Bài dự thi quan hệ Việt Nam Lào (Bài hoàn chỉnh Chu Quốc Minh có ảnh)Bài dự thi quan hệ Việt Nam Lào (Bài hoàn chỉnh Chu Quốc Minh có ảnh)Bài dự thi quan hệ Việt Nam Lào (Bài hoàn chỉnh Chu Quốc Minh có ảnh)Bài dự thi quan hệ Việt Nam Lào (Bài hoàn chỉnh Chu Quốc Minh có ảnh)Bài dự thi quan hệ Việt Nam Lào (Bài hoàn chỉnh Chu Quốc Minh có ảnh)Bài dự thi quan hệ Việt Nam Lào (Bài hoàn chỉnh Chu Quốc Minh có ảnh)
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN NGUYÊN BÍNH
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ AN BÌNH
***
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT
VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM
Họ và tên: Chu Quốc Minh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THCS An Bình, huyện Nguyên Bính
Năm …
Trang 2CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
Trang 3BÀI DỰ THI TÌM HIỂU:
“LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM”
LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sựgắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu
-tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.
Hình 1: Hữu nghị Việt Nam - Lào
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệtruyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùngđồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo haiĐảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộngsản Việt Nam Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thửthách khắc nghiệt, đầy hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân
tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa
tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc,trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa Đối với nhân dân hai nước Việt Nam, Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ
Trang 4sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm
đến chừng nào cũng không thể chia tách được
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhậpquốc tế mà nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những xung lực mới, đồngthời đặt ra những yêu cầu khách quan về gia tăng mối quan hệ đặc biệt giữa ViệtNam - Lào; Lào - Việt Nam với những phương thức mới và những nội dung mới
Nhằm không ngừng chăm lo bảo vệ, vun đắp và phát huy vai trò của mốiquan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong hiện tại và tương lai vì sựtrường tồn và phát triển phồn vinh của hai dân tộc, hai Bộ Chính trị Đảng Cộng sảnViệt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã hợp tác thực hiện dự án nghiêncứu, biên soạn “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam (1930-2007)” Sau hơn 4 năm tiến hành, các sản phẩm của dự án bao gồm: Sản phẩm
chính “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007); Bộ
biên niên lịch sử; Bộ Văn kiện; Bộ Hồi ký và Bộ phim tài liệu Bản hùng ca Việt Lào” đã hoàn thành và đã được xuất bản phục vụ nhân dân hai nước và độc giả trênthế giới
-Thực hiện chủ trương của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Lào vềviệc tuyên truyền rộng rãi các kết quả của dự án, thiết thực chào mừng năm “Đoànkết hữu nghị Việt Nam - Lào 2012”, Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sảnViệt Nam phối hợp với Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tiến hành
biên soạn cuốn: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930
-2007) (Tài liệu tuyên truyền).Cuốn sách được biên soạn dựa trên các sản phẩm dự
án Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 -2007) do Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2011
1- NHỮNG NHÂN TỐ HÌNH THÀNH, QUYẾT ĐỊNH MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam bắt nguồn từ các điềukiện tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử và truyền thống chống giặcngoại xâm của nhân dân hai nước nhưng người đặt nền móng, quyết định mối quan
hệ đặc biệt này chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
- Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào đều nằm ở trung tâm bán đảo
Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Dãy Trường Sơn có thể ví như cộtsống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào
- Với địa hình tự nhiên này, về đường bộ cả Việt Nam và Lào đều theo trụcBắc-Nam Còn về đường biển, Lào chỉ có thể thông thương qua một số tỉnh miền
Trang 5Trung Việt Nam Với điều kiện tự nhiên như thế, Việt Nam và Lào vừa có nhiềuđiểm tương đồng nhưng cũng có những nét khác biệt.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, đểhợp tác cùng phát triển, hai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềmnăng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thịtrường cũng như sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý Ngoài ra, Việt Nam và Lào là những nước loại “vừa” và “tương đối nhỏ” sống cạnhnhau, lại nằm kề con đường giao thông hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền ĐôngBắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cho nên chiếm vị tríđịa- chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á
Mặt khác, bờ biển Việt Nam tương đối dài nên việc bố trí chiến lược gặpkhông ít khó khăn Trong khi đó, dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa ViệtNam và Lào, được ví như bức tường thành hiểm yếu để hai nước tựa lưng vàonhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bànthen chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam vàLào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
- Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đadân tộc, đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia củahai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khuvực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm này đã chiphối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia Việt Nam-Lào Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam và cưdân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã dẫn đến việc cùng khai thác và chia
sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thủy Điều này, thêm một lần nữakhẳng định các quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính là những điều kiệnlịch sử và xã hội đầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ và sự giao thoa văn hoánhiều tầng nấc giữa cư dân hai nước
- Về nhân tố văn hoá và lịch sử, do quan hệ gần gũi và lâu đời nên nhân dânhai nước Việt-Lào, đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khátường tận và sự giao thương ở đây cũng khá nhộn nhịp Trong quan hệ giao thươngvới Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốnhướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn bán vào sâu lụcđịa
Sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắccủa triết lý nhân sinh người Việt cũng như người Lào Chính trong cuộc sống chan
Trang 6hoà này, nhân dân hai nước Việt Nam- Lào đã ngày càng hiểu nhau và bày tỏnhững tình cảm rất đổi chân thành với nhau.
- Về nhân tố lịch sử, theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam thì mốiquan hệ Việt-Lào bắt đầu từ những năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý.Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hoà bình đầu tiên về biêngiới quốc gia đã được xác lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng
Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418- 1427),nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân dânLào ở vùng biên giới Điều đáng nói là bất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế độ phongkiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nướcvẫn tiếp tục được nuôi dưỡng
- Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử, truyềnthống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, nhất là tronghai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã làm cho mối quan hệ Việt Nam - Lào,Lào-Việt Nam càng gắn bó keo sơn
Từ khi Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –Lênin để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào theo conđường cách mạng vô sản, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt Nam và Làongày càng hoà quyện vào nhau, nương tựa lẫn nhau, mở ra một trang mới trongquan hệ giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc
và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định mối quan hệ đặc biệtViệt Nam-Lào, Lào- Việt Nam
Và chính Người đã cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nướcdày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và ĐảngCộng sản Việt Nam
- Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúcnào cũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trongsáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến
bộ xã hội như mối quan hệ Việt - Lào
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặcbiệt giữa Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn còn không ítthách thức Vì vậy, việc duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt trongsáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam –
Trang 7Lào là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng, chính quyền và nhân dân hai nướcViệt Nam- Lào, Lào-Việt Nam
2- TÌNH CẢM GẮN BÓ KEO SƠN GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT LÀO TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY.
