Chính sách vĩ mô của Chính Phủ: Thông qua chính sách vĩ mô của Chính Phủ, mứcthâm hụt của ngân sách nhà nước, chính sách tài khóa thuế và chi tiêu Chính Phủ mà lãisuất tín dụng trên t
Trang 1to lớn đó NHNN đã thường xuyên điều chỉnh lãi suất cho phù hợp, làm cơ sở ổn định hoạt độngcho các NHTM Chính vì vậy mà việc điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN trong thời gian qua
đã tác động nhiều mặt đến hệ thống NHTM trên cả nước
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự trên, chúng em xin nghiên cứu đề tài
“Chính sách điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà từ năm 2007 đến nay”.
Kết cấu đề án gồm 3 phần:
- Phần I: Những vấn đề chung về lãi suất
- Phần II: Chính sách điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn từ 2007 đếnnay
- Phần III: Những thành tựu đạt được và những tồn tại Từ đó đề xuất ý kiến
Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian tìm hiểu thực tế nên tiểu luận khó lòngtránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Nhóm 6 rất mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của giáoviên hướng để bài viết được hoàn thiện hơn
Trang 3I Những vấn đề chung về lãi suất
1 Khái niệm, phân loại lãi suất
Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thờigian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữucủa họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu
Phân loại lãi suất:
Căn cứ vào thời hạn tín dụng lãi suất
- Lãi suất ngắn hạn đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
- Lãi suất trung hạn đối với các khoản tín dụng trung han
- Lãi suất dài hạn đối với các khoản tín dụng dài hạn
Căn cứ vào các loại hình tín dụng
- Lãi suất chiết khấu
- Lãi suất tiền gữi
- Lãi suất liên ngân hàng
- Lãi suất tín dụng nhà nước
- Lãi suất tiêu dùng
- Lãi suất tiền vay
- Lãi suất tín dụng thương mại
Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất
- Lãi suất danh nghĩa
- Lãi suất thực
Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất
- Lãi suất ổn định
- Lãi suất thả nỗi
Căn cứ vào phương thức đo lường
- Lãi suất đơn
- Lãi suất kép
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất
Quan hệ cung cầu vốn trên thị trường: Sự tương quan giữa cung và cầu tín dụng
trong một thời kỳ nhất định chính là nhân tố quyết định đến lãi suất Khi lượng vốn cungứng trên thị trường lớn hơn nhu cầu sẽ làm cho lãi suất giảm và ngược lại, nếu số lượng vốncung ứng trên thị trường nhỏ hơn cầu tín dụng thì mức lãi suất sẽ tăng lên
Lạm phát: Sự tăng lên của lạm phát kéo theo sự mất giá của đồng tiền, do đó ảnh
hưởng đến lợi ích kinh tế của người cho vay Khi lạm phát tăng lên thì lãi suất tín dụngcũng có xu hướng tăng theo Khi lạm phát giảm thì lãi suất tín dụng cũng giảm theo
Trang 4Chính sách vĩ mô của Chính Phủ: Thông qua chính sách vĩ mô của Chính Phủ, mứcthâm hụt của ngân sách nhà nước, chính sách tài khóa ( thuế và chi tiêu Chính Phủ ) mà lãisuất tín dụng trên thị trường sẽ có xu hướng thay đổi nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định, pháttriển kinh tế - xã hội của nhà nước đã đề ra.
