghề Cơ sở khoa học và thựctiễn để nhận diện làng nghề là dựa trên những thành tố cơ bản liên kết bêntrong các làng nghề, đồng thời dựa vào đặc điểm các làng nghề, cho phépchúng ta nhận làng nghề dựa trên bốn thành tố gắn kết chặt chẽ với nhau, đểtạo thành những tiềm năng vững chắc cho sự phát triển mỗi làng nghề
Một là, số hộ làm các nghề phi nông nghiệp, chiếm trên 30% trở lên số
hộ trong làng Thực tiễn chỉ ra, ở các làng được công nhận là làng nghề chothấy, số hộ làm các nghề phi nông nghiệp đều có số hộ, số lao động làm nghềchiếm ưu thế lớn so với nghề nông Ở các làng nghề địa phương đều có tỷ lệlàm nghề rất cao, có nơi chiếm đến 90% số lao động trong làng
Hai là, tỷ trọng giá trị doanh thu từ nghề chiếm trên 50% trong tổng
doanh thu của làng trong năm Căn cứ vào tỷ trọng giá trị doanh thu của nghềtrong tổng doanh thu của làng trong năm, coi đó là một tiêu chuẩn xem xétcông nhận một làng nghề Thực tiễn cho thấy, xác định tỷ trọng doanh thu củanghề ở làng trong tổng giá trị kinh tế trong một năm là rất khó, bởi lẽ sảnphẩm của làng nghề luôn luôn biến động theo mùa vụ, những con số đưa rachỉ là ước tính
Trang 29Ba là, có tính truyền thống, văn hoá nghề nghiệp, liên kết chặt chẽ
trong cộng đồng làng nghề Ở những làng nghề, những người cùng làm nghề
có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau trong thiết chế cộng đồng, làngxóm Một số làng, xã đã tổ chức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết nhữngngười làm nghề dịch vụ liên quan đến nghề, làng nghề Đồng thời quy tụnhững nghệ nhân cùng nghề, tổ chức sinh hoạt văn hoá nghề ở nhà thờ tổnghề, hoặc đình làng, đền
Bốn là, số thợ giỏi của làng nghề chiếm từ 5 - 20% tổng số lao động làm
nghề Thực tiễn chỉ ra ở các làng nghề, quá trình lao động để làm ra sản phẩm,lực lượng lao động đã tự phân công thành các bậc thợ với trình độ tay nghề khácnhau Bậc thợ giỏi được người thợ tôn vinh là “thợ cả”, có nơi tôn vinh là “nghệnhân” Dưới thời bao cấp, Nhà nước đã phong tặng một số các nghệ nhân danhhiệu “bàn tay vàng” Số thợ giỏi của các làng nghề chiếm từ 5% - 20% lao độngchính Số nghệ nhân, thợ cả ở các làng nghề đóng vai trò rất quan trọng trongviệc bảo lưu yếu tố truyền thống, cũng như cách thức thúc đẩy nghề phát triển,
họ trực tiếp cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm Như vậy, việc nhậndiện làng nghề góp phần khẳng định uy tín, thương hiệu và chất lượng sản phẩm
và vị trí của làng nghề trong xã hội Đồng thời, tránh bị mai một, hoặc bị đồnghóa làng nghề trong xu thế hội nhập
* Phân loại làng nghề
Làng nghề có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu đời, gắn với môhình công xã NT Vì vậy, cho đến nay đã có nhiều các nhà khoa học nghiêncứu đánh giá tác động và phân loại làng nghề Tuy nhiên, có hai cách phânloại làng nghề phổ biến sau:
Một là, theo lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề
Phân loại theo lịch đại gắn với lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề có: làng nghề truyền thống và làng nghề mới
Trang 30- Làng nghề truyền thống là loại làng nghề được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian vẫn duy trì, phát triển và được lưu truyền.
- Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong nhữngnăm gần đây gắn với nền KTTT và nhu cầu thị trường, chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, hoặc do sự du nhập trong quá trình hội nhập giữacác vùng, các địa phương và giữa các nước
Hai là, theo trình độ chuyên môn hoá và cách thức tổ chức trong sản xuất
Việc phân phân loại theo trình độ chuyên môn hoá và cách thức tổ chứctrong sản xuất, thì làng nghề có hai loại sau: Làng chuyên nghề, làng đa nghề
- Làng chuyên nghề: Làng chuyên nghề là một khái niệm bao gồm
nhiều hộ trong một làng tham gia làm một nghề với chuyên môn hoá cao,mang tính chất truyền nghề từ đời này sang đời khác, hay thường gọi là
“Nghề của làng” Làng chuyên nghề, hay còn gọi là “Nghề của làng” mangtính chất truyền nghề
Làng chuyên nghề đòi hỏi việc sản xuất phải theo một quy chuẩn nhấtđịnh, thường đòi hỏi bí quyết nghề nghiệp, mang tính chất “Truyền nghề”nhiều hơn là “Dạy nghề” Vì vậy, trong làng chuyên nghề thường xuất hiệnđội ngũ "Thợ đầu đàn”, “Thợ cả” hay "Nghệ nhân” có khả năng hướng dẫn kỹthuật, truyền nghề, thiết kế mẫu mã mới, hoặc cải tiến những khâu quan trọng
- Làng đa nghề: Làng đa nghề là làng có nhiều nghề sản xuất, kinh
doanh khác nhau Làng đa nghề cũng được tổ chức theo dòng họ, làng xóm,hoặc một số người có cùng một tay nghề tương đương Làng đa nghề có quy
mô sản xuất nhỏ, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, sản phẩm cung ứng chothị trường tiêu thụ nhỏ, thậm chí làm ngày nào bán ngày đó Do vậy, hộ giađình là đơn vị sản xuất chủ yếu ở trong các làng đa nghề, thường sản xuấtkhép kín, tự mua nguyên liệu, tự hạch toán, tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.Mặt khác, do đặc điểm của làng đa nghề, nên trình độ lao động của người lao
Trang 31động không đòi hỏi chuyên môn hoá cao và sự hợp tác giữa các thành viêntrong làng đa nghề chưa thật chặt chẽ.
Như vậy, việc phân loại làng nghề có tác dụng quan trọng trong việcxác định, đánh giá đúng vị trí, vai trò và chức năng của làng nghề trong tiếntrình CNH, HĐH nông nghiệp, NT, góp phần xây dựng và thực hiệu quảchính sách PTLN theo hướng bền vững
1.1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững và PTLN theo hướng bền
vững * Phát triển bền vững (PTBV)
Khái niệm PTBV đã xuất hiện từ những năm đầu thập niên 70 thế kỷ
XX, gắn với phong trào bảo vệ môi trường Đến năm 1980, Hiệp hội quốc tếbảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) đưa ra “Chiến lược bảotoàn thế giới” với mục tiêu là “đạt được sự PTBV bằng cách bảo vệ các tàinguyên sống” Trong chiến lược này, lần đầu tiên đề cập đến PTBV, nhưngmới chỉ hiểu PTBV với một nội dung hạn hẹp là PTBV về mặt sinh thái Theochương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), thì PTBV với 5 nộidung cơ bản sau:
1 Chứa đựng ý tưởng về phát triển tự lực trong khuôn khổ những ràng buộc về tài nguyên thiên nhiên;
2 Chứa đựng ý tưởng về phát triển có hiệu quả so với chi phí nhờ sửdụng các chuẩn cứ về phát triển truyền thống;
3 Giúp đỡ những người nghèo vì những người này không có sự lựa chọn nào khác là phá huỷ môi trường;
4 Đề cập những vấn đề lớn về theo dõi sức khoẻ, sử dụng công nghệthích hợp, tự lực lương thực, nước sạch, nhà ở cho mọi người;
5 Chứa đựng quan điểm về sự cần thiết của những đề xuất định hướngvào nhân dân
Theo cách tiếp cận của UNEP về nội dung PTBV rộng hơn so với nội dung phát triển bền vững theo cách tiếp cận của IUCN Nó không chỉ dừng lại
Trang 32ở sự phát triển bền vững về sinh thái, mà còn bước đầu đề cập đến cả phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, nhưng chưa đầy đủ.
Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vữngđược tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), trên cơ sở tổng kết, đánhgiá lại 10 năm thực hiện Chương trình Nghị sự phát triển bền vững toàn cầu,
đã bổ sung và hoàn thiện khái niệm về PTBV có thể khái quát như sau: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Ở Việt Nam phát triển bền vững một cách toàn diện: “Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát
triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh quốc gia” Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển trong mối quan hệ
chặt chẽ thực hiện bốn nhóm mục tiêu lớn, nếu không tính đến mục tiêu anninh - quốc phòng thì phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo ba yếu tố:Bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững về môi trường PTBV là sựphát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tồn, mà vẫn phải bảo đảm sự phát triểntiếp tục trong tương lai xa Không chỉ phát triển kinh tế, mà còn phải tôn trọngnhững nhu cầu tất yếu của xã hội và đảm bảo môi trường sinh thái học
* Phát triển làng nghề (PTLN) theo hướng bền vững
PTLN theo hướng bền vững có thể tiếp cận trên hai khía cạnh cơ bản sau:Phát triển làng nghề theo hướng bền vững tức là phát triển đảm bảo ổnđịnh, lâu dài; lợi ích của thế hệ hiện tại không làm ảnh hưởng đến lợi ích củathế hệ tương lai Sự phát triển dựa trên cơ sở mức tăng trưởng kinh tế cao và
Trang 33ổn định của hoạt động SX - KD, đồng thời đảm bảo tiến bộ và công bằng xãhội NT, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ mội trường.