NAM-Một trong những nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai Đảng, hai Nhà nước và haidân tộc trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xâydựng đất nước hiện nay
Lào-Trước thế kỷ XX, cả hai dân tộc Việt-Lào đều trải qua hàng nghìn nămkhông ngừng chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc để khẳng định sự tồn tạicủa mình với tư cách một dân tộc, một quốc gia độc lập
Từ đầu thế kỷ XX, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Việt Nam Lào đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp, mặc dù chỉ dừng lại ở tính chất
-tự phát Từ khi được chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường,đặc biệt khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập,lãnh đạo, tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục
Những năm 1930 - 1939, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào
đã hỗ trợ lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗinước; tiếp đến là giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giànhchính quyền thắng lợi (1939 - 1945) và liên minh Việt Nam-Lào, Lào-Việt Namchiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975)
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới, từ liên minhchiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lậpchủ quyền Đây là thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạngLào trở thành đảng cầm quyền ở mỗi nước Cả hai nước càng có điều kiện phát huytruyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâmlược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện vềchính trị, quốc phòng -an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục
Ngày 18/7/1977, hai nước chính thức ký kết các hiệp ước: “Hiệp ước hữunghị và hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủNhân dân Lào”, “Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa Xãhội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” và “Tuyên bốchung” đã tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước Hiệp ước hữu
Trang 8nghị và hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủNhân dân Lào là hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chínhtrị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan
hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trongquan hệ giữa hai nước
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng, hai Nhà nước đã cử trên 30đoàn từ cấp trung ương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm vềgiữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, dân vận.Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giớikết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiềusâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào- Việt Nam quý báu và thiêng liêng
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
“Thương nhau mấy núi cũng trèo/
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/
Việt - Lào, hai nước chúng ta/
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
Hình 2: Cửa khẩu Lao Bảo - Quảng Trị
Trang 9Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: “Trong lịch sử cách mạngthế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa
ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài vàtoàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam”; “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, songtình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”
Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnhSavannakhet, Salavan của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng khôngngoài truyền thống quý báu đó
Quảng Trị có 206 km đường biên giới giáp với 2 tỉnh bạn Savanannakhet vàSalavan Đặc biệt, Quảng Trị và Savannakhet đều có đường 9- xuyên Á đi qua Từ
xa xưa, các bộ tộc Lào và dân tộc Bru-Vân Kiều tỉnh Quảng Trị sinh sống ở hai bêntriền núi dãy Trường Sơn, đã có nhiều nét tương đồng về phong tục tập quán, tiếngnói và thường xuyên qua lại làm ăn, trao đổi, buôn bán, thăm viếng lẫn nhau, chunglòng, chung sức đánh kẻ thù
Trong gian khổ, hy sinh càng làm cho tình đoàn kết chiến đấu giữa QuảngTrị và hai tỉnh bạn Lào càng keo sơn, gắn bó Với tinh thần “hạt muối cắn đôi, cọngrau bẻ nửa”, quân dân Quảng Trị cùng bạn chiến đấu anh dũng, kiên cường, gópphần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, nhất là từ khi tỉnh nhà lập lại,mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Quảng Trị vẫn không ngừng tăng cường sự hợptác, giúp đỡ hai tỉnh bạn trên nhiều lĩnh vực; đã cùng hợp tác với bạn đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng như giao thông, trường học, bệnh viện; đào tạo nhân lực trênlĩnh vực giáo dục, y tế; cung cấp con giống, cây trồng, đầu tư khoa học kỹ thuật
Cùng chung tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây, hai bên hợp tác xây dựng,nâng cấp cửa khẩu quốc tế, mở rộng giao thương, buôn bán Trên nhiều cấp độ,Quảng Trị đã có những hoạt động trao đổi kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn với haitỉnh bạn, góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển lý luận về con đường đi lênchủ nghĩa xã hội của mỗi nước
Hai tỉnh bạn cũng tạo điều kiện, giúp đỡ Quảng Trị trong việc tìm kiếm, cấtbốc hài cốt liệt sĩ Nhân dân ba tỉnh ngày càng thắt chặt mối quan hệ, qua lại làm
ăn, thăm viếng, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, khó khăn, cùng đấu tranh giữ vững anninh biên giới Trải qua bao thử thách khắc nghiệt, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệtcủa hai nước, hai dân tộc Việt-Lào nói chung, giữa Quảng Trị với Savannakhet vàSalavan nói riêng càng được vun đắp, ngời sáng
Trang 103- VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAYXỎN PHÔMVIHẢN, CHỦ TỊCH XUPHANUVONG VÀ CÁC LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO- VIỆT NAM.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào –Việt Nam là quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có
về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấutranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựngnền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nướcdày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ĐảngNhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêunước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tựmình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiệnchân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lêninvào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dântộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản
Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quantâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung màcòn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (1) Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốctrực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của HộiViệt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiệnthuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sátcánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam– Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu,Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực
tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủnghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông
Trang 11Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (2) càngcho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạngLào Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tạiViêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Namđược tổ chức
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dươngcủa Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chínhtrị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nướcĐông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt ViệtNam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cáchmạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào
Ngày 3 -2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sánglapạ đã ra đời - tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là sự mở đầunhững trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, Ban
Chấp hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập.
Sự ra đời của Xứ uỷ Ai Lao là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêunước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên thực tế vai trò lãnh đạo củaĐảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát triển mớitrong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam
Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản ĐôngDương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng vàphong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường sự quan hệ mật thiết,nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranhgiành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữa khẳng định: quátrình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạngViệt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạngLào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sản ĐôngDương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là ngườiCampuchia Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào,Lào-Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệtđó
Trang 12Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ ChíMinh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân.Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việcchọn lựa con đường làm cách mạng Ngày 3-10-1945, tại cuộc mít tinh của hàngvạn nhân dân tỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham gia
chính phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ
lời nói tốt đẹp của Hoàng thân về quan hệ Lào - Việt đã tác động lớn lao đến sựhưởng ứng, tham gia cách mạng của các tầng lớp nhân dân Lào, càng tạo thêm chấtkeo gắn kết tình cảm của nhân dân Lào với Việt kiều cũng như với Việt Nam
Chính phủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) vừa được thành lập cũng đã chủ trương: “Nhân
dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhân dân Việt Nam
tuyên bố với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt tay nhau để kiến
tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt - Lào
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào hơn lúcnào hết, chỉ mong muốn được sống trong hòa bình, tiếp tục hợp tác, cùng nhau bảo
vệ nền độc lập và xây dựng lại đất nước nhưng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thựcdân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổ súng đánh chiếm thành phố Sài Gòn.Tiếp đó, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Nam Trung Bộ của ViệtNam, sang Campuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương
Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam – Lào Campuchia, ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
-Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt trận Việt- Miên-
Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường công tác vũ trangtuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt trận khángPháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê, đặng baovây lại quân Pháp ở nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào” (6)
Đảng và Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coinhiệm vụ giúp cách mạng Lào như mình tự giúp mình để cùng phối hợp chiến đấu,
Trang 13đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảo ĐôngDương Thấm nhuần quan điểm quốc tế cao cả của Đảng Lao động Việt Nam vàcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậu phương sẵnsàng chia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều người con yêudấu của mình sang phối hợp cùng bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triểnlực lượng kháng chiến
Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dântộc, thống nhất quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm
1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Sở dĩ cách mạng
Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cáchmạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấugiữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thànhnhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chíCay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và
Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho
cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp
mình”, coi nhân dân bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng của bạn là
trách nhiệm của mình, trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, các thế hệ cán bộ,chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ởLào luôn kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địch càn quét lấnchiếm, vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyền kháng chiến,xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang, phát triểnchiến tranh du kích trên khắp các khu vực Thượng, Trung và Hạ Lào Đồng thời,thực tiễn chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào cũng là cơ hội bồi dưỡng,rèn luyện rất bổ ích về các mặt quân sự, chính trị, nhất là nâng cao thêm tinh thần
Trang 14đoàn kết quốc tế cho cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia ViệtNam.