Rủi ro và kì hạn của tín dụng : Thời hạn cho vay, độ rủi ro lớn thì lãi suất cho vay sẽ
cao, ngược lại thời hạn cho vay ngắn, độ an toàn cao thì lãi suất cho vay ngắn
Chính sách tiền tệ của NHNN : Chính sách tiền tệ của NHNN như : DTBB, lãi suất
tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở…nhằm kiểm soát lượng cung tiền, kiểm soát lạmphát và tác động đến lãi suất nhằm những mục tiêu nhất định
Hiệu quả của hoạt động của SXKD : Hiệu quả sử dụng vốn là cơ sở xác định lợi tức
tín dụng Lãi suất tín dụng được xem là biểu hiện mức sinh lời bình quân của nền kinh tế
Ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế - xã hội khác:
- Mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian
- Tình hình kinh tế - chính trị cũng như biến động tài chính quốc tế như : các cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới, các luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước…
- Yếu tố tâm lý
3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
Trong gian đoạn gần đây, chính sách tiền tệ và lãi suất có vai trò rất quan trọng tác độngđến sự ổn định và phát triển kinh tế Hàng loạt những chính sách, giải pháp điều hành tiền tệ vàlãi suất thực hiện trong năm 2008 - khi nền kinh tế vừa đối đầu với lạm phát cao vừa vấp phải suygiảm về khủng hoảng kinh tế Bước sang năm 2010, lãi suất ngân hàng luôn là vấn đề nóng chiphối trực tiếp đến thị trường chứng khoán và Bất động sản Lãi suất ngày càng có tác động quantrọng đến kinh tế, điều đó minh chứng kinh tế Việt Nam ngày càng có chất thị trường hơn, ngàycàng hội nhập hơn, và điều hành lãi suất sẽ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc ổn định
và phát triển kinh tế
Đối với nền kinh tế Việt Nam từ khi chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lãi suất trở thànhcông cụ quản lý vĩ mô của nhà nước Lãi suất đã góp phần kiềm chế lạm phát cũng như kích thíchtăng trưởng và phát triển kinh tế trong công cuộc đổi mới của đất nước Thực tiễn đã cho thấy, donhững chính sách không phù hợp, mặc cho nền kinh tế Việt Nam có tăng trưởng nhưng vẫn đivào ngõ cụt và không có cách nào vực lên được
Thực tiễn cũng đã chứng minh với chính sách đúng đắn về lãi suất đã giải quyết được vấn
đề về lạm phát từ những năm cuối thập niên 1980 từ lạm phát 3 con số xuống còn 2 số ; riêngnăm 1993 tỉ lệ lạm phát chỉ còn một chữ số mức thấp nhất trong lịch sử điều tiết lãi suất ở ViệtNam
Ngoài ra, đối với những cá nhân, lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.Đối với các doanh nghiệp, lãi suất ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Đối vớinhà nước, lãi suất là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của quốc gia
Như vậy việc điều hành lãi suất của NHTW cần kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tếcủa Chính Phủ với thực tiễn quan hệ cung - cầu vốn của thị trường Để làm được điều này, cầnphải xây dựng và kết hợp mối quan hệ giữa hệ thống lãi suất của NHTW như lãi suất liên ngânhàng, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường mở, lãi suất tín dụng nhà nước với hệ
Trang 5thống lãi suất NH thương mại như lãi suất tiền gửi, lãi suất tín dụng thương mại, tín dụng doanhnghiệp, tín dụng tiêu dùng cá nhân
4 Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô
Lãi suất và đầu tư : lãi suất phản ánh chi phí vốn để tài trợ cho đầu tư nên việc tăng lãi
suất sẽ làm giảm số lượng đầu tư dự án có lãi Nói theo cách khách thì nhu cầu về đầu tư giảm do
tỷ lệ nghịch với lãi suất
Tuy nhiên cũng cần lưu ý việc giảm lãi suất để thúc đẩy đầu tư cũng có hậu quả trong nềnkinh tế Sau khi thị trường chứng khoán Mỹ sup sụp vào tháng 3-2000, chính phủ Mỹ đã quyếtđịnh giảm lãi suất để vượt qua thời kỳ suy sụp này Nhưng, việc giảm lãi suất thấp quá lâu từ
2001 - 2007 đã dẫn tới sự hình thành bong bóng thị trường nhà đất, nguyên nhân quan trọng gây
ra khủng hoảng tài chính toàn cầu
Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm : Khi lãi suất tăng làm gia tăng mức độ tiết kiệm Do
vậy tiết kiệm là một hàm phụ thuộc vào lãi suất: S = S ( r )
Lãi suất và lạm phát : Fisher chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát cao.