Phát triển bền vững làng nghề là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoàtrong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, duy trì được năng suất laođộng, đảm bảo liên tục tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mang tính văn hóatruyền thống, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không gây ra những nguy đến cácthế hệ sau
Như vậy, PTLN theo hướng bền vững đảm bảo vấn đề an sinh xã hội, antoàn SX - KD, bền vững môi trường cho người dân làng nghề và cho xã hội
1.1.2 Đặc điểm làng nghề và phát triển làng nghề theo hương bền vững
1.1.2.1 Đặc điểm làng nghề
* Làng nghề tồn tại gắn với nông nghiệp và NT
Sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, từ hàng năm trước đây,nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng NT Việt Nam Việc hình thành cáclàng nghề bắt đầu từ những nghề băn đầu được cư dân tranh thủ lúc nôngnhàn Trong các làng nghề truyền thống, người thợ thủ công đồng thời cũng làngười nông dân Ngày nay, một bộ phận lớn người thủ công tuy làm nghềchính, nhưng họ vẫn canh tác trên mảnh đất của mình, vẫn tham gia sản xuấtnông nghiệp ở mức độ nhất định
Làng nghề là thiết chế xã hội, một bộ phận của khu vực NT Hoạt độngcủa các làng nghề phục vụ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội NT nhưtiêu thụ nguyên vật liệu, cung cấp vật tư, sản phẩm hàng hóa; thu hút lao động
NT, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và hoạt động dịch vụ cùng phát triển, gópphần tăng thu nhập cho người nông dân; tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng
NT Vì vậy, làng nghề phát triển là một sự bổ sung cho nông nghiệp, tạo nênkết cấu đa dạng, bền vững của kinh tế NT
* Kỹ thuật chủ yếu dựa vào bí quyết lưu truyền, công nghệ sản xuất thủ công thô sơ
Trang 34Sự khác biệt lớn nhất về sản phẩm của các làng nghề là tính chất sảnxuấ thủ công phụ thuộc vào tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của người thợ và sựkhéo léo còn đòi hỏi quá trình tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và trởthành bí quyết cho nghề nghiệp Một số dòng họ, một số làng nghề giữ gìn bíquyết riêng của mình, chỉ được phép lưu truyền cho con cháu trong dòng họtạo nên chất lượng và sắc thái riêng cho sản phẩm Đó là kết tinh đã đượcsáng tạo, đúc kết mang bản sắc riêng của từng làng nghề, khác biệt so với sảnphẩm của các nơi khác bản chất của công nghệ làng nghề là yếu tố truyềnthồng và kỹ thuật thủ công nên không thể thay thế bằng máy móc hiện đại màchỉ có thể áp dụng ở một số khâu sản xuất nhất định Bên cạnh đó, sự hạn chế
về quy mô đầu tư, mặt bằng sản xuất chật hẹp, cộng với thói quen sản xuất lâuđời của người thợ thủ công nên công nghệ chậm được cải tiến và ứng dụngcác kỹ thuật hiện đại Công nghệ sản xuất còn ở tình trạng thô sơ, máy mócthiết bị lạc hậu Tuy nhiên, thủ công và truyền thống lại tạo nên đặc trưngriêng của các sản phẩm làng nghề
* Sản phẩm mang tính đơn chiếc, độc đáo có tính nghệ thuật cao
Đặc điểm đặc sắc, riêng biệt nhất của những sản phẩm làng nghề là tínhtruyền thống độc đáo và có tình nghệ thuật cao Kỹ thuật sản xuất trong cáclàng nghề là những bí quyết truyền thống đã được lưu truyền từ hàng nghìnnăm và tồn tại cho đến ngày nay Mỗi làng, mỗi vùng chứa đựng một số trình
độ kỹ thuật riêng, đặc trưng của từng làng và các nơi khác không thể có, cácsản phẩm là sự kết hợp khéo léo giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sựsáng tạo nghệ thuật độc đáo Người thợ thủ công đã truyền vào những sảnphẩm linh hồn của cuộc sống, đó là sự diễn ra các hoạt động của con ngườitrong lao động sản xuất, là phong tục truyền thống, là tín ngưỡng, tôn giáo, làước muốn con người Sản phẩm truyền thống không thể sản xuất hàng loạtvới tính chất thủ công, mỗi một sản phẩm đều được tạo bởi chính đôi bàn taykhéo léo của người thợ nên chính điều này tạo nên cho những sản phẩm làng
Trang 35nghề sắc thái riêng, sự hấp dẫn riêng và là thế mạnh để các sản phẩm có thếcạnh trạnh với các sản phẩm nơi khác.