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: từ liên minhchiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lậpchủ quyền Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩynhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Do đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và Lào đều có cơ hội vàđiều kiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu khoa họccông nghệ của thế giới để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đấtnước…
Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào
và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộquân đội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biêngiới quốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng cơ hội này, bọn phản động trongnước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt động nổi dậy ởnhiều nơi Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâm hàng đầu
về an ninh chính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực của Việt Nam Ngày
30 tháng 4 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị
quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới,
xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trongnhững nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam, cũng là vì lợiích thiết thân của cách mạng Việt Nam
Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểu cao cấpĐảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm VănĐồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến vềcác vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đềnhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dânhai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dântộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngày 18
tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và
hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung
tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu
Trang 15dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tìnhđoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hiệp ước có giátrị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếu một trong haibên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là một năm trướckhi hết hạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và phát triển mối quan
hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừng tăng cường tình đoànkết và tin cậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên tinh
thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn
trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước Việc ký kết
hiệp ước đó còn có ý nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinh thần quốc tế trong sánggiữa hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnhhưởng tích cực trong khu vực
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải
quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêunước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực về chínhsách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nướcCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986, lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trang 16Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị:
“Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diệnvới Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hội đàm lần này1, các
bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cần kiểm điểm, rútkinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực, cácquan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệtgiữa ta với Lào”2 Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạngLào cũng khẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụchiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa
ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchia mới trở thành nhiệm vụ chiến lược
số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn đề sống còncủa mỗi nước”3 Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Làoghi rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhândân hiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phươngchâm nguyên tắc của mối quan hệ trong giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tưtưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủ quan, chống mọi hiệntượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi”4
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đãtrở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước Trong
đó có sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệhợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòaDân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bíthư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây là chuyến thămLào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đạihội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đềquan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết cácvấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của quan hệ hợp tác chính trị
Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững định
hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhândân Cách mạng Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Làothăm chính thức Việt Nam Hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một tăng
1
2
3
4
Trang 17cường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam –Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữahai nước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốctế.
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trungương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệgiữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩađều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu vớinội dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên
soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007 nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam
– Lào, Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếptục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lênmột tầm cao mới
Tháng 6 năm 2011, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đãthăm hữu nghị chính thức CHDCND Lào, tiếp tục khẳng định mong muốn và quyếttâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong việc gìn giữ, phát huy quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào như một tài sản chung vô giá của hai dân tộc Cũngtrong năm 2011, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo Quốc hội và đại biểuQuốc hội của hai nước, phối hợp tổ chức thành công nhiều hoạt động giao lưu giữacác cơ quan của hai Quốc hội như: Hội thảo giao lưu giữa Ủy ban Đối ngoại Quốchội Việt Nam - Lào tại Hội An (Việt Nam) vào tháng 6/2011; Hội thảo giữa ba Ủyban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam - Lào - Campuchia tại Chămpaxắc (Lào) vàotháng 7/2011; Hội thảo giao lưu giữa Văn phòng Quốc hội Việt Nam - Lào tạiSavẳnnakhệt (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giữa hai Ủy ban Văn hóa, Giáo dục,Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của hai Quốc hội tháng 2/2011 tại Lào, qua đótăng cường hiểu biết, tin cậy và quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Quốc hội nóiriêng, hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào nói chung
Tháng 8/2011,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly xaynhasỏn dẫnđầu Ðoàn đại biểu cấp cao Lào sang thăm Việt Nam tiếp tục góp phần thắt chặt hơnnữa mối quan hệ truyền thống, hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp táctoàn diện giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam pháttriển lên tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, vì hòabình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trang 18Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"
Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savẳnakhệt,Xalavăn của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyềnthống quý báu đó
Phát huy truyền thống trong chiến đấu, ngày nay trong sự nghiệp xây dựngđất nước với lợi thế Quảng Trị có chung 206 km đường biên giới, chính quyền 3tỉnh Quảng Trị, Savẳnnakhệt và Xalavăn thường xuyên phối hợp tổ chức các cuộchội thảo quảng bá đầu tư, cải cách thủ tục hành chính tại Cửa Khẩu Quốc tế LaoBảo, Đensavẳn và Cửa khẩu Quốc gia La Lay nhằm khuyến khích giao lưu pháttriển kinh tế, thương mại, du lịch và tạo điều kiện bà con 2 bên biên giới qua lạithăm thân, trao đổi hàng hoá, tham quan, du lịch Quan hệ buôn bán giữa cácdoanh nghiệp và các tổ chức kinh tế của Quảng Trị và các tỉnh biên giới của Làotừng bước được xác lập và bước đầu đạt kết quả tốt Các Công ty du lịch của 3 tỉnhQuảng Trị - Việt Nam, Savannakhẹt - Lào và Mụcđahản - Thái Lan đã có cácchương trình hợp tác đưa đón khách tham quan du lịch theo tour " Một ngày ăncơm 3 nước" ngày càng thu hút nhiều khác trong và ngoài nước
Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các lực lượng Công an, Quân
sự, Bộ đội biên phòng, Hải quan tỉnh Quảng Trị và tỉnh Savẳnnakhệt, tỉnh Xalavănđịnh kỳ có các cuộc gặp gỡ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Công an, Biênphòng các huyện biên giới cũng thường xuyên phối hợp với nhau trong công tácnắm tình hình, điều tra cơ bản bổ sung các tuyến điểm, địa bàn trọng điểm để hoànchỉnh kế hoạch đấu tranh phòng chống tội phạm Nhờ vậy, đường biên, cột mốcgiữa các tỉnh luôn được bảo vệ nguyên trạng; tình hình an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội trong khu vực biên giới của hai bên luôn được giữ vững Vừa qua, tạiCửa khẩu Quốc tế Lao Bảo - Đensavẳn, tỉnh Quảng Trị là tỉnh đầu tiên trong 13