Lãi suất là một giải pháp công hiệu khá hiệu quả để kiềm chế lạm phát Tại Việt Nam trước nguy
cơ lạm phát cao trong năm 2010, Wordbank và IMF đều cho rằng Chính Phủ cần duy trì lãi suấtcao để kiềm chế lạm phát Tuy nhiên tăng lãi suất cũng có nguy cơ lớn làm sụp đổ nền kinh tế.Hai cuộc khủng hoảng của Mỹ giai đoạn 1929 và 2008 đều do tăng lãi suất quá mạnh
Lãi suất và tỷ giá : Trong điều kiện nền kinh tế mở, với nguồn vốn được tự do vận động,
nếu lãi suất trong nước tăng lên, nguồn vốn nước ngoài sẽ đổ vào đẩy cầu nội tệ lên cao, với mứccung tiền nhất định sẽ làm cho tỷ giá tăng lên ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương quốc gia.Ngược lại khi lãi suất giảm xuống, vốn trong nước sẽ ra đi làm cho cầu ngoại tệ tăng đẩy tỷ giáxuống
5 Ảnhhưởng của lãi suất do NHNN ấn định tới các NHTM
Tác động chủ yếu bởi 3 loại lãi suất sau:
Lãi suất cơ bản : là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
trong ngắn hạn Theo luật ngân hàng nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam ,
do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụthị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xuhướng biến động cung-cầu vốn Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay vớilãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản
Lãi suất tái chiết khấu : là lãi suất thực hiện trên cơ sở đối tượng là các giấy tờ có giá.
VD: Hối phiếu, lệnh phiếu, Trái phiếu , Các ngân hàng sẽ chấp nhận trả tiền cho người cầm
Trang 6(hoặc sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoản lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoảntiền của họ đối với người thanh toán ghi trên đó khi đến hạn Các ngân hàng này lại cần tiềnnhưng các giấy tờ đó chưa đến hạn thanh toán họ bán lại các khoản sẽ thu này cho NH TW để đổilấy tiền mặt và bớt lại cho NHNN một khoản, ta gọi đó là lãi suất tái chiết khấu.
Lãi suất tái cấp vốn : cũng gần giống như vậy nhưng đối tượng ở đây là các khoản cho
vay của các NHTM, và sau đó họ bán lại các khoản này co NHNN để đổi lấy lương tiền mặt
Các lãi suất này khác nhau tùy vào loại chứng từ đem ra chiết khấu, vào các khoản vaycủa NH, vào từng thời điểm theo chính sách tiền tệ của NHNN theo sự lèo lái của chính phủ mỗiquốc gia Là căn cứ để các NHTM ấn định mức lâĩ suất kinh doanh của mình và tạo khung lãisuất kinh doanh Ảnh hưởng tới lãi suất liên ngân hàng giữa các ngân hàng khi vay lẫn nhau Tácđộng tới tài khoản tiền gửi của các chủ thể kinh tế và lượng cung tiền ra thị trường của cácNHTM(khoản cho vay và đầu tư) Tăng nguồn vốn cho NHTM khi yêu cầu sử dụng lãi suất táichiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đối với NHNN
Trang 7II Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Chính sách lãi suất là một trong những công cụ chính của chính sách tiền tệ Tuỳ thuộcvào từng mục tiêu của chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế điều hành lãi suấtphù hợp, nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngânhàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế
Điều hành lãi suất là 1 hoạt động vô cùng quan trọng trong lĩnh vực quản lý thị trường tàichính (TTTC) của NHNN Điều này được thể hiện rõ nét trong thời điểm vừa qua và cả hiện nay,khi mà nền kinh tế đi từ lạm phát sang giảm phát
Chúng ta đều biết cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007 bắt nguồn từ Mỹ vớinguyên nhân chủ yếu là bong bóng thị trường nhà đất với việc các ngân hàng nước này quá dễ dãikhi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hợp đồng cho vay không đạt tiêuchuẩn Nó gây ra sự đổ vỡ của hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạngsụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ ở quy mô lớn trên thế giới Là hậu quả của chính sáchkhông kiểm soát chặt tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Mỹ
Việt Nam cũng không tránh khỏi cơn bão khủng hoảng đó.Từ cuối năm 2008 nền kinh tếViệt Nam đã bị tác động Chỉ số tăng trưởng các tháng cuối năm giảm, thị trường chứng khoánliên tục giảm điểm và giảm mạnh từ cuối tháng 8 năm 2008 do thị trường đã có một khoảng thờigian trước sụt giảm cộng thêm với tâm lý e ngại, các nhà đầu tư ngoại đẩy mạnh bán ròng khiếnthị trường kết thúc năm với sự sụt giảm gần 70% giá trị thị trường
Vậy trong giai đoạn khó khăn đó, NHNN đã điều hành chính sách lãi suất như thế nào giúp “con tàu” kinh tế Việt Nam vượt qua sóng gió?
1 Chính sách lãi suất của NHNN năm 2007
Từ cuối năm 2006 đến giữa đầu năm 2007, nền kinh tế VN nổi lên với nhiều sự kiện, chỉtiêu đầy hứa hẹn Khi VN chính thức là thành viên của WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vàkiều hối vào VN tăng đột biến (năm 2007 đã tới 20 tỉ USD) Chỉ số giá cả (CPI) tăng lên đến mức
kỷ lục 12,63% (so với tháng 12/2006) Có hàng loạt nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng giá, tìnhtrạng lạm phát tăng ngoài mức dự đoán Tuy nhiên, lạm phát năm 2007 có nguyên nhân chính từnguồn cung tiền tệ quá lớn
Do đó, trong năm 2007, NHNN điều hành chính sách tiền tệ theo hướng "thắt chặt" tiền tệ
để rút mạnh tiền từ lưu thông về, giảm tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng nhằmkiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Để tránh tác động không thuận lợi đối với tăng trưởng kinh tế , giữ ổn định các mức lãisuất chính thức do NHNN công bố : lãi suất cơ bản ổn định từ năm 2005 là 8,25%/năm, lãi suấttái cấp vốn là 6,5%/năm và lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm, nhằm phát tín hiệu ổn định lãi suấtthị trường để hạn chế tác động tăng lãi suất cho vay và cộng hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ
đó góp phần kiểm soát lạm phát
Đồng thời, trong điều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chínhthức thực hiện bỏ qui định về trần lãi suất tiền gửi USD của các pháp nhân tại TCTD để hoàntoàn tự do hóa lãi suất thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế
Từ những quyết định trên của NHNN thì diễn biến của lãi suất trên thị trường cũng biếnđộng theo Cụ thể là:
Trang 8- Lãi suất huy động VND: Lãi suất huy động có biến động tăng, giảm nhẹ tại một sốthời điểm do tác động của yếu tố cung - cầu vốn, nhưng mặt bằng lãi suất hiện nay so vớicuối năm 2006 thì tương đối ổn định; lãi suất cho vay ít biến động Lãi suất huy động phổbiến của nhóm NHTM nhà nước kỳ hạn 3 tháng là 7,2%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 7,56%/năm,
kỳ hạn 12 tháng là 8,28%/năm; lãi suất huy động của nhóm NHTM cổ phần kỳ hạn 3 tháng là8%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 8,5%/năm, kỳ hạn 12 tháng là 9%/năm
- Lãi suất huy động USD: Lãi suất huy động tăng khoảng 0,1-0,3%/năm so với cuốinăm 2006, chủ yếu do nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ tăng mạnh và từ tháng 3/2007, NHNN
bỏ quy định trần lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD; lãi suất cho vay ít biến động.lãi suất huy động USD phổ biến của nhóm NHTM nhà nước kỳ hạn 3 tháng là 4,2%/năm, 6tháng là 4,5%/năm, 12 tháng là 4,85%/năm; lãi suất huy động của nhóm NHTM cổ phần kỳhạn 3 tháng là 4,6%/năm, 6 tháng là 4,8%/năm, 12 tháng là 5,1%/năm
- Lãi suất cho vay VND và USD tương đối ổn định, lãi suất cho vay VND ngắn hạn phổbiến ở mức 11,48%-13,8%/năm, trung dài hạn ở mức 11,8-16,2%/năm Lãi suất cho vay USD
từ đầu năm đến nay vẫn giữ ở mức 6%-7%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 6,5%-8%/nămđối với cho vay trung, dài hạn
- Lãi suất thị trường liên ngân hàng : 10 tháng đầu năm 2007, lãi suất thị trường nội tệliên ngân hàng có xu hướng giảm từ 1-2,3%/năm so với cuối năm 2006, do vốn khả dụngtoàn hệ thống dư thừa Tuần đầu của nửa cuối tháng 11/2007, lãi suất thị trường nội tệ liênngân hàng tăng đột biến ở một vài thời điểm, có thời điểm lãi suất thị trường liên ngân hàngqua đêm ở mức 10-12,6%, do vốn khả dụng của một số NHTM Nhà nước giảm với nguyênnhân chủ yếu là các tổ chức kinh tế và KBNN rút tiền gửi thanh toán Để ổn định thị trườngnội tệ liên ngân hàng và tránh tác động làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường, NHNN đã thựchiện các phiên chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7 ngày trên nghiệp vụ thị trường mở để hỗtrợ cho các TCTD
Trong năm 2007, tuy lượng ngoại tệ trong dân cư dồi dào có có lượng vốn nước ngoài đầu
tư và kiều hối, nhưng huy động vốn từ dân cư bằng ngoại tệ giảm Do tỉ giá ngoại tệ thời gian quatương đối ổn định trong khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ luôn thấp hơn VNĐ nên người dân có xuhướng chuyển đổi từ ngoại tệ sang VNĐ để gửi tiết kiệm Thời gian này, nhiều NH đang lo lắng
vì sự khan hiếm vốn ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu vay của các DN XNK vào cuối năm
Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vài ngày giữa tháng11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất trong năm ổn định: lãi suất huy động và cho vay củaTCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so với cuối năm 2006, tạo điều kiện choviệc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng kinh tế
2 Sự điều chỉnh phù hợp với tình hình biến động kinh tế thế giới trong năm 2008
Năm 2008 là năm có nhiều khó khăn và thử thách đối với hoạt động của ngành Ngânhàng Lạm phát tăng cao và không có dấu hiệu dừng và chia làm 2 giai đoạn:
a 6 tháng đầu năm 2008
Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu, CPI của Việt Namtrong 6 tháng tăng bình quân là 15,03%, mức thâm hụt cán cân thương mại ở mức kỷ lục (hơn14% GDP)
Trước tình hình đó, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ là mục tiêu chủ yếu của NHNN.NHNN đã đưa ra quyết định về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và mở rộng diện tiền gửi phải dự
Trang 9trữ bắt buộc ở tất cả các kỳ hạn (trước đây chỉ có tiền gửi dưới 24 tháng phải dự trữ bắt buộc) vàsau hơn hai năm giữ ổn định ở mức 8,25%/năm, lãi suất cơ bản (LSCB) đã được NHNN điềuchỉnh tăng lên mức 8,75% từ 01/02/2008 và nhảy vọt lên mức 12% từ 19/05/08 nhằm rút bớt tiền
từ lưu thông về, chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư
nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm của Ngân hàng Nhà nước đã gắn liền với
sự căng thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại Để bù đắp thiếu hụt thanh khoản,cuộc chạy đua bùng phát trong tháng 5 và tạo những đỉnh điểm nóng sốt trong tháng 6 Trên thịtrường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục “treo” tới 43%/năm; nhiều thành viên đồng loạtđẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên 19%/năm, cá biệt có trường hợp áp tới 20%/năm.Nếu tình trạng này cứ tiếp tục kéo dài, khả năng đổ vỡ hệ thống NH có thể xảy ra
Trước diễn biến thị trường như vậy, NHNN đã kịp thời tăng tính thanh khoản cho thịtrường bằng cách bơm mạnh tiền qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tăng cường thanh tra,giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM, thắt chặt điều kiện mở chi nhánh
Tuy nhiên, các biện pháp chính sách trên chưa ngăn chặn được đà tăng lãi suất huy động
và mở rộng tín dụng của các NHTM, do vậy buộc NHNN phải quy định trần lãi suất huy độngtiền gửi của các NHTM không được vượt quá 12% ( Công điện số 02/CĐ – NHNN ngày26/02/2008)
Giải pháp trên đã có tác động nhanh chóng, tích cực “giảm đà tăng lãi suất huy động củacác NHTM” chỉ trong vài ngày
Trong cuộc đua huy động VNĐ, ngay khi bị NHNN khống chế mức lãi suất trần12%/năm cũng như cấm các hình thức khuyến mại, tặng quà đi kèm, một số ngân hàng đã tậptrung vào huy động USD bằng việc tung ra lãi suất huy động khá cao Điển hình là Ngân hàngSài Gòn – Hà Nội (SHB) tăng lãi suất huy động USD lên mức cao nhất trên thị trường hiện nay
Cụ thể: Lãi suất huy động USD kỳ hạn 01 tháng là 6,3%/năm, kỳ hạn 02 tháng là 6,35%/năm, kỳhạn 03 tháng và 06 tháng là 6,45%,/năm; riêng kỳ hạn 12 có mức cao nhất là 6,47%/năm
Bước tiếp theo để tiếp tục tạo sự bình ổn thị trường bền vững , NHNN thực hiện cơ chếđiều hành lãi suất mới, theo đó quy định các NHTM cho vay nền kinh tế không vượt quá 150%lãi suất cơ bản và mức lãi suất cơ bản được điều chỉnh từ mức 12%/năm lên 14%/năm ( Quyếtđịnh số 16/2008/QĐ – NHNN ) NHNN liên tục tăng LSCB trong 6 tháng đầu năm, đỉnh điểm làvào tháng 6/2008 lên đến 14%
Trang 10Kết quả là lạm phát đã bị chặn đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương25,2%/năm) trong tháng 5 xuống các mức thấp hơn trong quý và thậm chí âm trong các thángcuối năm
b 6 tháng cuối năm 2008
Bước sang tháng 7 năm 2008, tình hình kinh tế thế giới diễn ra theo chiều hướng bất ổn rõnét: Từ khủng hoảng thị trường nhà đất của Mỹ chuyển sang khủng hoảng tài chính mang tínhtoàn cầu, suy thoái kinh tế đã xảy ra ở hầu hết nền kinh tế chủ chốt, như Nhật, Mỹ, Anh và nhiềunước thuộc khu vực Euro Zone ; giá dầu và giá lương thực giảm mạnh kéo theo giá các mặthàng tiêu dùng khác giảm theo
Kinh tế thế giới đang từ xu hướng suy thoái kinh tế gắn lạm phát sang suy thoái kinh tếgắn với giảm phát, đang là nỗi lo của các quốc gia hiện nay Để cứu nguy cho tình hình này, hầuhết các nền kinh tế chủ chốt đã thực hiện CSTT và chính sách tài khóa nới lỏng nhằm tăng tínhthanh khoản cho thị trường, khuyến khích các NHTM mở rộng cho vay, kích thích đầu tư Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy, mặc dù những tháng cuối năm 2008 mức độ ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam, nhất là thị trường tài chínhViệt Nam còn nhỏ, song để ngăn chặn ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lựclạm phát vẫn diễn ra ở Việt Nam đến tận tháng 9, NHNN đã phải tiếp tục áp dụng một số biệnpháp hỗ trợ thị trường như nâng lãi suất tín phiếu bắt buộc, trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộcbằng VND…
Ngược lại, từ cuối tháng 7, cùng với cơ chế cho vay mới, sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhànước với nguồn vốn khả dụng của hệ thống tăng mạnh lên, lãi suất trên thị trường bắt đầu có đợtthoái trào
Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát, bắt đầu từ tháng 10, các loại lãi suấtchỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp Lãi suất cơ bản từ mức 14%/nămsau 4 lần hạ, hiện xuống còn 8,5%, tức là lãi suất cho vay tối đa từ 21%/năm về còn 12,75%/năm;
từ đỉnh điểm trên 19%/năm, lãi suất huy động VND rút về quanh mốc 8%/năm; lãi suất tái chiếtkhấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng NHNN đã có sự chỉ đạo chuyển hướng chiếnlược từ điều hành chính sách tiền tệ “ thắt chặt “ chống lạm phát sang chính sách tiền tệ “ nớilỏng “ với mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế
Chính sách điều hành lãi suất mà NHNN đưa ra đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thịtrường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuốinăm 2008; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanhnghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng Khắc phục được tình trạng cạnh tranh khônglành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngân hàng thương mại Cùng với diễn biến lạm phát có
xu hướng giảm, tỷ lệ lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89% kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt độngcủa các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãisuất trong năm 2009 tương đối ổn định
Nguyên nhân làm cho lãi suất năm 2008 tăng cao:
- Cung tiền đồng trên thị trường cạn kiệt trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế cũngnhư vay các nhân tăng cao, là nguyên nhân các ngân hàng bước vào cuộc đua lãi suất
- Tỷ lệ DTBB tăng thêm 1%
- NHNN tiếp tục thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền đồng trong lưu thông nhằmtriệt để kiểm soát lạm phát từ đầu năm
Trang 11 Vì vậy nên các NHTM phải tăng lãi suất để đẩy mạnh huy động, nhằm đảm bảo tính thanhkhoản.