* Lao động của các làng nghề chủ yếu lao động thủ công
Phương thức sản xuất sẽ quy định lực lượng sản xuất, do tính chất sảnxuất tại các làng nghề với kỹ thuật thủ công thô sơ nên lao động chủ yếu làlao động thủ công Hầu hết các công đoạn sản xuất đều do người lao độngđảm nhận với yêu cầu cao về kỹ thuật truyền thống, sự tài hoa khéo léo cùngvới óc thẩm mỹ đã sáng tạo nên, kết tinh trong mỗi sản phẩm thì vai trò củanghệ nhân trong mỗi làng nghề là vô cùng quan trọng, được coi là nòng cốtcho quá trình sản xuất và tạo ra sản phẩm Chính các nghệ nhân là người dạynghề, truyền nghề trực tiếp cho các thành viên trong gia đình hoặc dòng họ.Lao động của các nghệ nhân là sự kết tinh của đôi bàn tay khéo léo cùng vớikinh nghiệm bí quyết gia truyền của mỗi làng nghề tạo nên các sản phẩm cógiá trị độc đáo, riêng biệt
* Hộ gia đình là hình thức tổ chức kinh doanh phổ biết nhất ở các làng nghề
Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh tế, vừa là một đơn vị
sinh hoạt Đặc điểm của hình thức này, là có thể huy động và sử dụngtrong lao động của các thành viên trong gia đình tham gia vào các công việckhác nhau trong quá trình SX - KD với ưu điểm tận dụng thời gian lao động
và mặt bằng sản xuất Quá trình dạy nghề, truyền nghề được diễn ra trong giađình bằng hình thức phụ việc vừa học, vừa làm, đây cũng là cách để giữ gìn
và phát huy truyền thống của nghề Hiện nay, tổ chức sản xuất tại các langnghề đã có nhiều thay đổi, đa dạng và tiến bộ hơn; bên cạnh hình thức này córất nhiều hình thức sản xuất khác được ra đời và phát triển, chủ yếu là: Hợptác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Tất cả những hìnhthức này cùng tồn tại và hoạt động hỗ trợ lẫn nhau trong điều kiện mới củanền kinh tế thịt trường
1.1.2.2 Đặc điểm nhận diện phát triển làng nghề theo hướng bền vững
Trang 36PTLN theo hướng bền vững là một nhu cầu thực tồn của làng nghề và
là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia dântộc Việc PTLN theo hướng bền vững thể hiện trên các mặt cơ bản sau:
Một là, PTLN theo hướng bền vững về kinh tế
- Phải đảm bảo hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất – kinh doanhcủa làng nghề, góp phần làm tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống người dânlàng nghề Họ có thể yên tâm lao động và sinh sống bằng nghề
PTLN theo hướng bền vững về kinh tế có ý nghĩa thiết thực đối vớiphát triển kinh tế - xã hội nói chung và người dân ở khu vực NT nói riêng.Làng nghề với quy mô nhỏ và được phân bố rộng khắp ở các vùng NT, nhưnghàng năm các làng nghề luôn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá
to lớn, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung và từng địa phươngnói riêng Sản phẩm của các làng nghề đã và đang thúc đẩy phát triển sản xuấthàng hoá và góp phần làm tăng trưởng kinh tế ở từng địa phương
- PTLN theo hướng bền vững về kinh tế phải đảm bảo yếu tố chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương theo hướng tiến bộ
PTLN theo hướng bền vững sẽ góp phần tăng tỷ trọng ngành công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần một cáchtương ứng, chuyển dịch lao động (có tính chất mùa vụ) từ sản xuất nông nghiệp
có thu nhập thấp, sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn
Làng nghề phát triển có tác động rất tích cực tới lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất, công cụ lao động cho nôngnghiệp, mà nó còn có tác dụng chuyển dịch sâu sắc cơ cấu kinh tế nông nghiệp.Chẳng hạn, ngành chế biến lương thực, thực phẩm phát triển thì yêu cầu nguyênliệu từ nông nghiệp phải nhiều và đa dạng hơn, chất lượng tốt hơn
- PTLN theo hướng bền vững về kinh tế phải dựa trên năng lực nội sinh
là chủ yếu và phải có cơ chế, chính sách làm tăng năng lực nội sinh Phải dựatrên nguồn lao động sẵn có ở từng địa phương, đặc biệt là chất lượng nguồn
