1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an

201 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Thạc Sĩ Vai Trò Giáo Dục Pháp Luật Đối Với Phạm Nhân Đang Chấp Hành Tại Các Trại Giam Thuộc Bộ Công An
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó,hiện nay trong quá trình chấp hành án tại trại giam vẫn còn tồn tại tình trạngmột số phạm nhân vi phạm nội qui, kỷ luật trại giam như: trốn trại, đánhnhau, trộm cắp, chây lườ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện tượng tội phạm cũng như những hiện tượng lệch chuẩn xã hội đềuđược coi là “những hành vi không bình thường” [126, tr.52], tức là nhữnghành vi đã vi phạm các chuẩn mực, quy tắc xã hội được mọi người hoặc củamột nhóm người chấp nhận Hành vi mà người thực hiện nó sẽ gặp phải sựphản ứng mạnh mẽ của xã hội, những gì được coi là tội phạm hay là sự lệchchuẩn của xã hội (hành vi chống xã hội) đều là hành vi vi phạm, kèm theo làcác hình thức trừng phạt các hành vi đó như: sự phản đối, tẩy chay, phạt tiền,phạt tù, hay tử hình Năm 2013, Bộ Công an quản lý 49 trại giam với tổng sốphạm nhân là hơn 130.000 phạm nhân với thành phần, tính chất tội phạmngày càng nguy hiểm, phức tạp [4, tr.1] Giáo dục phạm nhân để đầu vào làmột người phạm tội, đầu ra là một công dân lương thiện, có ích cho xã hộivừa là nhiệm vụ vừa là mục đích chủ yếu của các trại giam thuộc Bộ Công an.Hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến việc giữ gìn trật tự, nội qui, kỷ luật,bảo vệ an toàn trại giam, làm giảm sự chống phá của phạm nhân trong quátrình chấp hành án, góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh, phòng ngừa tộiphạm giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội [28, tr.2]

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác này, Nhà nước luôn quantâm đến việc ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạtđộng công tác trại giam [28, tr.10] Đây là những căn cứ pháp lí quan trọnglàm nền tảng cho hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở trại giam Đểgiáo dục pháp luật có hiệu quả, đạt được mục đích của công tác giáo dục, cơquan có thẩm quyền đã từng bước đổi mới nội dung, hình thức, phương phápgiáo dục Thông qua đó giúp phạm nhân định hướng lại nhận thức, tuân thủNội qui trại giam, điều chỉnh lại hành vi bản thân cho phù hợp với các chuẩnmực đạo đức và pháp luật Mỗi năm có hàng vạn lượt phạm nhân được giảm

Trang 2

thời hạn chấp hành hình phạt tù, được ra trại trước thời hạn hoặc được đặc xátrở về đoàn tụ với gia đình Từ năm 2008 đến năm 2013 có 48.053 phạm nhânđược đặc xá tha tù trước thời hạn, nhiều phạm nhân trở về với xã hội đã thực

sự tiến bộ, làm ăn, sinh sống lương thiện, đem lại hạnh phúc cho thân nhân,gia đình, góp phần sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước (năm

2009 đặc xá 20.599 người tính đến ngày 31/12/2013 chỉ có 150 người táiphạm chiếm 0,72%) [3, tr.3] Hầu hết đối tượng phạm tội xâm phạm an ninhquốc gia sau khi chấp hành hình phạt tù đã từ bỏ ý thức và hoạt động chốngphá chính quyền, chế độ, hàng trăm phạm nhân là người nước ngoài khi trở về

Tổ quốc đã có cái nhìn mới, đầy đủ, toàn diện hơn về hệ thống pháp luật hình

sự, tố tụng hình sự cũng như chính sách giam giữ, thi hành án hình sự củaNhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đạt được kết quả đó, côngtác giáo dục pháp luật đóng góp vai trò rất lớn Tuy nhiên, công tác giáo dụcpháp luật vẫn chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, chưa đáp ứngđầy đủ đòi hỏi của xã hội đối với chất lượng công tác thi hành án phạt tù [28,tr.4] Theo kết quả khảo sát những người chấp hành án phạt tù trở về địaphương cư trú từ năm 2002 đến năm 2012, số người tái phạm tội chiếm tỷ lệ18,86%, số người được đặc xá tái phạm chiếm 3,02% [4, tr.17] Bên cạnh đó,hiện nay trong quá trình chấp hành án tại trại giam vẫn còn tồn tại tình trạngmột số phạm nhân vi phạm nội qui, kỷ luật trại giam như: trốn trại, đánhnhau, trộm cắp, chây lười lao động; xuất hiện một số phạm nhân với các tộidanh khác nhau, kể cả phạm tội hình sự thường và xâm phạm an ninh quốcgia không chịu nhận tội, không chịu tiếp thu giáo dục, chống đối quyết liệtvới các hình thức từ thấp đến cao, cả công khai trắng trợn đến tinh vi xảoquyệt [4, tr.15] Trước tình trạng đó để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tácgiáo dục cho phạm nhân, vấn đề đặt ra là phải đánh giá lại thực trạng giáo dụcphạm nhân đang chấp hành án tại trại giam nói chung, giáo dục pháp luật nói