3 Tình hình điều chỉnh chính sách lãi suất của NHNN năm 2009
Năm 2009 kinh tế thế giới khủng hoảng nghiêm trọng, vì vậy mục tiêu hàng đầu củachính phủ cũng như ngân hàng nhà nước là dẫn dắt kinh tế tăng trưởng và tránh khỏi suy thoái
Đứng trước tình tình đó 6 tháng đầu năm 2009, NHNN đã có nhiều biện pháp liên quanđến việc chỉ đạo các loại lãi suất để kích thích tăng trưởng kinh tế Cụ thể: Áp dụng lãi suất chovay thỏa thuận đối với cho vay tiêu dùng nhằm kích thích chi tiêu trong nền kinh tế Ngày23/1/2009, NHNN có thông tư số 01, hướng dẫn về lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đốivới cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sửdụng thẻ tín dụng
Từ tháng 2/2009, NHNN đã duy trì ổn định mức lãi suất hợp lý, từ đó giảm mặt bằng lãisuất cho vay Theo đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam được điều chỉnh giảm từ 8,5%/nămxuống 7%/năm; lãi suất tái cấp vốn giảm từ 9,5%/năm xuống 7%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ7,5%/năm xuống còn 5%/năm
Theo thống kê từ NHNN, đến cuối tháng 6/2009, lãi suất huy động VNĐ bình quân đầuvào của các NHTM là 8,2%/năm; lãi suất cho vay bình quân khoảng 10,04%/năm ( so với cuốinăm 2008, lãi suất huy động tăng 1%/năm, lãi suất cho vay giảm 3,5%/năm)
Lãi suất thị trường liên ngân hàng tương đối ổn định từ đầu năm đến giữa khoảng tháng6/2009 ; lãi suất huy động USD tối đa là 1,5%/năm, cho vay là 3 - 5%/năm (giảm 2-3%/năm sovới cuối năm 2008); lãi suất cơ bản và tái cấp vốn của NHNN là 7%/năm Mặt bằng lãi suất từtháng 4 đến đã trở về thời kỳ ổn định
Qua những biện pháp điều chỉnh lãi suất kết hợp với các chính sách khác của NHNN ,tình hình kinh tế vĩ mô trong nước 6 tháng đầu năm có chuyển biến tích cực (GDP đạt 3,9%; chỉ
số giá tiêu dùng tăng 2,68%; nhập siêu 2,1 tỷ USD)
Thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng ổn định, đảm bảo an toàn, cung - cầu vốnkhông có biến động lớn, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) đảm bảo khả năng thanhtoán
Tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuậnlợi Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanhnghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ Mặt khác, do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất chovay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp khôngmuốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến tình hình cung cầu ngoại
tệ trở nên căng thẳng, gây áp lực tăng tỉ giá khiến nguy cơ giá cả nhập khẩu tăng Kết quả là CPItăng và lạm phát tăng, đồng thời cũng làm cho các doanh nghiệp nhập khẩu gặp nhiều khó khăntrong việc tìm nguồn ngoại tệ để thanh toán