Trang 37lao động trong làng nghề; phải thu hút được ngày càng nhiều người lao độngtrẻ ở địa phương tham gia vào quá trình sản xuất – kinh doanh trong làngnghề Muốn vậy, phải có chính sách hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng cơ
sở NT và làng nghề, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, nâng cao chất lượng trong việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất
Như vậy, PTLN theo hướng bền vững có vai trò quan trọng thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, NT theo hướng CNH, HĐH
Hai là, PTLN theo hướng bền vững về xã hội
- PTLN theo hướng bền vững về xã hội phải đáp ứng được yêu cầu, giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động trong làng nghề và ở địa phương
Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư NT là vấn đề cấp thiết ởViệt Nam hiện nay Vì lao động nông nghiệp chiếm khoảng 70% lao động của
cả nước, diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp, người nông dân chỉ
sử dụng khoảng 67% thời gian làm nông nghiệp Do đó, tình trạng thiếu việclàm, thu nhập không ổn định là phổ biến Chính vì vậy, vai trò đặc biệt củalàng nghề đã tạo được một khối lượng lớn công việc, thu hút nhiều lao động ở
NT PTLN theo hướng bền vững có tầm quan trọng trong giải quyết việc làm,thu nhập cho người lao động không những cho riêng làng đó mà còn cho dân
cư của làng khác đến làm thuê
- PTLN theo hướng bền vững về xã hội phải đảm bảo yêu cầu xoá đóigiảm nghèo bền vững cho người dân trong làng nghề và ở địa phương
PTLN phải tránh tình trạng một bộ phận thì giàu lên nhanh chóng, cònlại đại bộ phận bị bỏ lại phía sau, hoặc bị bần cùng hóa dẫn đến nghèo đói,tiêu cực Do đó, PTLN phải hướng tới đảm bảo sự tiến bộ và công bằng trongtương quan về lợi ích cho người dân trong làng nghề
- Phải đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống củangười dân làng nghề và ở địa phương
Trang 38Thực tế chỉ ra, việc cải thiện và nâng cao đời sống người dân chỉ có thểthực hiện được trên cơ sở ổn định việc làm và nâng cao thu nhập Ở NT, vấn
đề này được phản ánh thông qua thực thi chính sách PTLN Những vùng cólàng nghề phát triển, đều thể hiện sự văn minh hơn, dân trí cao hơn hẳn nhữngvùng thuần nông và tỷ lệ hộ giàu và khá ngày càng gia tăng, tỷ lệ hộ nghèothấp và hầu như không có hộ đói Việc thu nhập từ nghề chiếm tỷ lệ lớn trongtổng thu nhập, đã đem lại cho người dân các làng nghề một cuộc sống ổn định
và đầy đủ hơn cả về vật chất lẫn tinh thần, số hộ có nhà cao tầng, các loại đồdùng tiện nghi đắt tiền chiếm tỷ lệ khá
- PTLN theo hướng bền vững về xã hội phải đảm bảo đóng góp tíchcực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như: phát triển văn hoá, giáo dục, y
tế, chăm sóc sức khoẻ của người dân làng nghề và của địa phương
- PTLN theo hướng bền vững, góp phần tăng thu nhập của người dân,đồng thời tạo ra nguồn tích luỹ vốn ổn định cho ngân sách địa phương cũngnhư các hộ gia đình Vì vậy, nguồn vốn để xây dựng hạ tầng cơ sở NT đượchuy động từ sự đóng góp của người dân ở các phường có làng nghề, khác hẳnvới các phường không có làng nghề Những năm đổi mới vừa qua, các làngnghề ở vùng đồng bằng sông Hồng, gần như 100% đường làng, ngõ xóm đềuđược bê tông hoá Các địa phương này, đều có trường mầm non, tiểu học,trung học cơ sở khang trang và sạch sẽ Hệ thống điện, đường, trường, trạmđược cải tạo và nâng cấp Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cảithiện và từng bước nâng cao Sức mua của người dân ngày càng tăng, gópphần kích thích thị trường sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ… phát triển
Ba là, PTLN theo hướng bền vững về môi trường
Vấn đề ô nhiễm môi trường, dịch bệnh ngày càng có xu hướng gia tăngtrong các làng nghề và ở địa phương có làng nghề, làm ảnh hưởng không nhỏđến chất lượng cuộc sống của người dân Do đó, yêu cầu đặt ra đối với việcPTLN là:
Trang 39- PTLN phải đảm bảo không làm ô nhiễm, dịch bệnh, suy thoái và huỷ hoại môi trường sinh thái của địa phương.