Trang 3

riêng Từ đó phân tích, đánh giá những ưu khuyết điểm của công tác giáo dục

và đề xuất những giải pháp hoàn thiện nội dung, hình thức, phương pháp giáodục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam Đây là một đòi hỏi cấpthiết, có ý nghĩa về lý luận, thực tiễn và chính trị, nhân đạo sâu sắc nhằm thực

hiện được mục đích cơ bản là: “hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới…” [86].

Dưới góc độ xã hội học chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệthống về vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân cho nên tác giả đã chọn

đề tài “Vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc Bộ Công an” là cấp thiết.

2 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

2.1 Về mặt lý luận:

Những thông tin thực nghiệm thu được từ thực tế nghiên cứu có thểđóng góp thêm vào cơ sở dữ liệu cho việc phân tích và nghiên cứu lý luậncủa xã hội học về tội phạm, góp phần làm phong phú hơn cho lĩnh vực nghiêncứu về giáo dục người phạm tội

2.2 Về thực tiễn:

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu phục vụcho quá trình nghiên cứu, tham khảo, giảng dạy và học tập môn xã hội học tộiphạm, tổ chức giáo dục cho phạm nhân, xã hội học pháp luật tại các trại giam

và chủ thể khác có liên quan

- Cung cấp những dữ liệu khảo sát điều tra ban đầu về thực trạng hoạtđộng giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở trại giam

Trang 4

- Những đề xuất giải pháp của luận án sẽ góp phần tích cực cho việcnâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho phạm nhân đang chấp hành án tạitrại giam.

3 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ thực trạng giáo dục pháp luật tại trại giam thuộc Bộ Công an

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để khắc phục những hạn chế của giáodục pháp luật hiện nay và nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật đối với phạmnhân tại trại giam thuộc Bộ công an

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các lý thuyết nghiên cứu về tội phạm, lý thuyết liên quan đến giáo dục người phạm tội và thao tác hoá một số khái niệm công cụ như: trại giam, phạm nhân, phạm tội, giáo dục pháp luật cho phạm nhân

và một số khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu.

- Phân tích đặc điểm tình hình phạm nhân đang chấp hành án tại cáctrại giam: cơ cấu giới, lứa tuổi, nghề nghiệp, loại tội

- Đánh giá kết quả giáo dục pháp luật đối với phạm nhân tại trại giamthuộc Bộ Công an

- Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dụcpháp luật cho phạm nhân

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò giáo dục pháp luật đối vớiphạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam thuộc Bộ Công an

5.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 5

Trong luận án này, tác giả triển khai trên khách thể nghiên cứu chính làngười đang chấp hành án phạt tù tại trại giam Nam Hà Bên cạnh đó, tác giảcòn thu thập thông tin của cán bộ quản lí, giáo dục ở trại giam Nam Hà.

5.3 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Trại giam Nam Hà thuộc Bộ công an.

- Thời gian: từ tháng 01/2010 đến tháng 3/2014.

- Giới hạn nội dung nghiên cứu:

Giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam

có vai trò rất lớn trong quá trình giáo dục cải tạo họ trở thành người có íchcho xã hội sau khi chấp hành xong án phạt tù Trong khuôn khổ luận án, tácgiả tập trung nghiên cứu vai trò giáo dục pháp luật dưới các phương diện:nâng cao nhận thức pháp luật phạm nhân; nhận thức được tội lỗi của mìnhgây ra; hình thành ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của phạm nhân; tác độngđến một số nhóm tội phạm cụ thể đang chấp hành án tại trại giam

Lý do chọn địa bàn nghiên cứu: trại giam Nam Hà thuộc Bộ Công an,tiền thân là trại giam loại I có nhiệm vụ quản lý, giáo dục những người bị kết

án tù về tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia; tái phạm nguyhiểm; tù 20 năm, tù chung thân Theo quy định của Pháp lệnh thi hành án phạt

tù sửa đổi, bổ sung năm 2007 thì hệ thống trại giam không còn trại loại I, loại

II, loại III mà các trại đều tổ chức quản lý, giáo dục 4 loại tội phạm theo quyđịnh của Bộ Luật hình sự Tuy nhiên, trong thực tế trại giam Nam Hà vẫn làmột trong những trại trọng điểm giam giữ phạm nhân phạm các tội về xâmphạm an ninh quốc gia, số có án cao, phạm tội đặc biệt nguy hiểm Chính lý do

đó tác giả chọn trại giam Nam Hà là địa bàn nghiên cứu cho đề tài của mình

Trang 6

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Luận án được tiến hành phân tích các tài liệu thu thập được có liênquan đến vấn đề nghiên cứu, các tài liệu và phân tích gồm có: các văn bảnluật, nghị định của chính phủ, các hướng dẫn về giáo dục, quản lí phạm nhân;các công trình nghiên cứu, các bài viết, các cuốn sách có liên quan đến tộiphạm, giáo dục phạm nhân; các báo cáo công tác thi hành án hình sự và Hỗtrợ tư pháp từ năm 2010 đến năm 2013; báo cáo công tác giáo dục của trạigiam Nam Hà từ năm 2010 đến năm 2013; các chuyên đề về công tác giáodục phạm nhân; các nguồn tư liệu này được phân tích theo các loại tội, giớitính, nghề nghiệp, tuổi

6.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi

Luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn bảng hỏi nhằm thu thậpthông tin định lượng từ chính bản thân người đang chấp hành án phạt tù tạitrại giam Nam Hà

Bảng hỏi được chia làm hai phần: Phần một bao gồm những câu hỏiliên quan đến đặc điểm nhân khẩu của đối tượng để mô tả đặc điểm mẫu điềutra, phần thứ hai gồm câu hỏi mô tả thực trạng công tác giáo dục pháp luậtcho phạm nhân như: nội dung giáo dục pháp luật, kiến thức thu được thôngqua giáo dục, thời gian giáo dục, hiệu quả công tác giáo dục

Về thu thập thông tin định lượng, dung lượng mẫu được chọn là 365phiếu phỏng vấn phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam Nam Hà, trong đó:

Về tội danh: tội xâm phạm an ninh quốc gia là 11 phạm nhân (3%); tộiphạm về các tội kinh tế là 22 phạm nhân (6%); tội xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm danh dự là 44 phạm nhân (12.1%); tội về ma túy là 222

Trang 7

phạm nhân (60.8%); tội xâm phạm về sở hữu là 18 phạm nhân (4.9%); tộiphạm khác là 48 phạm nhân (13.2%) đang cải tạo tại trại giam Nam Hà

Về tình trạng hôn nhân, tác giả chọn mẫu: chưa xây dựng gia đình 140phạm nhân (38,4%), đã xây dựng gia đình 177 phạm nhân (48,5%), ly hôn 43phạm nhân (11,8%), tái hôn 5 phạm nhân (1,4%)

Thời gian khảo sát: tháng 12 năm 2013

6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp này được lựa chọn nhằm tìm kiếm ý kiến cá nhân củangười chấp hành hình phạt tù, ý kiến của cán bộ giáo dục, cán bộ quản lý vềcông tác giáo dục pháp luật đối với phạm nhân và các yếu tố tác động đếncông tác giáo dục pháp luật

Dung lượng mẫu: 20 người đang chấp hành án tại trại giam; 20 cán bộgiáo dục, cán bộ quản giáo

Thời điểm khảo sát thực hiện từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013

6.4 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát cũng được tác giả thực hiện nhằm tìm hiểu trựctiếp sinh hoạt, học tập diễn ra trong quá trình chấp hành án của phạm nhân để

bổ sung thêm những nhận định ban đầu

7 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

7.1 Câu hỏi nghiên cứu

Tổ chức việc thực hiện giáo dục pháp luật cho phạm nhân đang chấphành án tại trại giam như thế nào?

Trang 8

Các yếu tố nào tác động tới việc giáo dục pháp luật cho phạm nhân? Hiệu quả công tác giáo dục pháp luật được thể hiện như thế nào?

7.2 Giả thuyết nghiên cứu

Chương trình giáo dục chưa hợp lý, chưa phân loại ra thành từng loạimức án, lứa tuổi, loại tội để tiến hành giáo dục pháp luật

Mức độ nhận thức pháp luật của phạm nhân phụ thuộc vào trình độ họcvấn, loại tội phạm, đối tượng chấp hành án phạt tù Nhóm tội phạm có trình

độ học vấn thấp nhận thức giáo dục thấp Nhóm phạm nhân phạm tội xâmphạm an ninh quốc gia, phạm tội ma tuý nhận thức pháp luật cao hơn cácnhóm khác