Trang 19tỉnh, thành phố có chung đường biên giới với nước bạn Lào được triển khai xâydựng thí điểm và tỉnh Savănnakhệt (Lào) khởi công xây dựng cột mốc Quốc giớiViệt Nam - Lào đoạn qua tỉnh Quảng Trị và Savănnakhet (mốc 605-1 và 605-2) Đây là cặp mốc đầu tiên được khởi công xây dựng nằm trong dự án tăng dày,tôn tạo hệ thống mốc Quốc giới Việt – Lào
Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện các âm mưu “diễn biến hòabình” với nhiều thủ đoạn nhằm phá hoại, chia rẽ tình đòan kết hữu nghị đặc biệtViệt- Lào và công cuộc xây dựng CNXH ở mỗi nước Hai Đảng, hai Nhà nước ViệtNam- Lào tiếp tục khẳng định ý chí, quyết tâm tăng cường quan hệ hữu nghị hợptác toàn diện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗi nước,giữ gìn và phát triển tình hữu nghị láng giềng gắn bó keo sơn này
4- NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO VIỆT NAM
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã ghi vào lịch sử dân tộc của hai nướcnhững trang chói ngời nhất về tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung, lâudài và toàn diện, trở thành một trong những nhân tố bảo đảm phát triển của cáchmạng mỗi nước trên con đường phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng2-1930 và sau đó đổi tên thành Đảng cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930), mốiquan hệ truyền thống, lâu đời của hai dân tộc được nâng lên thành quan hệ đặc biệt,không ngừng được hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước vun đắp và đạtđược những thành tựu có ý nghĩa quan trọng
1 Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc
Hai tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng cộng sản ĐôngDương đã đưa ra những luận điểm và chủ trương quan trọng chuẩn bị cho côngcuộc khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho các dân tộc Việt Nam, Lào, Miên Dođiều kiện cụ thể khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có hai nước Việt Nam,Lào tiến hành khởi nghĩa giành được độc lập
Từ cuối năm 1939 đến tháng 8-1945, tuy cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào
bị chính quyền thực dân Pháp, Nhật đàn áp, khủng bố rất khốc liệt, nhiều cán bộcao cấp của Đảng và đảng viên bị cầm tù và hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo củalãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương, công tác chuẩn bị về mọi mặtcho công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vẫn được cán bộ, đảng viên, nhân dânhai nước tham gia tích cực và xúc tiến mạnh mẽ
Trang 20Tại Việt Nam, căn cứ địa Việt Bắc, Mặt trận Việt Minh và nhiều tổ chứcquần chúng do Đảng lãnh đạo được thành lập; nhiều đơn vị vũ trang như Cứu quốcquân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân lần lượt ra đời Sau ngày Nhật đảochính Pháp (9-3-1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương
ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhiều tỉnh thành lậpchiến khu, khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương miền Bắc và miền Trung nổ rathắng lợi
Ở Lào, đầu năm 1945, Xứ ủy Lào được lập lại lần thứ tư và xác định các đôthị và địa phương lớn như Viêng Chăn, Thà Khẹc, Savẳnnakhệt là địa bàn hoạtđộng chính Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, phong trào cứu nước càng phát triểnmạnh mẽ Tổ chức Lào Itxalạ (Lào tự do) bao gồm công chức, học sinh có tinh thầnyêu nước, chịu ảnh hưởng đường lối cứu nước Đảng cộng sản Đông Dương ra đời,nhiều căn cứ địa cách mạng xuất hiện Tháng 6-1945, đơn vị Việt Nam Độc lậpquân được thành lập ở chiến khu trên đất Thái Lan
Trung tuần tháng 8-1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất hiện,lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dươngquyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào (TuyênQuang vào ngày 14 và 15-8-1945) Nghị quyết hội nghị nêu rõ: “Những điều kiệnkhởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi, cơ hội cho ta giành quyền độc lập đãtới”1 Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ ủy Lào, Người dặn:thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giànhđược chính quyền khi Đồng minh vào Pháp và Đồng minh Anh, Mỹ gắn bó vớinhau Pháp sẽ núp sau lưng Đồng minh để trở lại xâm lược Việt Nam, Lào, Miên,chúng ta phải đoàn kết để đánh kẻ thù chung
Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành côngtháng 8-1945
Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệtViệt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ pháttriển rực rỡ trong giai đoạn sau
2 Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai:
Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phóngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
1
Trang 21Sau cách mạng tháng Tám, Việt Nam đứng trước những thử thách hết sứcnghiêm trọng Song Chủ tịch tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương đãphát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực thi chính sách đối nội, đối ngoạiđúng đắn, đưa cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ thành quả cách mạng thángTám, bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối vớicách mạng Lào.
Một là, ngay từ khi mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến
trường Việt Nam, Lào đã bị các thế lực đế quốc vây hãm trên trên biển Đông và lụcđịa, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ “phải liên minhvới các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận để củng
cố công cuộc cách mạng của mình” Trên tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh vàChính phủ Việt Nam chỉ đạo các cơ quan ngoại giao mở một con đường ngoại giao
ở hướng tây nam từ Việt Nam qua Lào tới Thái Lan từ giữa năm 1946 đến năm
1951 Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của quốc gia Miến Điện (sau khi Miến Điệntuyên bố độc lập từ năm 1948) Chiến khu cách mạng của Lào được mở tại TháiLan, cán bộ và Việt kiều yêu nước trú chân tại Miến Điện để chuẩn bị lực lượng,gây dựng khu kháng chiến tại Lào
Các hoạt động ngoại giao trong những năm đầu kháng chiến chống thực dânPháp đã hỗ trợ nhiều mặt cho cuộc kháng chiến của hai dân tộc Việt Nam, Lào vàươm mầm cho sự phát triển của phong trào ủng hộ cách mạng giải phóng dân tộccủa Việt Nam, Lào ở những chặng đường tiếp theo
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đầu tiên của quan hệ Việt Nam
Trang 22Ba là, gây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích và thắt chặt
quan hệ đoàn kết Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào
Đây là một nhiệm vụ cơ bản, rất quan trọng của cuộc chiến tranh cách mạnggiải phóng dân tộc Lào và cũng là một nhiệm vụ trọng yếu của quan hệ đặc biệtViệt Nam - Lào mà phía Việt Nam tự nguyện góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tếcao cả đó
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, Việt Nam tận tình giúpLào đào tạo cán bộ, truyền bá kinh nghiệm vận động quần chúng, giúp đỡ bạn xâydựng cơ sở chính trị, lực lượng vũ trang tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi đểhình thành các khu kháng chiến, từng bước đưa phong trào cách mạng Lào pháttriển
Bốn là, xây dựng tại mỗi nước Việt Nam, Lào, Miên một đảng Mácxít
-Lêninnít và thành lập Mặt trận liên minh Việt - Miên - Lào để nâng cao sức mạnhquan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quan hệ đoàn kết Việt - Miên - Lào
Đến năm 1951, Đảng cộng sản Đông Dương đã trải qua 21 năm xây dựng vàphát triển, lãnh đạo nhân dân Đông Dương đấu tranh chống chế độ thuộc địa của đếquốc Pháp, phát xít Nhật, tiến hành khởi nghĩa giành độc lập cho hai dân tộc ViệtNam, Lào và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đánh chiếm ĐôngDương lần thứ hai, làm thất bại nhiều kế hoạch xâm lược của chúng Đến thời điểmnày, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng thấy rằng việc xâydựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia một đảng Mácxít - Lêninnít trên cơ
sở kế thừa bản chất và năng lực lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương đã có đủđiều kiện thực hiện
Tại Đại hội II của Đảng cộng sản Đông Dương tháng 2-1951, Chủ tịch HồChí Minh đề nghị thành lập tại mỗi nước Đông Dương một Đảng cộng sản Ý kiếnnày đã được đại biểu Đảng bộ Lào và đại biểu Đảng bộ Cămpuchia hết sức tánthành
Theo tinh thần đó, sau quá trình chuẩn bị với sự giúp đỡ của Việt Nam, tháng4-1955, diễn ra Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào Đây là Đảng Mácxít -Lêninnít kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Đông Dương, phấn đấu vìnền độc lập và phồn vinh của nước Lào, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Lào, làthành quả chính trị của quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, một nhân
tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển của mối quan hệ đó Từ đây, trên bánđảo Đông Dương, mỗi dân tộc có một Đảng Mácxít - Lêninnít đảm đương vai tròlãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối
Trang 23với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản, công nhânquốc tế.
Sau Đại hội II Đảng cộng sản Đông Dương, hội nghị thành lập Mặt trận liênminh Việt - Miên - Lào cũng diễn ra tại Việt Bắc vào tháng 3-1951, càng củng cốthêm mối quan hệ Việt Nam - Lào, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cáchmạng của ba nước
Năm là, Việt Nam, Lào đồng tâm, hiệp lực giúp nhau trong chiến đấu, lập
nhiều chiến công
Lãnh đạo nhân dân ba nước Đông Dương chống Pháp, Trung ương Đảngcộng sản Đông Dương đã quyết định: “Về quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao làmột chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung” Chủ trương đó tạo cơ sởcho khối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc càng thêm củng cố và tăngcường trên cùng một trận tuyến chống kẻ thù chung, thực hiện những mục tiêuchiến lược và kế hoạch tác chiến trên các chiến trường Đông Dương Theo đó, liênminh chiến đấu Việt - Lào xuất hiện giữa các đơn vị vũ trang hai nước; các mặt trậnphối hợp giữa các địa phương Việt Nam, Lào như Liên khu 10 với Thượng Lào,Liên khu 4 với Trung Lào, Liên khu 5 với Hạ Lào, tiến tới quy mô phối hợp lớnhơn về mặt chiến lược, về tổ chức chiến trường, bố trí lực lượng tác chiến và sửdụng các phương pháp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận buộc địch phải bịđộng đối phó Còn ta thì giành quyền chủ động chiến lược
Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5-1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào mởchiến dịch Thượng Lào giành thắng lợi lớn: giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, mộtphần tỉnh Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào Đốivới Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp phần phân tán lực lượng địch, phátan âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ của Pháp
Tiếp đó, từ tháng 121953 đến tháng 51954, liên quân chiến đấu Việt Nam Lào mở chiến dịch Trung - Hạ Lào Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phải tiếptục phân tán khối cơ động chiến lược của chúng, góp phần làm giảm khối chủ lựccủa địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, nhất là đối với hướng chính Điện BiênPhủ
-Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ,quân và dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lượccủa địch cho Điện Biên Phủ, góp phần cô lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợicho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tiến công địch, giành thắng lợi hoàntoàn
Trang 24Trong các chiến dịch này, có sự tham gia chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh quânđội hai nước và nhiều tướng lĩnh cấp cao, tập hợp nhiều đơn vị quân đội Việt Nam,Lào cùng tham gia chiến đấu; được hậu phương hai nước cung cấp khối lượng lớnlương thực, thực phẩm Đó là thắng lợi của tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến,quyết thắng của quân và dân hai nước, đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp, buộcPháp phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toànvẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược:
21 năm chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã trở thành giá trị thiêng liêng của haidân tộc Hoạt động phối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng quân và dânViệt Nam, Lào đều xuất phát từ tình cảm sâu đậm, trách nhiệm cao cả của hai phíaViệt Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những nguồn lực mới, những nấc thang pháttriển mới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và mở đường đi tới toàn thắng.Thành quả của mối quan hệ đặc biệt này được thể hiện:
Một là, sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân và dân hai nước Việt Nam, Lào phá
vỡ mưu đồ tiêu diệt lực lượng vũ trang nòng cốt Pathết Lào và hãm hại bộ phận đầunão cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tiến hành
Việt Nam đã phối hợp với Lào giải thoát cho Hoàng thân Xuvanuvông vànhiều nhà lãnh đạo cao cấp chủ chốt của cách mạng Lào khỏi trại giam của Mỹ vàchính quyền tay sai, đồng thời lực lượng vũ trang cách mạng Lào cũng thoát khỏivòng vây địch trở về căn cứ an toàn đã tạo điều kiện thuận lợi để Lào xây dựngthực lực, lãnh đạo kháng chiến thắng lợi
Hai là, sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt
Nam trong quá trình xác định phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu kết hợpđấu tranh chính trị chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Lào
Ba là, tuyến đường chiến lược Trường Sơn, một công trình vĩ đại của quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Tuyến đường Trường Sơn xuyên qua triền phía đông và phía tây dãy TrườngSơn Công trình này được tiến hành từ cuối năm 1959, đến đầu năm 1964 thìchuyển hẳn sang phía tây Trường Sơn Nơi đây cũng là khu căn cứ hậu cần củachiến trường Nam Việt Nam, Lào và Campuchia Quá trình khai thông và phát triểncon đường chiến lược chi viện cho cách mạng miền Nam, Lào và Campuchia là quátrình đấu tranh gian khổ, quyết liệt của cán bộ, chiến sĩ hai nước Việt Nam, Làođứng chân hoạt động trên chiến trường này, có sự đóng góp to lớn của nhân dân
Trang 25Việt Nam và Lào tại các địa phương mà tuyến vận tải đi qua Trong mọi hoàn cảnh,quân đội nhân dân Việt Nam và Lào đã sát cánh bên nhau chiến đấu kiên cườngchống trả sự đánh phá vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai để bảo
vệ tuyến đường, kho tàng, vũ khí, lương thực, thực phẩm và nhiều loại hàng hóakhác, trong đó có nhiều chiến dịch lớn như chiến dịch Cánh đồng Chum - XiêngKhoảng; đặc biệt là thắng lợi của chiến dịch đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộchành quân lớn nhất của Mỹ - ngụy với âm mưu cắt đứt hoàn toàn tuyến vận tảichiến lược quan trọng bậc nhất của ta từ miền Bắc vào miền Nam, Lào và Campuchia
Nhân dân Lào đã phải chịu đựng biết bao hy sinh, mất mát do kẻ thù xâmlược gây ra Nhưng từ trong gian khổ, ác liệt, đã ngời sáng lên tình cảm thânthương, quý mến của nhân dân Lào dành cho cán bộ, chiến sĩ Việt Nam, tô thắmthêm truyền thống đoàn kết, thủy chung son sắt của hai dân tộc
Tuyến đường chiến lược Trường Sơn được xây dựng, bảo vệ và khai thác, sửdụng kéo dài trong 16 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược là sản phẩmcủa sự đồng thuận sâu sắc, sự hy sinh lớn lao vì nghĩa tình quốc tế cao cả của haidân tộc Lào, Việt Nam; là minh chứng hùng hồn của văn minh, nhân nghĩa thắngxâm lược, bạo tàn
Suốt 21 năm chống Mỹ, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào luôn hếtlòng giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam Đáp lại, Đảng, Nhà nước, quân đội vànhân dân Việt Nam cũng dốc hết sức vì sự nghiệp cách mạng Lào Trên tinh thần
“giúp bạn là tự giúp mình”, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã
có mặt ở hầu hết mọi nơi trên chiến trường Lào, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh,cùng nhân dân và quân đội Lào đấu tranh, đánh địch đến thắng lợi hoàn toàn
3 Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (từ 1976 đến nay)
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao:
Sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm,vào ngày 18-7-1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam và Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào đã được ký kết, là sự kiện mở đầucho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn cách mạng mới Đây là vănkiện mang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên nguyên tắc hoàntoàn bình đẳng Điển hình của tinh thần hợp tác, hữu nghị của hai Đảng, hai Nhànước, hai dân tộc là cùng thống nhất quan điểm trong việc giải quyết vấn đề
Trang 26Campuchia, cùng đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của Việt Nam trên diễn đàn quốc
tế và khu vực
Hai Nhà nước sớm thoả thuận và ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới quốcgia Việt Nam - Lào và hoàn thành hoạch định, cắm mốc trên toàn tuyến biên giớicùng với hoạt động của các tỉnh hai bên đường biên giới trên lĩnh vực an ninh, quốcphòng, kinh tế, giao lưu văn hóa đã xây dựng nên một biên giới hoà bình, hợp tác
và phát triển Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi ý kiến về vấn đề lý luận vàchỉ đạo thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, khơidậy nội lực và mở rộng quan hệ quốc tế, đem lại sự đổi mới toàn diện cho mỗinước
Về quốc phòng an ninh:
Từ năm 1976 đến nay, Việt Nam và Lào bị nhiều thế lực thù địch từ bênngoài tấn công, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vừa sử dụng những phần tử phảnđộng lưu vong quay trở lại phá hoại an ninh quốc gia Một lần nữa, nghĩa vụ bảo vệ
Tổ quốc đặt ra cho ngành quốc phòng an ninh và nhân dân hai nước Việt Nam vàLào nhiều nhiệm vụ mới, đòi hỏi phải nâng cao bản lĩnh và năng lực trong thế trậnđấu tranh mới
Theo tinh thần các văn bản đã ký kết giữa hai Chính phủ, lực lượng vũ trang
và lực lượng an ninh Lào, Việt Nam phối hợp chặt chẽ thực hiện các nhiệm vụđược giao trên mặt trận chống ngoại xâm, chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ diệt bọnphản động vượt qua lãnh thổ Lào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam, tiêu biểu là chiếndịch truy quét, phá tan trung tâm phỉ tại Phu Bia (1977-1978), tiêu diệt nhóm phảnđộng Võ Đại Tôn và Hoàng Cơ Minh (1987) khi chúng đang xuyên qua đất Lào đểvào Việt Nam
Cùng với những hoạt động trên, hai bên còn phối hợp chặt chẽ trong đào tạo,bồi dưỡng cán bộ; giúp đỡ nhau về hậu cần kỹ thuật; đặc biệt là việc tìm kiếm hàicốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên đất Lào
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước luôn xác định hợp tác trên lĩnhvực quốc phòng, an ninh là một trong những điểm mấu chốt của mối quan hệ đặcbịêt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, đào tạo cán bộ:
Lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào đều nhất trí coi trọng sự hợp tác kinh tế,văn hóa và đào tạo cán bộ
Trang 27Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôntrọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; đồng thời, căn cứvào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau.
Phương thức hợp tác ngày càng được mở rộng và nâng cao về quy mô, chấtlượng và hiệu quả Trên thực tế, sự hợp tác giữa hai nước diễn ra từ Trung ươngđến tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên lĩnhvực kinh tế, tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp
Nội dung hợp tác kinh tế được chuyển dần theo cấp độ từ thấp lên cao: banđầu là viện trợ, cho vay tiến đến hợp tác sản xuất, liên doanh phù hợp công thức: tàinguyên Lào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp tác hoặc vay của nước thứ ba.Tiếp đó, từ năm 1996 trở đi, một công thức hợp tác mới được áp dụng, đó là hợptác hai bên cùng có lợi theo thông lệ quốc tế, ưu tiên, ưu đãi cho nhau
Điểm đặc sắc nổi bật trong quan hệ hợp tác kinh tế Lào - Việt Nam là tinhthần giúp đỡ nhau mỗi khi nước bạn gặp khó khăn mà không thể tự giải quyếtđược Hành động Việt Nam giúp Lào chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô năm
1999 là một mẫu hình tiêu biểu
Sự hợp tác Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên lĩnh vực giáo dục, đào tạocán bộ được đặt ở tầm chiến lược, tác động trực tiếp tới sự phát triển của quan hệđặc biệt giữa hai dân tộc, được mở đầu từ thập niên 1950 Từ đó đến suốt cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng vạn học sinh Lào được học tập tại ViệtNam từ cấp I đến cấp III Việt Nam còn gửi chuyên gia sang Lào giúp bạn xâydựng một nền giáo dục mới theo yêu cầu của bạn
Từ sau năm 1975, Việt Nam giúp bạn đào tạo cán bộ đạt trình độ đại học vàtrên đại học Theo đó, hàng năm có hơn 1.000 cán bộ, sinh viên Lào được bồidưỡng, học tập tại nhiều học viện, trường đại học Việt Nam Về phía Việt Nam,hàng năm có từ 15-20 lưu học sinh sang học tại đại học Quốc gia Lào
Hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân
Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhànước, các bộ, ngành Trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ cáctỉnh có chung đường biên giới cũng như các tỉnh không có chung biên giới giữa hainước với nhau Các địa phương đã phối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn tham quan,cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăn giữa hainước Các Hội hữu nghị Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam và cộng đồng người ViệtNam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu nối quan trọngtrong việc giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào –Việt Nam
Trang 28Quảng Trị có đường giới chung với Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào 206km,giáp với hai tỉnh bạn là Savẳnnakhệt và Xalavăn Từ chỗ tương đồng về tiếng nói,phong tục, tập quán và xuất phát từ nhu cầu bảo vệ nền độc lập đất nước, phát triểnkinh tế, văn hóa, từ xa xưa, nhân dân các dân tộc Việt - Lào ở hai bên triền Đông -Tây dãy Trường Sơn đã có mối quan hệ giao hảo thân thiết, giúp đỡ lẫn nhau khikhó khăn, đồng lòng đồng sức đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ vững chắc biên cươngcủa hai nước Tiêu biểu nhất trong lịch sử đấu tranh giữ nước của ba tỉnh trước năm
1930 là cuộc chiến đấu thắng lợi đánh quân xâm lược Xiêm trong hai năm 1883,
1884, làm thất bại hoàn toàn mưu đồ xâm lấn vùng đất Lào và Việt Nam của Nhànước Xiêm từ đó về sau
Khi hai nước bước vào giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ năm 1975đến nay, quan hệ đặc biệt hữu nghị càng được phát huy mạnh mẽ, toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, góp phần tolớn vào việc xây dựng và bảo vệ an ninh chính trị, tăng cường quốc phòng, tạo môitrường ổn định để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của ba tỉnh
5- NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT-LÀO TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP ĐÂN TỘC TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC NGYAF NAY.
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn hóa
và đã chung tay viết lên những trang lịch sử hào hùng của hai dân tộc Tình hữunghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt-Lào và sự gắn bó thủy chung, keo sơngiữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh vàChủ tịch Cay-xỏn Phom-vi-hản trực tiếp gây dựng, được các thế hệ lãnh đạo kế tụccủa hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày côngvun đắp Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, mối quan hệ Việt-Làođược tôi luyện và hun đúc bằng công sức và xương máu của biết bao anh hùng liệt
sỹ, bằng sự hy sinh phấn đấu của nhiều thế hệ người Việt Nam và Lào và đã thực
sự trở thành mối quan hệ truyền thống, rất đặc biệt, rất thủy chung và trong sáng.Chủ tịch Cay-xỏn Phom-vi-hản đã từng nói: “Trong lịch sử cách mạng thế giới đã
có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu vàchưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện nhưvậy”
Trang 29Ngày 5/9/1962, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao,đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ hai nước thời kỳ hiện đại Kể
từ đó, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, nhân dân hai nước Việt-Lào anh em đã đồnglòng hỗ trợ lẫn nhau, kề vai sát cánh trên tinh thần “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻnửa” trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, đưa sựnghiệp cách mạng của hai dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn Sau khi Việt Nam hoànthành sự nghiệp thống nhất nước nhà và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào rađời năm 1975, cả hai nước đều bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan hệ Việt-Lào đã chuyển sang giai đoạn mới, đó là mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt
và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước mà bằng chứng sinh động làHiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào được ký ngày 18/7/1977
Bốn mươi lăm năm qua, quan hệ chính trị giữa hai nước đã phát triển trênnền tảng sâu rộng và vững chắc Đến nay, các cuộc tiếp xúc cấp cao giữa lãnh đạoĐảng, Nhà nước, Quốc hội, các Bộ/ngành và địa phương được tiến hành thườngxuyên; Uỷ ban liên chính phủ thường niên được duy trì, củng cố Giao lưu giữa các
Bộ, ngành, địa phương và các tầng lớp nhân dân ngày càng nhộn nhịp, hình thứcngày càng phong phú Các chuyến thăm và tiếp xúc đó có ý nghĩa hết sức quantrọng, góp phần nâng cao sự tin cậy lẫn nhau, định hướng và phát triển mối quan hệhợp tác giữa hai nước trong thế kỷ 21 lên những tầm cao mới, ngày càng đi vàochiều sâu với hiệu quả cao, phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở mỗi nước
Quan hệ hợp tác về kinh tế không ngừng được phát triển, góp phần hỗ trợkinh tế mỗi nước liên tục tăng trưởng, đảm bảo giữ vững ổn định an ninh chính trị,từng bước vững chắc hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nền tảng vật chất để củng cố mốiquan hệ hữu nghị đoàn kết truyền thống tốt đẹp về chính trị giữa hai nước Hợp tácthương mại giữa hai nước ngày càng tăng Năm 2006, kim ngạch xuất nhập khẩuhai chiều đạt 240 triệu USD, tăng 48% so với năm trước Hiện nay, Việt Nam đứngthứ hai trong số các nước đầu tư vào Lào với tổng số vốn hơn 500 triệu USD Tạiphiên họp Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế-văn hóa-khoa học kỹ thuậtViệt-Lào lần thứ 29 vào tháng 1/2007 tại Hà Nội, hai nước phấn đấu đạt kim ngạchhai chiều là 1 tỷ USD vào năm 2010, gấp 4 lần so với năm 2006 và đến năm 2015đạt 2 tỷ USD Đặc biệt, hai nước đã đề ra một số chương trình hợp tác kinh tế cụthể, phù hợp với tiềm năng và lợi thế so sánh của mỗi nước như thủy điện, khaithác khoáng sản, trồng cây cao su
Trang 30Mối quan hệ đoàn kết hữu nghị và hợp tác tốt đẹp còn được thể hiện rõ trongcác lĩnh vực khác như giáo dục và đào tạo, y tế, nông nghiệp và phát triển nôngthôn, xây dựng cơ sở hạ tầng và đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh quốc phòng Anninh và ổn định là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững và phồn vinh củamỗi nước Hai nước đã phối hợp thực hiện tốt Hiệp định về Quy chế biên giới năm
1990, mở và nâng cấp các cặp cửa khẩu, tăng dày và tôn tạo các mốc quốc giớigiữa hai nước
Tình đoàn kết anh em giữa Việt Nam và Lào còn được thể hiện rõ trong hợptác ở các diễn đàn khu vực và quốc tế như Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc giaĐông Nam Á (ASEAN), Tổ chức hợp tác kinh tế chiến lược 3 dòng sông(ACMECS), Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS), hợp tác 4 nước Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam (CLMV) , góp phần nâng cao uy tín và vị thế của hainước ở khu vực và trên thế giới
Trong thời gian tới, trước những biến động phức tạp, khó lường của tình hình khu vực, thế giới và yêu cầu đẩy mạnh phát triển mọi mặt ngày càng cấp thiết trong nội tại hai nước, Việt Nam đặt ưu tiên cao nhất, cùng với các bạn Lào anh
em, phấn đấu nâng quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào lên tầm cao mới, hiệu quả, bền vững, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế vững chắc, hội nhập quốc tế sâu rộng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước trong tình hình mới Theo đó, chúng ta cần tập trung làm tốt các việc sau:
Một là, duy trì bền vững mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt-Lào; phát triển sâu sắc và toàn diện quan hệ chính trị tốt đẹp sẵn có ở cấp lãnh đạo của hai Đảng, hai nước; đồng thời mở rộng và làm sâu sắc hơn tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt thấm sâu xuống các cấp địa phương, cơ sở, nhất là thế hệ trẻ, đồng thời tăng cường giao lưu nhân dân và thanh niên giữa hai nước
Hai là, đẩy mạnh hiệu quả hợp tác kinh tế song phương tương xứng với quan hệ chính trị, phát triển hợp tác giữa các vùng, miền hai nước, và hoàn thiện hơn nữa các chính sách ưu tiên, ưu đãi mà hai nước dành cho nhau, phù hợp với luật pháp của mỗi nước và thông lệ quốc tế Cần chủ động thúc đẩy hợp tác ở cả ba cấp: Chính phủ với Chính phủ, địa phương với địa phương và doanh nghiệp với doanh nghiệp nhằm tạo sự gắn kết chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nền kinh tế
Ba là, tăng cường phối hợp, trao đổi kinh nghiệm và thông tin nhằm chống lại âm
Trang 31mưu chống phá của các thế lực thù địch, chia rẽ quan hệ hai nước; tăng cường hợp tác mọi mặt giữa các tỉnh có chung biên giới.
Bốn là, đổi mới và nâng cao chất lượng hợp tác giáo dục, thúc đẩy liên kết hợp tácgiữa các trường đại học, các cơ sở đào tạo của hai nước
Năm là, tích cực trao đổi thông tin về tình hình quốc tế, phối hợp họat động tại cácdiễn đàn quốc tế quan trọng, tăng cường hợp tác trong các chương trình tiểu vùngnhư Hành lang Đông-Tây, hợp tác tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng…
Kỷ niệm 45 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 30 năm Ngày ký kếtHiệp ước hữu nghị, hợp tác Việt Nam-Lào, lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh
"Việt-Lào hai nước chúng ta - Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long" tiếp tụcnhắc nhở các thế hệ nhân dân Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào anh em về tìnhcảm và sự gắn bó keo sơn cần được gìn giữ và vun đắp Đảng, Nhà nước và nhândân Việt Nam quyết tâm làm hết sức mình, cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dânLào, thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hainước, tiếp tục vun đắp và truyền tiếp mãi mãi cho các thế hệ mai sau của hai dântộc tài sản vô giá là tình đoàn kết đặc biệt, mối quan hệ thủy chung và hợp tác toàndiện Việt Nam-Lào, coi đây là quy luật phát triển và là một trong những nhân tốbảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, gópphần quan trọng vào việc củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khuvực và trên thế giới
6- NHỮNG BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ THỦY CHUNG, SON SẮT CỦA HAI DÂN TỘC VIỆT-LÀO DƯỚI
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA.
Từ khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào được thành lập năm 1955, dưới sựlãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam càng được phát huy mạnh mẽ và biểu hiện hết sức sinh động trên tất cả cáclĩnh vực, không ngừng nâng cao theo sự phát triển của phong trào cách mạng củahai nước Trong những lúc cam go, gian khổ nhất, cán bộ, đảng viên, quân và dânhai dân tộc vẫn sát cánh bên nhau với nghĩa tình “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻnửa”, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng chung và vì nền độc lập tự do củamỗi nước Trong giai đoạn hoà bình với nhiều điều kiện thuận lợi, hai dân tộc cũngkhông ngừng vun đắp mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt để cùng nhau tiếnlên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Trang 32Bài viết này xin nêu một số biểu hiện sinh động của mối quan hệ hiếm cónày.
1 Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, quân dân các dân tộc Việt Nam - Lào đoàn kết bên nhau, chung sức, chung lòng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Sau Hiệp định Giơnevơ, theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào, Đảng
và Nhà nước Việt Nam quyết định để lại một bộ phận chuyên gia tiếp tục giúp đỡcách mạng Lào Tổng số chuyên gia gồm 964 đồng chí Đây là lực lượng rất quantrọng đối với cách mạng Lào sau ngày đình chiến
Thực hiện đề án đấu tranh ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ (là căn cứ tậpkết của lực lượng cách mạng Lào), được sự chỉ đạo phối hợp của Ban cán sự miềnTây, chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp đỡ bạn xây dựng hai tỉnh thành các khuchiến đấu liên hoàn, đáp ứng tình hình thực tế của từng địa bàn, khả năng tổ chức,quản lý của cán bộ Lào, đồng thời đề phòng chiến sự lan rộng Trong trường hợp bịchia cắt, từng khu có thể đảm bảo độc lập tác chiến; đồng thời giúp bạn triển khaicác mặt công tác chuẩn bị chiến trường, củng cố cơ sở ở các địa phương tạo địa bànvững chắc, ngăn chặn địch tấn công Nhờ đó, lực lượng Pathết Lào không chỉ đẩylùi các đợt tấn công lấn chiếm của quân đội Vương quốc Lào, mà còn mở trận đánhlớn thu thắng lợi, diệt được nhiều địch và mở rộng vùng giải phóng, làm nức lòngnhân dân hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ
Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất, Việt Nam đã nhậnđào tạo 330 cán bộ của Pa Thết Lào, nhằm chuẩn bị lực lượng cho phong trào cáchmạng cả nước Bức thư của Ban chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi Ban chấp hànhTrung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã khẳng định:
“Trong kháng chiến cũng như trong đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất đấtnước, cách mạng Lào luôn được sự giúp đỡ tận tình của cách mạng Việt Nam,Đảng Lao động Việt Nam Sỡ dĩ cách mạng Lào giành được thắng lợi to lớnđó cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”
Mặc dù Chính phủ liên hiệp với mục tiêu đem lại hòa bình cho nước Lào đãđược thành lập nhưng đế quốc Mỹ và tay sai vẫn ra sức thi hành chính sách khủng
bố đối với cán bộ cách mạng và những người có tư tưởng hòa bình, tiến bộ Nhiềucán bộ và thường dân Lào ở các tỉnh biên giới chạy sang Việt Nam lánh nạn Đểtạo điều kiện giúp cách mạng Lào, ngày 13-12-1958, Ban chấp hành Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam đã ra Chỉ thị 120-CT/TW, nêu rõ: Hết lòng giúp đỡ cho
Trang 33số cán bộ và thường dân Lào vì tránh khủng bố mà chạy sang biên giới ta về mọimặt tinh thần, vật chất theo khả năng của ta
Về quân sự, Việt Nam không chỉ sát cánh bên bạn trong thời kỳ đầu củng cố,phát triển lực lượng, xây dựng hậu cứ, cung cấp vũ khí, quân trang mà còn phốihợp với bộ đội PaThết Lào đánh địch giành thắng lợi oanh liệt Từ ngày 18- 8 đến15-9-1959, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với các đơn vịPaThết Lào mở đợt hai hoạt động trong mùa mưa Trong đợt hoạt động này, quántriệt tinh thần chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, một sốđơn vị quân tình nguyện Việt Nam (chủ yếu là lực lượng quân khu 4 tác chiến ởcác tỉnh Xiêng Khoảng, Liên huyện 90 và Khăm Muộn) đã vận dụng nhiều hìnhthức tác chiến linh hoạt như phục kích, tập kích, bao vây, bắn tỉa, địch vận, pháhoại cầu đường, đốt kho tàng địch, đánh cứ điểm bằng đặc công kết hợp hoảlực Đi đôi với tác chiến, các đơn vị tình nguyện Việt Nam đã tích cực giúp Làocủng cố cơ sở, phát động nhân dân ủng hộ kháng chiến, tham gia các lực lượng dânquân tự vệ chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng Các đơn vị tình nguyện phối hợpchặt chẽ với lực lượng PaThết Lào và nhân dân địa phương đánh 40 trận, giảiphóng thêm 13 điểm Sau đợt hoạt động này, các tiểu đoàn 1, 2, 4 PaThết Lào đượclệnh rút ra hoạt động ở biên giới Việt - Lào, sau đó sang tập trung ở huyện Yên Lập(Phú Thọ) để chấn chỉnh lực lượng Theo yêu cầu của Trung ương Neo Lào HắcXạt, Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp xây dựng tiểu đoàn 1 và 2 PaThết Lào thànhhai tiểu đoàn chủ lực mạnh, quân số mỗi tiểu đoàn từ 650 đến 700 chiến sĩ; đồngthời bổ sung vũ khí, trang bị và cử các tổ chuyên gia giúp hai tiểu đoàn về quân sự,chính trị và chuyên môn kỹ thuật
Khi cuộc kháng chiến của hai dân tộc ngày càng phát triển, các trận đánhphối hợp giữa quân tình nguyện Việt Nam với bộ đội PaThết Lào ngày càng có quy
mô lớn hơn, nhịp nhàng và chặt chẽ hơn Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ III (1960), Việt Nam đã chi viện pháo binh cho PaThết Lào, đồng thờităng cường hoạt động uy hiếp Thà Khẹc, giúp bạn bảo vệ thủ đô Viêng Chăn trước
sự tấn công của địch Cuối năm 1960, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bạngiải phóng Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, nối liền với Sầm Nưa, tạo căn cứ địavững chắc để Chính phủ hợp pháp của Hoàng thân Xuvănna Phuma đặt trụ sởchính thức ở Khăng Khay (Xiêng Khoảng)
Trên cơ sở thoả thuận giữa hai Đảng, ngày 9-1-1961, Quân ủy Trung ương
và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc tế củachuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam đối với cách mạng Lào trong 5 năm1961-1965 là: Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách mạng Lào về chuyên gia quân
Trang 34sự, đào tạo cán bộ; củng cố, xây dựng vùng giải phóng và phát triển lực lượng vũtrang của bạn; khi bạn có yêu cầu, tổ chức bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợpchiến đấu với bộ đội bạn.
Trung ương Đảng hai nước cũng xác định: Lực lượng PaThết Lào cần phốihợp chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam, kiên quyết đập tan các hoạt độngphiêu lưu quân sự của địch, giữ vững vùng giải phóng và các cơ quan đầu não củaTrung ương Đảng Lào trong mọi tình huống
Căn cứ nhiệm vụ trên, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Namquyết định biên chế thời chiến cho Sư đoàn 325, Lữ đoàn 341, Trung đoàn 224thuộc Quân khu 4; Lữ đoàn 316, Lữ đoàn 335 và Trung đoàn 148 thuộc Quân khuTây Bắc, sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam và chiến trường Lào
Trên tinh thần đó, các trận đánh phối hợp giữa hai bên ngày càng đạt hiệuquả cao, thu thắng lợi giòn giã trên các chiến trường như cuộc tiến công giải phóngđường 8, giải phóng huyện Xê Pôn (Savẳnnakhệt), đẩy lùi các đợt tấn công củađịch vào Xiêng Khoảng Tiêu biểu là chiến dịch Nặm Thà năm 1962, do Bộ tư lệnhchiến dịch Nặm Thà trực tiếp chỉ huy với sự tham gia của các tướng lĩnh Việt Nam
- Lào Chiến dịch Nặm Thà đã làm xoay chuyển tình thế có lợi cho cách mạng Lào,
có ý nghĩa quan trọng về quân sự và chính trị Liên quân Lào - Việt không chỉ tiêudiệt được một bộ phận sinh lực tinh nhuệ của địch vừa mới xây dựng, mà còn giángđòn mạnh về chính trị, đánh vào âm mưu của Mỹ và chính quyền tay sai PhumiNôxavẳn, làm cho tinh thần đội quân đánh thuê thêm hoang mang, dao động Uytín của Neo Lào Hắc Xạt, quân đội PaThết Lào được nâng cao, khu giải phóng mởrộng thành căn cứ liên hoàn đến tận biên giới Trung Quốc
Sau Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962, thực hiện cam kết của mình,Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định rút toàn bộ quân tình nguyệnViệt Nam và đại bộ phận chuyên gia quân sự về nước Thời gian này, Chính phủliên hiệp Lào đã lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, tuy vậy, Hoàng thânXuvanuvông vẫn khẳng định: Người bạn cùng sống chết, chung một chiến hào với
ta chỉ có Việt Nam
Năm 1963, tình hình cách mạng Lào gặp khó khăn do đế quốc Mỹ và chínhquyền tay sai lật lọng âm mưu xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ Trước yêu cầu của bạn,Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam lại cử chuyên gia và quân tình nguyệnsang giúp đỡ Điều đáng trân trọng, biểu hiện tình cảm thủy chung giữa quân vàdân hai nước là đoàn chuyên gia Việt Nam phần lớn là các đồng chí đã từng hoạtđộng, chiến đấu trên đất bạn thời gian trước