- PTLN phải gắn liền với nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trườngtrên địa bàn
- PTLN phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
Từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá về PTLN theo hướng bền
vững Tác giả nhận thấy, PTLN theo hướng bền vững là quá trình phát triển
có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển
xã hội và bảo vệ môi trường làng nghề, đặt trong mối quan hệ tương quan với
sự phát triển chung ở hiện tại và tương lai của vùng lãnh thổ (địa phương) trên địa bàn.
1.1.3 Vai trò của làng nghề theo hướng bền vững đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
* Làng nghề đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH
Làng nghề là một phận kết cấu thành nền của kinh tế, hoạt động sảnxuất tại các làng nghề tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa khá lớn, đóng gópđáng kể cho GDP của nền kinh tế nói chung và địa phương nói riêng Các sảnphẩm làng nghề của Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới trong đó
có các thị trường lớn như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Nếu như năm 2001, xuấtkhẩu sản phẩm làng nghề cả nước đạt 6,8 triệu USD thì năm 2000 là 300 triệu
và năm 2005 là 700 triệu Ngày 31 tháng 08, phát biểu tại buổi họp báo giớithiệu “Lễ hội làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội”, ông An Văn Khanh
- Cục phó Cục chế biến thương mại nông - lâm - thủy sản và nghề muối, cho biếtkim ngạch xuất khẩu các sản phẩm lang nghề năm 2010 đạt 900 triệu USD
Bên cạnh đó, trong quá trình vận động và phát triển, làng nghề đã cóvai trò tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế NT theo hướng hiện đại,
Trang 40thể hiện sự thay đổi về chất trong kinh tế khu vực NT Đó là tăng tỷ trọngcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nôn nghiệp,chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang nghề phi nôngnghiệp có thu nhập cao hơn Hoạt động sản xuất tại các làng nghề phát triểnkhông những trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hóa mà còn gián tiếp thúc đẩy sựphát triển của các ngành dịch vụ hỗ trợ trong việc cung ứng nguyên vật liệu
và tiêu thụ sản phẩm Đời sống người dân được nâng cao, cùng với sự gắn kếtgiữa làng nghề và du lịch tạo cơ hội cho các hoạt động dịch vụ ở NT được mởrộng, thu hút nhiều lao động mang lại mức thu nhập cao cho người nông dân
* Giải quyết việc làm cho lao động NT
Ở Việt Nam dân số NT chiếm khoảng 70,4%, trong đó lao động NTchiếm 58% lao động cả nước Tuy nhiên, trước sức ép về việc tăng dân số, tácđộng của CNH và đô thị hóa kéo theo một phần lớn diện tích đất nông nghiệp
bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng kỹ thuật,khu công nghiệp, khu đô thị Bên cạnh đó, sự tiến bộ của KH-KT và cơ giớihóa trong nông nghiệp làm cho cầu lao động trong khu vực ngày càng giảmmạnh, tình trạng thất nghiệp, dư thừa lao động ở NT là một trong những vấn
đề cấp bách cần giải quyết để đảm bảo đời sống của một bộ phận lớn ngườinông dân, vì mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Thông tin trích từ kết quảtổng hợp về tình hình lao động việc làm 9 tháng năm 2019 của cục Thống kê.Tính chất kỹ thuật lao động thủ công, sử dụng nhiều lao động, hoạt độngngành nghề NT trong các làng nghề đã tạo việc làm cho một lượng lớn laođộng tại chỗ và thu hút lao động từ nhiều địa phương khác Trung bình mỗi cơ
sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc ổn định cho khoảng 27 laođộng thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo
4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ Ở những làng nghềtheo ren, rệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 - 250 lao động Sựphát triển của làng nghề còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề,