1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

100 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Bố Thông Tin Về Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Trong Ngành Vận Tải Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Tác giả Nguyễn Như Cường
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thúy Anh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 82,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

37 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH VẬN TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ...39 2.1.. Do đó, bên cạnh các thô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH VẬN TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

NGUYỄN NHƯ CƯỜNG

Trang 2

Mã số: 83.40.101

Họ và tên: Nguyễn Như Cường Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thúy Anh

Trang 3

Hà Nội - 2019

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của các

doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

là đề tài nghiên cứu độc lập của riêng tôi, được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu,

phân tích và đánh giá các số liệu của các doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm

yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Các số liệu là trung thực và chưa được

công bố tại các công trình nghiên cứu có nội dung tương đồng nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Trang 4

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thúy Anh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến của các thầy

cô giáo cùng các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Như Cường iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN vii

DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

Trang 5

2 Tổng quan các nghiên cứu về đề tài 2

2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 2

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5

3.1 Mục đích nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 7

1.1 Tổng quan về công bố thông tin doanh nghiệp 7

1.1.1 Khái niệm thông tin và công bố thông tin doanh nghiệp 7

iv 1.1.1.1 Khái niệm về thông tin 7

1.1.1.2 Khái niệm về thông tin doanh nghiệp 8

1.1.1.3 Khái niệm công bố thông tin doanh nghiệp 8

1.1.2 Vai trò của công bố thông tin 8

1.1.3 Phân loại thông tin doanh nghiệp 9

Trang 6

1.2 Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 11

1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội 11

1.2.2 Ý nghĩa của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 15

1.2.2.1 Đối với doanh nghiệp 15

1.2.2.2 Đối với xã hội 16

1.2.3 Nội dung trách nhiệm xã hội 20

1.3 Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 25

1.3.1 Nội dung công bố thông tin về trách nhiệm xã hội 25

1.3.2 Đo lường mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội 33

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 34

1.3.3.1 Yếu tố về đặc điểm công ty 35

1.3.3.2 Yếu tố quản trị công ty 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH VẬN TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 39

2.1 Khái quát về thị trường chứng khoán và các công ty ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 39

2.1.1 Khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam 39

2.1.2 Các doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 43

v

2.1.3 Quy định công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trên thị

Trang 7

trường chứng khoán Việt Nam 49

2.2 Thực trạng hoạt động công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 50

2.2.1 Xây dựng chỉ số thông tin trách nhiệm xã hội 50

2.2.2 Áp dụng để đo lường công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các chỉ tiêu 53

2.2.3 Phân tích việc công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các chỉ tiêu 58

2.2.3.1 Thông tin về cơ cấu quản trị 58

2.2.3.2 Thông tin về mức độ tin cậy 58

2.2.3.3 Thông tin về người lao đông 58

2.2.3.4 Thông tin về trách nhiệm cộng đồng, xã hội 59

2.2.3.5 Thông tin về sản phẩm, dịch vụ 60

2.2.3.6 Thông tin về môi trường 60

2.3 Đánh giá thực trạng công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 61

2.3.1 Kết quả đạt được 61

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 61

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH VẬN TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM64 3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với trách nhiệm xã hội và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam 64

Trang 8

3.2 Giải pháp đối với doanh nghiệp ngành vận tải để tăng cường công bố thông tin

trách nhiệm xã hội 68

vi 3.2.1 Tăng cường nhận thức đối với hoạt động trách nhiệm xã hội và công bố thông tin trách nhiệm xã hội 68

3.2.2 Xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp 69

3.2.3 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên bộ phận công bố thông tin 73

3.2.4 Phát huy vai trò của các thành viên trong hội đồng quản trị đến vấn đề công bố thông tin trách nhiệm xã hội 73

3.3 Một số kiến nghị 74

3.3.1 Kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước 74

3.3.1.1 Ban hành hướng dẫn cụ thể đối với các mục thông tin công bố 74

3.3.1.2 Thiết lập quy định bắt buộc công bố thông tin trách nhiệm xã hội và giám sát việc thực hiện 75

3.3.1.3 Thiết lập quy định về kiểm tra độ tin cậy của thông tin được công bố 76

3.3.1.4 Thiết lập chính sách khuyến khích và truyền thông thực hiện công bố thông tin trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp 76

3.3.1.5 Tăng cường đầu tư để hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin 79

3.3.2 Kiến nghị tăng cường sự hỗ trợ từ phiếp hiệp hội nghề nghiệp và sở giao dịch chứng khoán 80

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 9

có thân thiện với môi trường sinh thái và cộng đồng hay không, có nhân đạo, và lành mạnh hay không Do đó, bên cạnh các thông tin tài chính, việc công bố thông tin trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp là điều vô cùng cần thiết, tăng tính minh bạch đối với các hoạt động liên quan đến vấn đề xã hội và môi trường, giúp các nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện về Doanh nghiệp.

Tuy nhiên trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện trách nhiệm xã hội đầy đủ và công bố các thông tin liên quan đến trách nhiệm xã hội ra bên ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển Gần đây tạiViệt Nam đã xảy ra các vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong đó có thể kể đến

là trường hợp của công ty Fomusa Điều này đáng báo động cho các cơ quan nhà nước cần phải có những biện pháp thích hợp để tăng cường mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ra bên ngoài nhằm hạn chế các thiệt hại trước khi quá muộn Hiện nay cũng có nhiều công ty công bố các thông tin trách

Trang 10

nhiệm xã hội của doanh nghiệp rất chi tiết như công ty sữa Vinamilk, công ty BảoViệt, công ty cổ phần tập đoàn Pan Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào niêmyết nói chung và doanh nghiệp ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoánnói riêng cũng công bố thông tin trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ Nhữngdoanh nghiệp vận tải công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của mình rất hạn chế.

Xuất phát từ vấn đề đó, tác giả đã chọn đề tài “Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị

trường viii

chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình

Luận văn nghiên cứu và đạt được kết quả sau:

Một là, luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết về công bố thông tin trách

nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết rên sàn chứng khoán Việt Nam như: Tổngquan về công bố thông tin; Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Hai là, luận văn nghiên cứu thực trạng công bố thông tin về trách nhiệm xã

hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn nghiên cứu về thị trường chứng khoán và các công ty ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn nghiên cứu thực trạng công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ngành vận tải niêmyết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ đó đưa ra các đánh giá về thực trạng công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêmyết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Ba là, trên cơ sở những đánh giá thực trạng về công bố thông tin về trách

Trang 11

nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng

khoán Việt Nam, luận văn đưa ra các giải pháp tăng cường công bố thông tin về tráchnhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam như: Tăng cường nhận thức đối với hoạt động trách nhiệm xãhội và công bố thông tin trách nhiệm xã hội; Xây dựng mô hình quản trị doanh

nghiệp; Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên bộ phận công bố thông tin; Phát huy vai trò của các thành viên trong hội đồng quản trị

đến vấn đề công bố thông tin trách nhiệm xã hội

ix

DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Việt

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo

hiểm y tế CoC Bộ quy tắt ứng xử CSHT Cơ sở hạ tầng DN Doanh

nghiệp DNNN Doanh nghiệp nhà nước DNVVN Doanh nghiệp

vừa và nhỏ DNXH Doanh nghiệp xã hội FDI Doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài KTTT Kiến trúc thượng tầng GDP Thu nhập

quốc dân TNHH Trách nhiệm hữu hạn TNXH của DN Trách

nhiệm xã hội của doanh nghiệp WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 12

từ 2010 đến 2018 42Bảng 2.3: Danh sách các công ty ngành vận tải niêm yết trên sàn chứng khoán năm

2018 45Bảng 2.4: Các chỉ tiêu ngành vận tải năm 2018 49Bảng 2.5: Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các nhóm thông

tin trong ngành vận tải năm 2018 52Bảng 2.6: Thống kê chấm điểm và tổng điểm công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các

Bảng 2.7: Thống kê điểm số của nhóm chỉ tiêu công bố thông tin trách nhiệm xã hội của

Biểu đồ 2.1: Điểm trung bình về công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các nhóm thông

tin trong ngành vận tải năm 2018 56

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự ra đời của thị trường chứng khoán (TTCK) là nhu cầu khách quan của

nền kinh tế thị trường khi phát triển đến một giai đoạn nhất định mà vấn đề tài trợ

vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và chính phủ trở nên hết sức cần thiết để duy trì

sự phát triển Với sự phát triển của thị trường chứng khoán, thông tin luôn là yếu tố

then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả các đối tượng

tham gia thị trường Trong đó phải kể đến thông tin trách nhiệm xã hội của công ty

niêm yết (CTNY) Đó là nguồn thông tin quan trọng Những thông tin này cho phép

người sử dụng thông tin có thể đánh giá về đánh giá trách nhiệm của doanh

nghiệp đối với xã hội, cũng như xu thế, định hướng phát triển của doanh nghiệp

trong tương lại

Trang 13

Trách nhiệm xã hội là một đề tài đang được các doanh nghiệp quan tâm hiện nay Bên cạnh các lợi ích tài chính đem lại từ việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội như tăng doanh số, giảm chi phí hoạt động,v.v còn làm tăng giá trị hình ảnh doanh nghiệp, từ đó làm tăng lòng trung thành của khách hàng cũng như lực lượng lao động Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, các nhà đầu tư cũng như khách hàng ngày càng quan tâm đến những hoạt động kinh doanh hướng đến con người và cộng đồng Tại các nước phát triển, người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức các công ty làm ra sản phẩm đó như thế nào,

có thân thiện với môi trường sinh thái và cộng đồng hay không, có nhân đạo, và lành mạnh hay không Do đó, bên cạnh các thông tin tài chính, việc công bố thông tin trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp là điều vô cùng cần thiết, tăng tính minh bạch đối với các hoạt động liên quan đến vấn đề xã hội và môi trường, giúp các nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện về Doanh nghiệp

Tuy nhiên trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện trách nhiệm xã hội đầy đủ và công bố các thông tin liên quan đến trách nhiệm xã hội ra bên ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển Gần đây tại

Việt Nam đã xảy ra các vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong đó có thể kể

đến 2

là trường hợp của công ty Fomusa Điều này đáng báo động cho các cơ quan nhà nước cần phải có những biện pháp thích hợp để tăng cường mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ra bên ngoài nhằm hạn chế các thiệt hại trước khi quá muộn Hiện nay cũng có nhiều công ty công bố các thông tin tráchnhiệm xã hội của doanh nghiệp rất chi tiết như công ty sữa Vinamilk, công ty Bảo Việt, công ty cổ phần tập đoàn Pan Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào niêm

Trang 14

yết nói chung và doanh nghiệp ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoánnói riêng cũng công bố thông tin trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ Nhữngdoanh nghiệp vận tải công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của mình rất hạn chế.

Xuất phát từ vấn đề đó, tác giả đã chọn đề tài “Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.

2 Tổng quan các nghiên cứu về đề tài

2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Hai phương pháp chính được sử dụng trong loại chủ quan để đo lường Công

bố thông tin là Phỏng vấn và Bảng câu hỏi (thường hay gọi là Điều tra) được thực hiện bởi một vài tác giả Hassan và Marston (2010), Coleman và Eccles (1997), Fink, 1995, Gillham, 2000, Frazer và Lawley, 2000) với mục đích cung cấp sự đánhgiá cho các chuyên gia hoặc những đối tượng muốn biết về mức độ CBTT của những doanh nghiệp cụ thể Lang và Lundholm (1993) đã chỉ ra rằng công ty nào CBTT nhiều hơn sẽ có nhiều chuyên gia phân tích hỗ trợ hơn và có sự sai sót ít hơn khi dự báo lợi nhuận Điều này lý giải tại sao sự CBTT nhiều hơn sẽ giúp cho các nhà chuyên gia phân tích chính xác hơn bởi họ có nhiều thông tin hơn để thực hiện (Healy và Papelu, 2001)

Krippendorff (1980) đã định nghĩa phương pháp này bao gồm một loạt quátrình thu thập và tổ chức thông tin theo một mẫu tiêu chuẩn hóa cho phép nhà phântích có thể phân tích, suy luận về những đặc tính và ý nghĩa của thông tin ghi nhận

Phương pháp liệt kê tất cả các mục, nhóm dữ liệu được công bố, đếm sốlượng từ, câu bao gồm trong các báo cáo thường niên (Marston và Shrives,

1991), 3

Trang 15

De Beaugrande và Dressler (1981) Roseberry (1995); (Weber, 1985).

Phương pháp thứ hai được sử dụng để đo lường CBTT là phân tích các sự kiện đặc biệt là đối với những thông tin nhất định được công bố định kỳ và phân tích những tin tức có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến mức độ công bố Một số nghiên cứu về CBTT tự nguyện dựa vào tần xuất sự kiện được báo cáo hay công

bố ra công chúng Phương pháp này ít được sử dụng trong các nghiên cứu so với phương pháp phân tích tài liệu (Textual analysis) và phương pháp sử dụng chỉ số CBTT (Disclosure indexes) Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp này như Lang và Lundholm (2000), Brown và các cộng sự (2004), Verrecchia (2004)

Việc đo lường mức độ công bố là cơ sở để các nghiên cứu tiếp tục tìm ra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố dự đoán đến mức độ công bố thông tin của

doanh nghiệp: nghiên cứu của Healy và Papelu (2001), Heflin và các cộng sự

(2000), Yuemei và Yanxi (2008), Francis W K Sui (2001), Chavent và các cộng sự(2006), Nghiên cứu của Holtz và Neto (2014), Nghiên cứu của Michailesco (2010), Klai và Omri (2011), Fathi (2013), Aljfri (2014), Sartawi và các cộng sự (2014)

Hầu hết các nghiên cứu này sử dụng mô hình hàm hồi quy và sử dụng phương pháp ước lượng OLS hoặc FEM để phân tích Các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới được tổng hợp trong phụ lục 1 trong Luận án (Tổng hợp các nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng)

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty niêmyết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Đoàn Nguyễn Trang Phương(2010), năm 2012, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Phương và các cộng sự

(2012) trong “Nghiên cứu thực trạng CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết

Trang 16

trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”.

Nguyễn Thị Thanh Phương (2015), “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công

bố thông tin tài chính của công ty niêm yết trên Sở GDCK TP HCM”, luận văn thạc sỹ

đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng

đến mức độ công bố thông tin tài chính của Công ty niêm yết trên Sở

Ngô Thị Thu Giang (2018), “Ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đến mức độ CBTT trên TTCK TP HCM”, luận văn thạc sỹ ĐH Kinh tế TP.HCM

Nguyễn Thị Liên Hoa (2017) trong bài nghiên cứu “Minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

Lê Trường Vinh (2015), “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”, luận văn thạc sỹ ĐH Kinh tế Quốc dân.

Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), “Thực trạng minh bạch thông tin tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tài chính của các CTNY trên

TTCK Việt Nam”, luận văn thạc sỹ ĐH Kinh tế Quốc dân

Lê Thị Na (2015), đã thực hiện nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến

Trang 17

mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh Tác giả đã đề cập đến năm nhân tố gồm có:

Quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, độ tuổi của công ty và ngànhnghề kinh doanh Kết quả cho thấy mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh có mối quan hệ cùng chiều với quy mô công ty, khả năng sinh lời và độ tuổi của công

ty, các nhân tố còn lại không có ý nghĩa thống kê

Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào cụ thể về công bố thông tin về trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yếu trên thị trường chứng khoán

Việt Nam Vì vậy đề tài “Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

vẫn có tính mới và ứng dụng thực tiễn cao

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 18

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công bố thông tin về trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp

Phân tích thực trạng trong công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam những năm gần đây Đánh giá kết quả, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của kết quả, hạn chế đó

Phân tích những cơ hội; thách thức đối với việc thực hiện công bố thông tin

về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm minh bạch công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 19

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào Hướng dẫn báo cáo phát triển bền vững và các quy định hiện hành

tại Việt Nam liên quan đến việc công bố thông tin trách nhiệm xã hội của Doanh

nghiệp, cụ thể là thông tư 155/2015/TT-BTC hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán , tác giả xây dựng thang đo đánh giá thông tin trách nhiệm xã

hội Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành đo lường mức độ công bố thông tin trách nhiệm

xã hội trên báo cáo thường niên của các công ty vận tải niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam, từ đó rút ra các đánh giá và đề xuất giải pháp tăng cường

công bố thông tin trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp vận tải

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục

bảng biểu đồ, sơ đồ, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

Chương 2:Thực trạng công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp tăng cường công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT

TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 20

1.1 Tổng quan về công bố thông tin doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm thông tin và công bố thông tin doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về thông tin

Có nhiều cách hiểu khác nhau về thông tin dựa trên các góc độ khác

nhau, cách tiếp cận khác nhau

Theo từ điển Tiếng Việt thì thông tin được định nghĩa như sau: “Thông tin với nghĩa động từ là truyền tin cho nhau để biết, với nghĩa danh từ là điều được truyền đi, tin được truyền đi” (Viện ngôn ngữ, 2002) Theo từ điển Bách Khoa ViệtNam, thông tin được định nghĩa “là một khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại, khái quát về các điều hiểu biết, tri thức, thu được qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau” Cách hiểu về thông tin được nêu trong 2 từ điển này chủ yếu phân tích khái niệm thông tin với góc độ ngôn ngữ học và ngôn ngữ được sử dụng trong khoa học hiện đại

Dưới góc độ nhận thức luận, thông tin là kết quả của sự phản ánh hiện thựckhách quan, được biểu hiện bằng các hệ thống ngôn từ, ký hiệu, hình

ảnh Thông tin đồng nghĩa với các hình thái tri thức mới mẻ, có giá trị phát triển sựhiểu biết của con người (Lê Thị Duy Hoa, 1999) Với cách hiểu này, thông tin đượcphân tích và nhận biết dựa trên sự phân tích về những giá trị, tri thức mới của conngười

Dưới góc độ của lĩnh vực thống kê, thông tin được hiểu là một hệ thống

những tin báo và mệnh lệnh giúp loại trừ sự không chắc chắn trong trạng thái của nơi nhận thông tin Nói cách khác, người phân tích khái niệm về thông tin từ cách tiếp cận của khoa học thống kê cho rằng, thông tin là hệ thống các tin báo để loại

Trang 21

trừ sự không chắc chắn Sự không chắc chắn là trạng thái của nơi nhận tin khiđang chờ đợi một sự kiện xảy ra trong một tập các sự kiện (số lượng có

1.1.1.2 Khái niệm về thông tin doanh nghiệp

Thông tin doanh nghiệp bao gồm tất cả các thông tin liên quan đến tình

hình tài chính và hoạt động kinh doanh của các DN

Về nội dung, các thông tin trên doanh nghiệp rất đa dạng và phức tạp.Tùy theo yêu cầu và mục đích của người sử dụng thông tin mà có những loạithông tin khác nhau

1.1.1.3 Khái niệm công bố thông tin doanh nghiệp

Công bố thông tin doanh nghiệp được hiểu là việc cung cấp các thông tin của

Trang 22

doanh nghiệp cho các bên liên quan để phục vụ cho việc ra quyết định.

Đối tượng sử dụng thông tin doanh nghiệp là bất kỳ tổ chức, cá nhân có

liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN, gồm đối tượng bên trong DN và đốitượng bên ngoài DN

1.1.2 Vai trò của công bố thông tin

Đối với nhà đầu tư: Trên TTCK, nhà đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro rất lớn khi cóđược thông tin không chính xác, không kịp thời Do vậy, việc CBTT sẽ đáp ứngđược nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư, giúp cho các nhà đầu tư có được

đó cổ phiếu công ty được đánh giá đúng giá trị của nó, góp phần tạo nên tính thanh khoản đối với chứng khoán, làm tăng khả năng huy động vốn khi công ty phát hành chứng khoán Mặc dù, giá cổ phiếu công ty có thể sẽ giảm khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả được công ty công bố Tuy

Trang 23

nhiên, điều này vẫn có mặt tích cực của nó, bởi các thông tin trung thực chính là động lực để giúp công ty tìm ra phương án tốt nhất phát triển thương hiệu của mình.

Đối với cơ quan quản lý: Hệ thống thông tin trên TTCK phản ánh tính ổn định của thị trường, tính hiệu quả trong công tác quản lý của cơ quan chức năng và

là cơ sở để cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán) xây dựng, triển khai công tác giám sát, điều hành TTCK, cũng như hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật Ngoài ra, thông qua hệ thống thông tin trên TTCK, cơ quan quản

lý nắm bắt được tình hình, sức khỏe của doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư, từ đó

có những biện pháp đảm bảo sự phát triển ổn định của thị trường như kịp thời đưa

ra các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK, có động thái trấn an nhà đầu tư khi TTCK xuất hiện các “tin đồn”, yêu cầu công ty giảitrình khi có các dấu hiệu giao dịch bất thường

1.1.3 Phân loại thông tin doanh nghiệp

Có nhiều cách phân loại thông tin doanh nghiệp:

Thông tin tài chính là những thông tin liên quan đến dòng tiền, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông tin tài chính có thể là thông tin trong quá khứ hoặc thông tin mang tính dự báo Thông tin tài chính có thể được đo lường một cách chính xác và biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ Thông tin tài chính thường được thể hiện trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp

(Nivra, 2009)

Trang 24

• Thông tin phi tài chính

Thông tin phi tài chính là tất cả những thông tin không phải là thông tin tài chính Các thông tin này thường khó thiết lập các nguyên tắc, chuẩn mực để đánh giá mức độ chính xác, tin cậy của thông tin, có thể biểu hiện bằng giá trị hoặc phi giá trị, thường mang tính chất bổ sung, thuyết minh cho thông tin tài chính Thông tin phi tài chính có thể là thông tin về trình độ học vấn của các thành viên trong hội đồng quản trị, thông tin về phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp sử dụng, các

kế hoạch kinh doanh trong tương lai, thông tin về xung đột lợi ích của các bên liên quan Ngoài ra, thông tin phi tài chính còn có thể nằm ở các báo cáo độc lập khác như: báo cáo về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, báo cáo về bảo vệ môi trường của DN

Thông tin bắt buộc là những thông tin mà việc công bố được coi là nghĩa vụbắt buộc theo quy định của pháp luật Với TTCK, việc công bố thông tin bắt buộc

là quan trọng và cần thiết vì những thông tin này trực tiếp ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường sớm phát triển và có TTCK hoạt động hiệu quả, pháp luật của những nước này đều yêu cầu các doanh nghiệp phải công bố những thông tin như các báo cáo tài chính định

kỳ, các hoạt động quan trọng khác được coi sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán

11

Thông tin tự nguyện được hiểu là thông tin không bắt buộc phải công bố

Trang 25

theo quy định luật pháp mà doanh nghiệp chủ động và tự nguyện công bố Việc công bố thông tin tự nguyện nhằm mục đích nâng cao uy tín công ty, củng cố và tăng cường quan hệ với các nhà đầu tư và tránh các rủi ro phát sinh Công bố thông tin tự nguyện nhằm giới thiệu, giải thích về tiềm năng của công ty cho các nhà đầu tư, tăng cường tính thanh khoản của thị trường, đảm bảo việc phân bổ vốn hiệu quả hơn và giảm chi phí vốn, đồng thời hoàn thiện hơn cơ chế thông tin giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư.

1.2 Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội

Trong cuốn sách Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả Michel

Capron và Francoise Quairel - Lanoizelee cho rằng trách nhiệm được hiểu là điều kiện quy trách (imputability) những hành động cho chủ thể nào đó Theo quan niệm này, trách nhiệm là cơ sở để đánh giá và quy trách nhiệm Phải chăng, hiểu ở

nghĩa này, khái niệm trách nhiệm chỉ được sử dụng khi có hành vi gây hậu quả

Cũng trong cuốn sách trên, các tác giả đã chỉ rõ, về mặt từ nguyên học, thuật ngữ

“trách nhiệm” - “respondere” có nguồn gốc từ tiếng Latinh, có nghĩa là “bảo đảm cho”, “sự đáp lại”.

Kế thừa một số cách nhìn về trách nhiệm nêu trên, tác giả luận văn cho

rằng, trách nhiệm là phạm trù phản ánh sự nhận thức và hành động của một chủ thể xã hội theo bổn phận vốn có của mình trong xã hội Trong khái niệm này, có một số điểm cần được nhấn mạnh như sau:

Trách nhiệm được thể hiện trong quan hệ giữa cá thể này với cá thể khác

và với cộng đồng, cũng như với môi trường sống xung quanh

Trang 26

+ Thái độ của chủ thể và hành động biểu thị thái độ đó luôn được qui định bởi bổn phận của chủ thể khi vận động trong xã hội.

bổn phận và cùng với hành động thực thi thái độ ấy phản ánh chiều hướng tác

động 12

qua lại với xã hội theo hai véctơ tích cực hoặc tiêu cực

luôn mang tính xã hội, tính lịch sử, tính thời đại và có đầy đủ tư cách để được xem là một hiện tượng xã hội trong đời sống của con người

Dựa vào chiều hướng, mức độ thực thi trách nhiệm của các chủ thể, có thểphân loại các trách nhiệm theo đặc trưng giá trị, tức xét theo giá trị đóng góp, theo

đó, có thể phân loại thành trách nhiệm mang tính tích cực và hay tính tiêu cực

Theo đặc trưng chủ thể, chúng ta có sự phân chia trách nhiệm thành TNXH hay

trách nhiệm cá nhân Dựa vào tính chất, thì lại có trách nhiệm bồi thường, xử lý

hậu quả; trách nhiệm dự báo về hậu quả có thể xảy ra do hành vi của chủ thể, mangtính đề phòng

Khái niệm trách nhiệm xã hội:

TNXH đòi hỏi khả năng nhìn thấy trước và nhận về mình những hậu quả của hành vi Theo Đỗ Hoài Nam: “TNXH là sự ý thức của mọi chủ thể về nghĩa vụ, bổn

phận của mình đối với xã hội, với cộng đồng và với người khác; được biểu hiện thông qua nhận thức và hành động cụ thể trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên Về thực chất, TNXH được hình thành từ quyền và nghĩa

vụ của cá nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân”

Trang 27

Cách hiểu trên đã đề cập đến sự nhận thức về bổn phận của chủ thể đối với xã hội trong mối liên hệ với các chủ thể khác theo lợi ích, nhưng chưa thấy nhận thức và hành động thực thi TNXH là một quá trình Quá trình ấy có những chiều hướng phát triển khác nhau, có khi đối lập nhau.

Với sự phân tích quan niệm về TNXH nêu trên, tác giả luận văn cho rằng:

Trách nhiệm xã hội là phạm trù phản ánh sự nhận thức và hành động vì mục tiêu lợi ích, giá trị xã hội của một chủ thể xã hội theo bổn phận là một thành viên xã hội

TNXH là một nghĩa vụ của nhiều chủ thể trong xã hội Trong nền kinh tế thị trường,

các chủ thể có thể được phân chia theo ba khu vực: Khu vực nhà nước (public sector), khu vực tư nhân (private sector), khu vực xã hội (social sector - tổ chức

thuộc xã hội dân sự, tổ chức phi chính phủ ) Mỗi một chủ thể có TNXH theo

Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp:

Năm 1953, Howad R Bowen là người đầu tiên đưa ra khái niệm TNXH

của DN trong công bố Social Responsibility of the businessman (TNXH của giới

kinh doanh) (Harper and Row, New York): “Nghĩa vụ của doanh nghiệp để theo đuổi những chính sách, thực hiện những quyết định, hoặc có chuỗi những hành động được mong đợi phù hợp với mục tiêu và các giá trị của xã hội của chúng ta” (“It refers to the obligation of businessmen to pursue those polices, to make those

Trang 28

decisions, or to follow those lines of action which are desirable in terms of the objective and values of our society”) Do đó, Bowen được coi là “người khai sinh”

khái niệm TNXH của DN Michel Capron và Francoise Quairel - Lanoizelee đánh

giá về quan niệm này như sau: “Đây là một quan niệm nhấn mạnh đến lòng từ thiệnvới tư cách hệ luận của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân nhằm mục tiêu sửa chữa khuyết điểm của hệ thống và bồi hoàn cho những sự lạm dụng và vi phạm hơn là ngăn ngừa hay dự liệu nhằm tránh những thiệt hại do hoạt động của doanh nghiệp gây ra Mặt khác, quan niệm này cũng phù hợp với những đặc trưng xã hội, văn hóa và thiết chế của Mỹ Theo đó, cá nhân là trung tâm của tất cả mọi thứ, trách nhiệm chủ yếu thuộc về cá nhân Một cách tổng quát, có thể tóm tắt quan niệm ở

Mỹ về TNXH của DN qua công thức “lợi nhuận trước, bác ái sau”.

Khái niệm TNXH của DN mà Bowen xây dựng, thực chất nhấn mạnh đến trách nhiệm sửa chữa những sai lầm của doanh nghiệp hơn là trách nhiệm dự báo

và có ý thức phòng tránh những thiệt hại có thể xảy ra do tác động và ảnh hưởng của doanh nghiệp tới xã hội

Caroll là người đầu tiên chia TNXH của DN thành các lớp khác nhau làm cho khái niệm TNXH của DN vượt ra khỏi phạm vi kinh tế vươn tới phạm vi đạo

đức Tuy nhiên, trong khái niệm của mình, ông không đề cập quá trình nhận

thức 14

của doanh nghiệp về TNXH của DN và mục tiêu TNXH của DN hướng tới lợi ích xã hội như thế nào Bên cạnh đó, ông cũng chưa đề cập trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của con người

Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) cho rằng, TNXH của DN là

Trang 29

sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững, không chỉ là trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bảo thu nhập cho các cổ đông, lương cho người lao động, sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng mà còn là trách nhiệm đối với các giá trị của xã hội và của môi trường.

Cách hiểu này nhấn mạnh, TNXH của DN là sự cam kết đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững trong mối quan hệ với người lao động vì lời ích các chủ thể liên quan và lợi cho cả doanh nghiệp lẫn xã hội Cốt lõi của khái niệm này là doanhnghiệp tự quyết định việc thực hiện TNXH của mình Ưu điểm của khái niệm này

là đã cho thấy sự nhận thức (cam kết) của doanh nghiệp về TNXH của mình và hướng tới mục tiêu lợi ích xã hội, nhưng nó lại chưa chỉ ra quá trình nhận thức đó

tự nguyện hay do sức ép từ phía xã hội Giới hạn TNXH của DN dường như được

mở rộng, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà phạm vi toàn cầu, ví dụ như vấn đề đối phó với biến đổi khí hậu Khái niệm TNXH của DN của nhóm tác giả này nhanh chóng được sử dụng phổ biến trong nhiều quốc gia

Các nghiên cứu về TNXH của DN làm cho quan niệm về nó được mở rộng phù hợp với điều kiện thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn có nhiều tranh luận liên quan đến quan niệm này TNXH của DN được hiểu như thế nào cho đúng vẫn đang là một câu hỏi chưa có lời giải đáp thống nhất Trên cơ sở phân tích, kế thừa những quan điểm về TNXH của DN của các tác giả, xuất phát từ phân tích khái niệm trách nhiệm và TNXH, tác giả luận văn cho rằng:

Tóm lại, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được xem như một thuật ngữ rộng, nên một sự toàn diện hoặc định nghĩa thống nhất vẫn còn là một câu hỏi Hầu hết các nỗ lực xác định CSR chỉ giải quyết một khía cạnh của nó Với bất kì một nghiên cứu nào về CSR cũng không thể vận dụng đơn độc một khái niệm nhất định

Trang 30

cụ thể nào Mà để đánh giá hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cần

tích 15

hợp các khái niệm và trọng tâm dựa trên việc lựa chọn cách tiếp cận nào, lăng kính nào của người nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể trong đoạn tiếp theo

1.2.2 Ý nghĩa của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.2.2.1 Đối với doanh nghiệp

Thứ nhất, làm gia tăng năng suất, thị phần, lợi nhuận của doanh nghiệp:

thực hiện TNXH của DN phải xuất phát từ chính nhu cầu tồn tại và phát triển của bàn thân doanh nghiệp Điều này sẽ làm cho hoạt động mang tính TNXH thiết thựchơn, việc áp dụng các chỉ tiêu TNXH mang tính tự giác hơn Nếu doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH, quan tâm đời sống của người lao động, thực hiện chế độ bảo hiểm đầy đủ, an toàn vệ sinh lao động, đào tạo nghề cho người lao động để tăng giá trị cá nhân và cơ hội phát triển nghề nghiệp, cải tiến quy trình quản lý, sản xuất , thì doanh nghiệp sẽ quản lý nguồn nhân lực hiệu quả hơn; giảm thiểu số nhân viên nghỉ việc, thu hút lao động giỏi, có môi trường làm việc và bầu không khí làm việc trong lành, khích lệ người lao động, giúp họ cải thiện cuộc sống của mình và gia đình, vì vậy sẽ làm cho người lao động gắn bó với tổ chức, làm việc hiệu quả hơn Mặt khác, tiết kiệm năng lượng và các nguồn tài nguyên khác giúp cho doanh nghiệp cắt giảm chi phí để tăng hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế địa phương; tham gia dự án cộng đồng; tham gia bảo vệ môi trường;v.v doanh

nghiệp sẽ tăng năng suất lao động; tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.

Thứ hai, tăng sức cạnh tranh, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp: khi

người lao động, khách hàng, đối tác, nhà đầu tư, cộng đồng xã hội tin tưởng doanh

Trang 31

nghiệp, họ sẽ mua hàng, liên kết kinh doanh, sử dụng hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp đó nhiều hơn Hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp cũng được

để lại dấu ấn, được khẳng định và phát triển trên thị trường Sự cạnh tranh này là cạnh tranh an toàn và lành mạnh, đi vào chiều sâu Muốn làm được điều đó, doanhnghiệp phải công khai, minh bạch về thông tin từ thông tin quảng cáo, thông tin vềgiá, điều kiện bảo hành sản phẩm, đến thông tin nguồn gốc, thành phần của sản phẩm Cộng đồng xã hội sẽ có cái nhìn thân thiện hơn với doanh nghiệp Xã hộitôn vinh những doanh nghiệp không phải chỉ qua giải thưởng, danh hiệu mà

doanh 16

nghiệp đạt được mà ở việc tuân thủ pháp luật, thực hiện nghĩa vụ thuế, bảo vệ môi trường, chăm lo phúc lợi và an sinh xã hội Kinh doanh bền vững và thực hiện TNXH là đầu tư cho tương lai Việc thực hiện TNXH của DN một cách toàn diện

sẽ có một vai trò quan trọng trong việc tạo ra “quyền lực mềm” để nâng cao uy tín, thương hiệu

Thứ ba, là công cụ để quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn: thực hiện

TNXH của DN đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược phát triển dài hạn

và không ngừng cải tiến quản lý doanh nghiệp dựa trên việc sử dụng công nghệ, kỹthuật quản lý hiện đại: hệ thống phần mềm quản trị nhân sự, xử lý nước thải trước khi xả thải môi trường, hệ thống phần mềm bán hàng, quản lý hàng hóa; Ngoài

ra, doanh nghiệp cũng cần chuẩn hóa các bảng biểu mẫu, các loại báo cáo liên quanquản lý lao động, quản lý hàng hóa, để nâng cao tính chuyên nghiệp hơn

Thứ tư, là tiền đề để hình thành nên các doanh nghiệp xã hội: doanh nghiệp xã

hội (Social Enterprise - DNXH) hiện nay đã hình thành ở nhiều quốc gia trên thế giới(ở Việt Nam khoảng 300 tổ chức được xem có đầy đủ các đặc điểm của DNXH

Trang 32

và loại hình doanh nghiệp này đã được luật hóa - điều 10, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về tiêu chí, quyền, nghĩa vụ của DNXH) DNXH là những doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, được thành lập với mục tiêu là đểgiải quyết một vấn đề xã hội nhất định, phần lớn lợi nhuận thu được dùng để phục

vụ mục tiêu xã hội và môi trường DNXH có ba đặc điểm then chốt sau đây: đặt mục tiêu, sứ mệnh xã hội lên hàng đầu, ngay từ khi thành lập; sử dụng các hoạt động kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng như một phương tiện để đạt mục tiêu xã hội đó; tái phân bổ phần lớn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trở lại cho tổ chức, cộng đồng, và mục tiêu xã hội [21, 9] Chúng ta đã thấy bước tiến từ doanh nghiệp truyền thống đến doanh nghiệp có TNXH và đến DNXH

1.2.2.2 Đối với xã hội

Thứ nhất, góp phần cải tạo xã hội và đáp ứng yêu cầu của xã hội: doanh

nghiệp tạo ra những sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của con người Đó là sự

đóng góp, bảo vệ, phát triển cộng đồng, xã hội loài người Hơn nữa, hiện nay

người 17

ta đang đề cao mục tiêu và chiến lược phát triển xã hội cho con người và vì chính con người Sản phẩm sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp cung ứng ra xã hội tuy mang giá trị xã hội với mức độ khác nhau, song, thông qua đó chính doanh nghiệp đã góp phần cải tạo xã hội từ lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đến góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Doanh nghiệp phát triển sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội

Thứ hai, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: TNXH đang là vấn đề mang tính toàn cầu, hiện nay đã và đang là một phần của “luật chơi” trong nền

Trang 33

kinh tế thế giới Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, Việt Nam phải

chấp nhận “luật chơi” của thế giới, trong đó, việc đẩy mạnh thực hiện TNXH là

một vấn đề bắt buộc phải làm không phải chỉ trên bình diện doanh nghiệp mà còn trên bình diện ngành, địa phương, quốc gia Khi gia nhập WTO, TPP, hàng rào

thuế quan không còn nhưng thay vào đó là những hàng rào, quy chế mang tính kỹ thuật ví dụ quy chế PNTR, các bộ quy tắc ứng xử COC, SA 8000, ISO 14000,

WRAT, FLA, ETI, các công ước của ILO Các tiêu chuẩn TNXH chính là hàng rào kỹ thuật lớn nhất trong cạnh tranh Các doanh nghiệp Việt Nam muốn xâm nhập vào thị trường quốc tế này, cần tuân thủ một số quy tắc kinh doanh có TNXH như các doanh nghiệp quy mô trên thế giới đã làm Khi kinh doanh với các đối tác

là doanh nghiệp lớn của nước ngoài, họ đã gây sức ép rất lớn cho các doanh nghiệpViệt Nam, yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam trong vấn đề cam kết và thực hiện TNXH Rõ ràng trong thời kỳ hội nhập, thực hiện TNXH là sự ràng buộc không tránh khỏi của doanh nghiệp Việt Nam trước sức ép cạnh tranh và của sự sống còn

Có thể nói, bên cạnh sức ép từ phía khách hàng, người lao động trong tổ chức, các

tổ chức xã hội, các quy định của luật pháp, thái độ và ý thức của cộng đồng nói chung thì doanh nghiệp còn chịu sức ép từ phía đối tác, khách hàng của thị trường nước ngoài khiến cho các doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện TNXH Ở Việt Nam, hai ngành da giầy và dệt may là một minh chứng cho sự chịu sức ép từ bên ngoài Các đối tác khó tính như Nhật Bản, châu Âu, Mỹ buộc doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ những tiêu chuẩn riêng của họ

Thứ ba, góp phần xây dựng một nền văn hóa kinh doanh phù hợp với điều

18

kiện kinh tế thị truờng, định hướng xã hội chủ nghĩa: ở nước ta, quá trình chuyển

Trang 34

đổi nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường đã xác định một nền tảng cấu trúc kinh tế mới Qua gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta không ngừng biến đổi theo hướng hợp lý hơn Dù với cách diễn giải, định nghĩa khác nhau, nhưng thực chất đó là nền kinh tế sản xuất hàng hóa gồm nhiều thành phần khác nhau vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Tính đa dạng vềthành phần và sở hữu cũng kéo theo tính đa dạng về qui mô, mức độ và giá trị của TNXH mà các doanh nghiệp thực hiện Đồng thời, trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, nhà nước và xã hội đòi hỏi ở các doanh nghiệp thực hiện TNXH ngày một cao và cấp thiết Chính yêu cầu ấy lại là áp lực xã hội, tạo động lực để doanh nghiệp phải từng bước phát triển để thực thi TNXH ngày một hiệu quả hơn Doanh nghiệp là một thiết chế kinh tế trong thời buổi cạnh tranh gay gắt và đồng thời có vị thế một chủ thể xã hội nên doanh nghiệp tất yếu trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống kinh tế - xã hội của đất nước Doanh nghiệp sử dụng nhiều nguồn lực vật chất và tinh thần của xã hội, được xã hội (thông qua hệ thống luật pháp của nhà nước) bảo hộ và được đảm bảo những quyền lợi hợp pháp

và chính đáng Lợi ích ấy các doanh nghiệp được thụ hưởng thì doanh nghiệp phải

có nghĩa vụ hoàn trả lại những gì xã hội tạo giúp thông qua trách nhiệm của mình trên các khía cạnh kinh tế, luật pháp, đạo đức, bảo vệ môi trường Hiệu quả TNXH của DN sẽ có hiệu ứng thúc đẩy tiến bộ xã hội

Doanh nghiệp là lực lượng năng động nhất trong kinh tế thị trường, gánh vác vai trò phát triển kinh tế lại không chỉ vì lợi ích kinh tế thuần túy, mà còn phải lấy pháttriển kinh tế làm động lực phát triển trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội Mục tiêu lợi ích của doanh nghiệp cần gắn bó chặt chẽ với lợi ích cộng đồng theo quan điểm phát triển bền vững và cân đối hài hoà lợi ích của các đối tượng có liên quan trong xã hội, vìdoanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ tập trung coi

Trang 35

trọng mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Doanh nghiệp là một loại hình tổ chức kinh tế của kinh tế thị trường Các doanh nghiệp có vai trò to lớn trong việc phát triển đồng bộ cácloại thị trường Phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan mà

không một quốc gia nào không thực hiện Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế

thị 19

trường bên cạnh những thành tựu về kinh tế - xã hội mà nó mang lại thì không phảikhông có những mặt trái đang tác động đến con người và xã hội: lối sống vị kỷ, khuynh hướng coi trọng giá trị của thị trường là giá trị thực duy nhất dùng để quy chiếu các giá trị khác, khuynh hướng chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá Với vị thế một chủ thể xã hội, doanh nghiệp thực hiện TNXH càng hiệu quả, thiết thực bao nhiêu thì càng góp phần giảm thiểu những mặt trái của nền kinh tế thị trường

Hệ quả, doanh nghiệp góp phần tích cực xây dựng con người nhân văn hơn và xã

hội lành mạnh hơn Đây chính là nội dung quan trọng trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN Những hiện tượng

sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, những hành vi ứng xử với người lao động và những vi phạm luật bảo vệ môi trường (như nêu ở trên) cho thấygiữa phương châm, triết lý và hành động thực tế thường thiếu sự thống nhất Nếu pháp luật không nghiêm túc xử lý những hành vi gây tổn thương con người thì chẳng những trật tự, an toàn xã hội không được đảm bảo, mà nguy cơ đổ vỡ của doanh nghiệp tất yếu sẽ xảy ra Không khác gì điều mà một ngạn ngữ n Độ diễn tả:gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận đã cảnh báo Từ đây suy ra rằng: Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ chấtlượng của bản thân các hàng hóa, dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ đạo đức sảnxuất, kinh doanh của họ Thực trạng những hành vi trái đạo đức kinh doanh của

Trang 36

một số doanh nghiệp Việt Nam đang là rào cản trong việc xây dựng thương hiệu sạch cho hàng hóa của chính họ Trong sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có thể có nhữngbiểu hiện sai sót về kỹ thuật, nhưng hành động kinh doanh, sản xuất phương hại đến con người và đời sống của họ thì không ai có thể thể chấp nhận được, vì đó là những hành vi trái đạo đức, văn hóa Ngày nay muốn sản xuất, kinh doanh tốt phải có đạo đức tốt Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển bền vững khi khẳng định được

uy tín, thương hiệu dựa trên chất lượng sản phẩm vì con người Ngày nay, người tiêu dùng đang ngày càng trở thành “người tiêu dùng thông thái” Nếu doanh nghiệp làm người tiêu dùng tổn thương, mất niềm tin, chắc chắn sớm muộn sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị tẩy chay Tố chất đạo đức kinh doanh

đòi hỏi doanh nghiệp tự bồi đắp bằng tận tâm phục vụ khách hàng, tôn trọng

quyền, 20

lợi ích của khách hàng, giữ uy tín với khách hàng Khi nói kinh doanh có văn hoá tức đề cập đến vấn đề cốt lõi là vấn đề đạo đức của người kinh doanh Nói cách khác, kinh doanh có văn hoá là kinh doanh phải có đạo đức Nhiều doanh nghiệp

nêu triết ly kinh doanh cu a mi nh mang tinh th ần "Giá trị tốt đẹp nhất hướng tới

là phục vụ con người” hay “Tất cả vì con người, hướng tới con người và giữa những con người" Đây cũng là phương châm hành động của doanh nghiệp muốn hướng tới TNXH đích thực hướng tới sự phát triển con người Khi chủ thể doanh

nghiệp và chủ thể khác thực hiện tốt TNXH, đó cũng là cách làm cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp hơn Giá trị cốt lõi của TNXH của DN chính là vì

sự phát triển của con người và xã hội một cách bền vững

1.2.3 Nội dung trách nhiệm xã hội

Phù hợp với cách tiếp cận về khái niệm đề cập ở phần trước, trong giới hạn

Trang 37

nhất định, luận văn tập trung vào một số nội dung chính TNXH của DN như sau:

Trách nhiệm với cộng đồng: doanh nghiệp góp phần vào việc cải thiện cũng

như phát triển đời sống cộng đồng, đầu tiên là cộng đồng địa phương nơi doanh nghiệphoạt động, và đóng góp cho sự phát triển bền vững của môi trường văn hóa - kinh tế -

xã hội Trách nhiệm này được thể hiện thông qua một số hoạt động như: đóng góp xây dựng quốc phòng an ninh; đóng góp phát triển cơ sở hạ tầng cho địa phương; tham gia các hoạt động từ thiện; xóa đói giảm nghèo; đầu tư vào giáo dục, tài trợ các hoạt động văn hóa, thể thao của địa phương, xã hội; trợ giúp cho những đối tượng bảo trợ, cần được hỗ trợ như người gặp thiên tai, người già, trẻ em, người khuyết tật, phụ nữ

có hoàn cảnh khó khăn, éo le, Trong nhận thức, một số người đứng đầu doanh nghiệp

có thể bất bình với việc tại sao mình phải thực hiện nhiều loại trách nhiệm như vậy Cómột sự không công bằng đối với chủ thể doanh nghiệp hay chăng? Tuy nhiên, đó là nhận thức của chủ thể chưa hiểu đúng đắn về bản chất của việc thực hiện TNXH Ở đây, tác giả luận án luôn nhấn mạnh quan điểm chủ đạo của mình khi xem xét việc thực hiện TNXH của DN là mối quan hệ biện chứng giữa các sự vật, hiện tượng trong

xã hội (giữa chủ thể doanh nghiệp với

những tư cách khác nhau như thiết chế kinh tế, chủ thể xã hội và các chủ thể

khác 21

trong xã hội) và đứng trên quan điểm quan hệ lợi ích xem xét vấn đề TNXH của DN (thực hiện TNXH của DN không chỉ đem lại lợi ích cho xã hội mà là cách doanh nghiệp đem lại lợi ích cho chính mình) Nếu như doanh nghiệp thờ ơ với những TNXHcốt yếu này thì có nghĩa là doanh nghiệp đã tự loại bỏ mình ra khỏi tồn tại

xã hội.Trách nhiệm với môi trường: Trách nhiệm bảo vệ môi trường xung quanh.

Trang 38

Cơ bản, doanh nghiệp cần đảm bảo các hoạt động thân thiện với môi trường sinh thái, ít nhất không vì lý do kinh tế mà gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và nhiều yếu tố khác Sau đó, doanh nghiệp thực hiện các chương trình góp phần bảo vệ môi trường cũng như nâng cao sự hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường cho các đối tượng khác Ngày nay, trách nhiệm môi trường không còn dừng lại ở mỗi cá nhân hay tổ chức cụ thể, mà nó trở thành trách nhiệm vừa mang tính pháp lý vừa mang tính quy phạm xã hội của toàn nhân loại Vấn đề bảo vệ môi trường được nhìn nhận như là một trong những yếu tố cốt lõi của phát triển bền vững và chống biến đổi khí hậu Đó là vấn đề có tính toàn cầu Bảo vệ môi trường vẫn đang là cuộc chiến nóng bỏng và phức tạp Cuộc đấu tranh này diễn ra cả trên lĩnh vực tư tưởng, pháp lý, lẫn đạo đức Thành công của cuộc chiến này trước hết phụ thuộc nhiều vào lương tâm của doanh nhân trong ứng

xử với môi trường; sự quản lý của chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế trongviệc hình thành hành lang pháp luật và kiểm soát thực thi pháp luật bảo vệ môi trường và tiếp theo là sức ép của cộng đồng (dư luận xã hội)

Doanh nghiệp phải thực hiện tốt pháp luật của quốc gia và quốc tế về môi

trường Trách nhiệm môi trường thể hiện qua những hoạt động cụ thể như: Tuân thủ pháp luật, yêu cầu, tiêu chuẩn môi trường; dự báo tác hại với môi trường có thể có, xây dựng phương án, kế hoạch và lập báo cáo định kỳ với cơ quan quản lý của nhà nước và trên phương tiện thông tin đại chúng; cam kết không khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường (môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn ); sử dụng công nghệ, trang thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất đúng quy định của pháp luật và theo hướng thân thiện với môi

trường; có quy trình xử lý nước thải, chất thải đúng quy định, không xả chất

thải 22

Trang 39

rắn, chất thải độc hại hủy hoại môi trường; tham gia hoạt động bảo vệ môi

trường sinh thái bằng các hoạt động tái đầu tư các dự án bảo vệ môi trường

trong cộng đồng dân cư,v.v

Trách nhiệm với người tiêu dùng: doanh nghiệp đảm bảo các thông tin đáng

tin cậy và sự an toàn sản phẩm cho người sử dụng, gây dựng sự hài lòng cho khách hàng, tập trung phát triển sản phẩm theo các xu hướng tiêu dùng tương lai, nắm bắt được nhu cầu ngắn hạn cũng như dài hạn của người tiêu dùng Doanh nghiệp là chủthể tạo ra của cải, vật chất cho xã hội đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên và tốt hơn về vật chất và văn hóa của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội TNXH của DN là trên cơ sở nguồn lực đầu vào, sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nhằm phát triển thị trường hàng hóa góp phần tạo ra sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Trách nhiệm này cụ thể bao gồm: Tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch

vụ phong phú có tiêu chuẩn về chất lượng nhất định, an toàn với người tiêu dùng Các thông số trên hàng hóa luôn đúng với chất lượng của nó Tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đều chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất ra nó không

có TNXH; Các thông tin về quảng cáo sản phẩm phải đảm bảo độ chính xác cao Cho phép cạnh tranh trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm nhưng cạnh tranh phải lành mạnh, công bằng; áp dụng khoa học công nghệ mới để tạo ra sản phẩm Việc thành lập bộ phận nghiên cứu và triển khai là rất cần thiết để tạo ra sự đa dạngcủa các sản phẩm trên thị trường; Xây dựng sản phẩm có thương hiệu quốc gia và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trách nhiệm sản phẩm: là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà

sản xuất đối với người tiêu dùng Nó dựa trên nguyên tắc là các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm, từ cung cấp nguyên vật liệu sản xuất, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu,

Trang 40

người phân phối sản phẩm, phải đảm bảo an toàn sản phẩm khi đưa vào lưu thông và

họ phải chịu trách nhiệm trước bất kỳ thiệt hại nào gây ra cho người tiêu dùng do sản phẩm không đảm bảo mức độ an toàn hợp lý Tuy nhiên, trong nền kinh tế hàng hóa, khi người sản xuất không đồng thời đóng vai trò là người bán, trực tiếp thực hiện việc bán hàng cho người sử dụng, xuất hiện những khâu trung gian thực hiện

hoạt động thương mại sẽ rất khó khăn cho người tiêu dùng xác định chủ thể phải

bồi 23

thường Trách nhiệm này ở mỗi quốc gia quy định khác nhau

Trách nhiệm đối với người lao động: hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh

nghiệp về thực chất là khai thác và đáp ứng nhu cầu của con người Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển của doanh nghiệp suy cho cùng là do người lao động và khách hàng tạo ra Sự thành bại của doanh nghiệp nói riêng và tổ chức nói chung hiện nay phụthuộc rất nhiều vào đội ngũ người lao động Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp này cạnhtranh với doanh nghiệp khác không chỉ ở vốn đầu tư, ở công nghệ hiện đại mà còn ở chất lượng của người lao động Chính sách đãi ngộ, điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi, có văn hóa, có cơ hội nghề nghiệp phát triển tạo ra “sức hút” người lao động giỏi về doanh nghiệp Người lao động gắn bó, yêu thích công việc của mình phần lớn là

do điều kiện, môi trường làm việc, chế độ tiền lương, tiền thưởng, chế độ phúc lợi hợp

lý Doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu này đồng nghĩa với việc tạo ra đội ngũ người lao động trung thành và phấn đấu hết mình, đồng hành cùng doanh nghiệp Doanh nghiệp thực hiện TNXH sẽ tạo điều kiện cho người lao động phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần do họ được đảm bảo các chế độ, quyền lợi lao động, điều kiện, môi trường lao động Các nội dung chính trong TNXH của DN đối với người lao động bao gồm: trách nhiệm với nâng cao

Ngày đăng: 21/11/2023, 08:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w