Giáo dục pháp luật có vai trò quan trọng trong nhận thức được tội lỗicủa mình, điều chỉnh các quan hệ, hoạt động của bản thân phù hợp quy tắc xử

sự chung, được xã hội chấp nhận

Trang 9

7.3 Khung phân tích

Điều kiện kinh tế, văn hoá

và xã hội

Phạm nhân nhận thức được tội lỗi của mình

Chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước đối với phạm nhân

Kết quả của công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân

Nâng cao nhận thức pháp luật cho phạm nhân

Trang 10

8 Đóng góp mới và hạn chế về khoa học của luận án

8.1 Điểm mới của luận án

Xét về nội dung của luận án, có thể khẳng định rằng đây là một trong những nghiên cứu xã hội học đầu tiên ở Việt Nam về vai trò của giáo dục pháp luật đối với người đang chấp hành án phạt tù Luận án đi sâu nghiên cứu về thực trạng tổ chức giáo dục pháp luật và kết quả giáo dục pháp luật đối với phạm nhân theo hướng tiếp cận xã hội học Điểm mới của luận án là tìm hiểu đặc điểm tình hình phạm nhân đang chấp hành

án tại trại giam; thực trạng giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại trại giam Nam Hà hiện nay thông qua nghiên cứu nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật; các yếu tố ảnh hưởng công tác giáo dục pháp luật; kết quả công tác giáo dục pháp luật Từ đó cung cấp những cơ

sở khoa học, giúp cho cơ quan thi hành án hình sự có nhận thức đúng đắn, tổ chức hợp lý việc giáo dục, nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật đối với phạm nhân.

8.2 Hạn chế của luận án

Trong khuôn khổ một luận án, tác giả mới chỉ nghiên cứu việc giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong chấp hành án với khách thể nghiên cứu

là phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam thuộc Bộ Công an quản lý

mà chưa thể hiện được ở các trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam, do phạm vi khách thể quá lớn.

Luận án mới chỉ thực hiện nghiên cứu tại một địa bàn mà chưa thể mở rộng nghiên cứu trên phạm vi không gian lớn hơn.

9 Kết cấu của luận án

Trang 11

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục các công trìnhkhoa học đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu thamkhảo, phần nội dung luận án gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án.

1.1 Các công trình nghiên cứu về tội phạm nói chung.

1.2 Công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục, giáo dục phạm nhântrong trại giam

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án.

2.1 Cơ sở lí luận của luận án.

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 3: Thực trạng giáo dục pháp luật đối với phạm nhân.

3.1 Yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho phạm nhân

3.2 Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho phạm nhân.

Chương 4: Kết quả của giáo dục pháp luật đối với phạm nhân và một số giải pháp.

4.1 Kết quả của giáo dục pháp luật đối với phạm nhân.

4.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luậtcho phạm nhân trong trại giam

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu về tội phạm nói chung

Tư tưởng của C Mác trong các tác phẩm: Tiền lương, lao động và tưbản (1947); Các thuyết về giá trị thặng dư (1962), Tư bản - quyển 1 (1867);Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848) và Tư bản (1894) đã đặt nền móng dẫnđến sự ra đời tội phạm học xung đột (Conflict Creminology) Theo C Mác,trong bất kỳ xã hội tư bản nào đều có hai giai cấp xã hội cơ bản: 1) giai cấp

vô sản (proletariat) là giai cấp chiếm số đông trong xã hội, không có tư liệusản xuất và là giai cấp không có quyền lực trong xã hội 2) giai cấp tư sản(bourgeoisie) là giai cấp chiếm thiểu số trong xã hội nhưng lại chiếm hữu tưliệu sản xuất và có quyền lực trong xã hội Vì không có tư liệu sản xuất, nên

để kiếm sống, giai cấp vô sản phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản, dẫnđến quá trình người bóc lột người mà cụ thể là giai cấp tư sản bóc lột giai cấp

vô sản, từ đó dẫn đến xung đột quyền lợi giai cấp sâu sắc, hình thành cuộcđấu tranh giai cấp [64, tr.192] Quan điểm này giải thích được nguồn gốc củatội phạm là do xung đột quyền lợi giữa các giai cấp đối kháng (giàu - nghèo,bóc lột - bị bóc lột, áp bức - bị áp bức) trong xã hội nhưng lại chưa giải thíchđược nguyên nhân phạm tội giữa những người nghèo bị bóc lột, bị áp bức vớinhau hoặc giữa những người giàu bóc lột, áp bức với nhau

Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, V I Lênin phát triển mộtcách toàn diện những quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về tội phạm,nguyên nhân của chúng trong các xã hội bóc lột và con đường thủ tiêu tộiphạm trong xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủnghĩa Ông chỉ ra khâu quyết định của việc phòng ngừa tội phạm là phải xácđịnh được các nguyên nhân và đề ra các biện pháp xoá bỏ các nguyên nhân đó

“Nguyên nhân xã hội sâu xa của những hành động quá lạm vào quy tắc của

Trang 13

cuộc sống chung là sự bóc lột quần chúng, sự nghèo đói và sự bần cùng củaquần chúng Một khi gạt bỏ được nguyên nhân chủ yếu ấy thì những hànhđộng quá lạm tất nhiên sẽ bắt đầu tiêu vong” [109, tr.76] Ông còn cho rằngcác vi phạm và tội phạm cũng tự mất đi nhờ kết quả cuộc đấu tranh mạnh mẽnhằm thủ tiêu, khắc phục "tàn dư" của xã hội cũ Quá trình đó phụ thuộc vào

xã hội xã hội chủ nghĩa tạo ra các tiền đề về kinh tế, chính trị, tinh thần để

"tiêu vong" tội phạm Lênin đã đưa ra quan điểm và đặc biệt chú ý xây dựng

hệ thống các biện pháp phòng ngừa xã hội đối với tội phạm như phải nângcao đời sống vật chất của quần chúng nhân dân; phải giáo dục ý thức, thái độlao động đúng đắn; giáo dục ý thức tôn trọng các quy tắc của nếp sống côngcộng, tôn trọng nhau; giáo dục nâng cao tính tích cực, tính tự giác, tạo điềukiện cho quần chúng tham gia quản lý công việc của nhà nước và của xã hội.Đặc biệt là việc quần chúng tham gia vào quá trình quản lý người phạm tội.Theo Lênin, việc phát hiện tội phạm và áp dụng hình phạt kịp thời cũng làbiện pháp, phương hướng để phòng ngừa tội phạm [14, tr.54]

Cuốn “Tội phạm học lí thuyết” (Theoretical Criminology) của tác giảGeorge B.Vold, thay vì giải thích tội phạm như là hành vi vi phạm pháp luậthình sự, ông nhấn mạnh cần nhận thức tội phạm như là sản phẩm của cuộcđấu tranh giai cấp, khi các quyền lợi về nhu cầu của các giai cấp có tác độngqua lại với nhau đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các giai cấp để duy trì hoặc mởrộng vị thế kiểm soát của giai cấp này với giai cấp khác (về tài sản, giáo dục,việc làm, luật pháp…) Cuộc cạnh tranh này được thể hiện như là cuộc đấutranh hoặc xung đột chính trị giữa giai cấp có quyền lực nắm quyền làm luật,kiểm soát pháp luật với giai cấp khác “Toàn bộ quá trình chính trị của luậtpháp, vi phạm pháp luật, tuân thủ pháp luật phản ánh một cách trực tiếpnhững xung đột cơ bản, sâu sắc về quyền lợi giữa các nhóm người… Nhữngngười làm ra pháp luật với kiểm soát quyền lực và làm ra chính sách có quyền

Trang 14

xác định những hành vi nào bị coi là tội phạm” [124, tr.266] Để bảo vệ quyền

và lợi ích của mình, nhóm người có quyền lực sẽ làm ra pháp luật để bảo vệlợi ích của họ, từ đó những hành vi coi là tội phạm sẽ là những hành vi xâmphạm tới quyền và lợi ích của thiểu số người có quyền lực trong xã hội

Tác giả William Chambliss và Rober T.Seidman trong cuốn “Luậtpháp, trật tự và quyền lực” đã chỉ ra chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân thúc đẩycon người đi vào con đường tội phạm: Những điều kiện sống của cá nhân ảnhhưởng đến giá trị và những chuẩn mực của người đó, khuynh hướng xung độtchuẩn mực vì từng giai cấp nhất định có những hệ thống chuẩn mực riêngđược thể hiện trong luật nhưng không được phân chia đều giữa các giai cấp và

nó có liên quan mật thiết đến vị trí kinh tế, chính trị của giai cấp đó [30] Tiếpđến Richard Quiney, cho rằng tội phạm tất yếu, không thể tránh khỏi trongđiều kiện xã hội tư bản vì tội phạm là sự phản ứng lại những điều kiện vậtchất của cuộc sống, Quiney cho rằng giải pháp cơ bản đối với vấn đề tội phạm

là xây dựng và phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa Ông cho rằng chủ nghĩa xãhội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, nó là kết quả của trật tự xã hội, không phải làchủ nghĩa không tưởng [63, tr.110-111] Tiếp đến Travis Hirschi trong tácphẩm “Nguyên nhân của tội phạm” cho rằng tội phạm là kết quả của sự yếukém hoặc phá vỡ quy ước của cá nhân và xã hội Kiểm soát xã hội đối vớihành vi của con người thông qua quy ước của cá nhân với xã hội, quy ước xãhội có ảnh hưởng đến hành vi của con người trong đó có tội phạm, trong xãhội có tồn tại quan hệ giữa cá nhân với xã hội sẽ giảm thiểu sự lệch hướngkhỏi quy ước đó, giảm thiểu hành vi phạm tội [63, tr.100 ]

Cuốn sách “Vấn đề tội phạm” của Walter C Reckless Reckless chorằng tội phạm là kết quả của áp lực xã hội liên quan đến cá nhân thúc đẩy họthực hiện hành vi phạm tội cũng như sự thất bại chống lại áp lực đó Đểphòng ngừa tội phạm, Reckless nhấn mạnh cần tiến hành ngăn chặn cả bên

Trang 15

trong và bên ngoài Để ngăn chặn bên ngoài, ông cho rằng xã hội, nhà nước,cộng đồng dân cư, các làng quê, gia đình, các nhóm hạt nhân khác có thểquản lí các cá nhân thông qua những ràng buộc chuẩn mực và đòi hỏi đượcchấp nhận Để ngăn chặn bên trong, thể hiện thông qua khả năng của cá nhântuân thủ những chuẩn mực được đòi hỏi để người đó tự quản lí bản thân Bêncạnh đó, ông còn cho rằng, ngăn chặn bên trong thì hiệu quả khó khăn hơnnhiều ngăn chặn bên ngoài việc thực hiện hành vi phạm tội [63, tr.101].

Richard A Cloward và Lioyd E Ohlin trong cuốn sách “Tội phạm và

cơ hội” đã xác định trong xã hội, có hai loại cấu trúc cơ hội xã hội để đi tớithành công: cơ hội hợp pháp và cơ hội bất hợp pháp Họ quan sát và nhận rarằng các cơ hội hợp pháp là sẵn có đối với các cá nhân sinh ra thuộc tầng lớpvăn hóa trung lưu, các cá nhân thuộc tầng lớp văn hóa thứ cấp hạ lưu thường

từ chối cơ hội này Hậu quả là các cơ hội bất hợp pháp để đi tới thành côngthường là sự lựa chọn của các cá nhân thuộc về văn hóa thứ cấp Các ông đã

mô tả 3 loại văn hóa thứ cấp Đó là: 1) Văn hóa thứ cấp tội phạm (trong loạivăn hóa này các mẫu tội phạm sẵn có để được chấp nhận thông qua quá trình

xã hội hóa đến văn hóa thứ cấp); 2) Văn hoá thứ cấp xung đột (các thành viênthuộc loại này tìm kiếm vị trí của mình trong xã hội thông qua bạo lực); 3)Văn hóa thứ cấp ẩn dật (các thành viên thuộc loại này có khuynh hướng rútlui khỏi đời sống xã hội Văn hóa thứ cấp phạm tội có ít nhất 3 đặc điểm Cụthể là: 1) Hành vi phạm tội phản ánh sự trợ giúp của văn hóa thứ cấp như là

sự tái diễn lại có tính chất thường xuyên: 2) Cơ hội đi đến thành công đối vớinghề nghiệp người thành niên phạm tội đôi khi là do việc tham gia văn hóathứ cấp phạm tội; 3) Văn hóa thứ cấp phạm tội được truyền đạt cho các thànhviên của nó có sự ổn định cao và có xu hướng chống lại sự kiểm soát hoặcthay đổi Cũng theo Cloward và Ohlin, để hạn chế cũng như phòng ngừa tộiphạm hiệu quả thì việc tạo nhiều cơ hội hơn về giáo dục, việc làm cho những

Trang 16

người đang trong độ tuổi lao động nhất là người trẻ tuổi là rất quan trọng [64,tr.139-141].

Công trình nghiên cứu của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang:

“Văn hóa bạo lực thứ cấp: một học thuyết hòa trộn của tội phạm học” Công

trình này đã giới thiệu nhiều cách tiếp cận xã hội học để giải thích về nguyênnhân của tội phạm Theo sự đánh giá của nhiều nhà chuyên môn, công trình

của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang đã đánh dấu sự biến đổi về chất so

với các thuyết văn hóa thứ cấp khác trước đó bởi vì cách đặt vần đề mới đượcnêu trong công trình này Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ các dữ liệu

về tỉ lệ phạm tội giết người giữa các nhóm người (chủng tộc) khác nhau ởPhiladenphia, hai ông đã cố gắng giải thích về nguyên nhân của tội phạm

Chủ đề chủ yếu của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang đề cập đó là: bạo

lực là một hình thức được học tập (học từ người khác) để thích ứng với việcđương đầu với các vấn đề trong cuộc sống Vấn đề học tập bạo lực xảy ratrong bối cảnh của văn hóa thứ cấp và văn hóa này đã nhấn mạnh đến lợi íchcửa việc sử dụng bạo lực so với các hình thức thích ứng khác trong cuộc sống

để tồn tại Văn hóa thứ cấp này được đặc trưng bởi những câu chuyện, bài hátnói đến chiến thắng bằng bạo lực, chiến thắng bằng việc sở hữu và sử dụngsúng Những người thuộc văn hóa này gần như được dạy rằng phản ứngnhanh, quyết đoán là cách cần thiết để bảo vệ danh dự của mình trước cộngđồng Các thành viên của nhóm văn hóa thứ cấp có mình trước cộng đồng.Các thành viên của nhóm văn hóa thứ cấp có khuynh hướng “chiến đấu” -thích sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp trong cộng đồng Hay nói cáchkhác, đối với các thành viên của văn hóa thứ cấp, bạo lực là một cách để sống(a way of life) [64, tr.138]

Tác phẩm “Người ngoài” của Howard Becker cho rằng: “Các nhóm xãhội tạo ra sự lệch lạc bằng cách đặt ra những quy tắc mà nếu vi phạm chúng

Trang 17

thì sẽ lệch lạc và bằng cách áp dụng các quy tắc này cho những người nào đó

và gắn cho họ cái nhãn là người ngoài Theo quan điểm này thì lệch lạc khôngphải là cái chất của cái hành động do một người nào đó làm ra, mà là hậu quảcủa việc những người khác áp dụng quy tắc và thưởng phạt cho một người “viphạm” Bản chất của lý thuyết “gắn nhãn” là khả năng của các nhóm có quyềnlực gắn cái nhãn “lệch lạc” cho những người ở các nhóm yếu thế “Một hành

vi có là lệch lạc hay không một phần phụ thuộc vào bản chất của hành vi (có

vi phạm quy tắc nào đó không) và một phần tuỳ thuộc vào chỗ người kháclàm gì về việc đó” [100, tr.100]

Trong cuốn sách “Nhập môn xã hội học” của tập thể tác giả Tony Bilton,

Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth, Andrew Webster, KenvinBonneu (1993), các tác giả giới thiệu lý thuyết về nền văn hoá phụ của kẻ tộiphạm “Sự phạm tội là một hoạt động như bất cứ sự hoạt động nào khác, đượcnghiên cứu trong sự liên kết với những hoạt động khác theo cung cách nghiêncứu hành vi có quy ước nhất, một số tiêu chuẩn mức giá trị và tiêu chuẩn hành

vi trở thành truyền thống trong những nhóm phạm tội được truyền và tồn tạimãi trong nhóm Các lý thuyết về nền văn hoá phụ của kẻ tội phạm nhấn mạnhđến sự tồn tại của toán tội phạm hay cách khác đó là những tổ chức tội phạm

Tác phẩm “Luật bắt chước”, Gabriel Tarde tuy chịu ảnh hưởng thuyếtcủa Darwin về quá trình chọn lọc tự nhiên, nhưng ông phản bác thuyết củaCesare Lombroso về sự biến dị có tính sinh vật - một thuyết rất nổi tiếng vàothời đại ông Ông cho rằng cơ sở của bất kỳ xã hội nào chính là sự bắt chước.Trong xã hội, hành vi của mỗi người thực chất là sự bắt chước hành vi củangười khác Từ đó, ông đã xây dựng và phát triển lí thuyết của mình theo ýtưởng “luật bắt chước” - nguyên tắc chi phối một người khiến anh ta đi vàocon đường phạm tội Theo Gabriel Tarde, nguyên nhân của tội phạm là do

Trang 18

một người đê bắt chước hănh vi phạm tội của người khâc mă người đó có cơhội quan sât.

Gabriel Tarde chia câc trường hợp bắt chước ra lăm 3 loại:

1) Câ nhđn bắt chước những người khâc cđn xứng với mức độ vă tần sốtiếp xúc của họ;

2) Những người cấp thấp hơn bắt chước những người ở cấp trín họ Ví

dụ như người nghỉo có thể có hănh vi bắt chước người giău hơn;

3) Khi hai khuôn mẫu hănh vi mđu thuẫn, một câi có thể chiếm vị trícủa câi kia tương tự như súng thay thế cho dao với tư câch lă vũ khí giếtngười” [64, tr.111]

Cesare Beccaria với câc tâc phẩm tội phạm học kinh điển nổi tiếng “Vềtội phạm vă hình phạt” ra đời năm 1764 cho rằng luật hình sự phải quy định

rõ về tội phạm, hình phạt Hình phạt phải tương xứng với mức độ nguy hiểmcủa tội phạm Nếu một hình phạt ngang bằng được âp dụng đối với hai tộiphạm đê gđy thiệt hại cho xê hội ở mức độ khâc nhau thì không có gì cản trởcon người tiếp tục thực hiện những tội phạm nghiím trọng hơn mỗi khi chúngđem lại nhiều lợi ích hơn; hình phạt cần phải căn cứ văo mức độ nguy hiểmcủa hănh vi phạm tội được đânh giâ bởi những thiệt hại gđy ra cho xê hội;hình phạt cần âp dụng nhanh chóng thì khi đó nó có giâ trị phòng ngừa tốtnhất [64, tr.290-292]

Tuy đi chung con đường với Cesare Beccaria nhưng Jereme Benthamcho rằng để giảm tội phạm phải phòng ngừa điều âc xảy ra Đồng thời, ôngcho rằng tính tất yếu của hình phạt quan trọng hơn tính nghiím khắc của nótrong phòng ngừa người phạm tội lă để phòng ngừa tội phạm Sự phòng ngừa

lă mục đích chủ yếu nhất của hình phạt Jeremy Bentham cho rằng phâp luật

lă cần thiết, phâp luật được đặt ra để mang lại hạnh phúc cho nhđn dđn Vẵng mong muốn hạn chế tối đa cho số lượng người đông nhất Khi hình phạt

Trang 19

mang lại bất hạnh cho người phạm tội, nó chỉ được chấp nhận nếu nó phòngngừa được nhiều điều tồi tệ hơn là tạo ra sự bất hạnh đó Nếu phòng ngừa làmục đích của hình phạt và nếu hình phạt trở nên quá tai hại bởi việc tạo nhiềuthiệt hại hơn là tốt đẹp thì hình phạt cần phải được đặt ra cao hơn so với lợiích mà người phạm tội có được khi thực hiện tội phạm.

Ông cũng đưa ra ý tưởng thành lập lực lượng cảnh sát được chuyên mônhoá cho việc phòng ngừa và kiểm soát tội phạm Jeremy Bentham đưa ra ýtưởng xây dựng hệ thống các nhà tù theo kiểu “Panopticon House” Theo thiết

kế của Jeremy Bentham thì đây là loại nhà tù xây tròn với những phòng giambên trong (ở giữa có chòi canh gác - nơi mà nhân viên giám sát tù nhân có thểquan sát được toàn cảnh các tù nhân trong các phòng giam) Ông cho rằng

“Panopticon House” của ông không được giới cầm quyền thời kỳ đó ủng hộ,triển khai trong thực tế [100, tr.292-296]

Cuốn sách “Tội phạm kinh tế thời mở cửa” của tác giả Nguyễn Xuân

Yêm - Nguyễn Hoà Bình (Nxb Công an nhân dân năm 2004) cho rằng tộiphạm ngày nay không còn là vấn đề của từng quốc gia mà trở thành vấn đềcủa toàn cầu Đây là hiểm hoạ không chỉ cho từng dân tộc mà là hiểm hoạchung cho của cả loài người Tác giả đã trình bày vấn đề cơ bản như tìnhhình, nguyên nhân và kết quả đấu tranh, phương hướng và các giải pháp đấutranh phòng chống tội phạm kinh tế về tham nhũng, buôn lậu… và vai trò củacác cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm

Cuốn “Tội phạm học nhập môn” (Nxb Công an nhân dân năm 2009) củacác tác giả Dương Tuyết Miên đưa ra quan điểm phòng ngừa tội phạm bằnghình phạt và vấn đề cải tạo tù nhân, quản lý tù nhân “Quá trình cải tạo tù nhânphải là quá trình cảm hoá tù nhân tạo cho họ cơ hội có thể tái hoà nhập cộngđồng dễ dàng hơn sau khi mãn hạn tù” [64, tr.301]

Trang 20

1.2 Công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục, giáo dục phạm nhân trong trại giam

Jan Amos Cômenxki (1592 - 1670) - nhà sư phạm lỗi lạc của thế giới,

tác phẩm“ông tổ của nền giáo dục cận đại” ông cho rằng: "Trẻ em vào đời như con khỉ con, gặp gì nó cũng bắt chước Vì thế, để giáo dục tốt trẻ em cần phải cải tạo môi trường giáo dục và phải giáo dục bằng tấm gương của mọi người xung quanh” [99, tr.84]

A X Macarencô (1888 - 1939) nhà giáo dục, nhà nhân đạo đã có côngxây dựng nền giáo dục mácxít Ông không chỉ đề ra mục tiêu giáo dục mà đãtìm ra con đường đi đến mục tiêu, đó chính là con đường xây dựng một tậpthể đúng đắn, tạo ra ảnh hưởng đúng đắn của tập thể với cá nhân A X.Macarencô không nói nhiều đến môi trường giáo dục, nhưng khái niệm tậpthể giáo dục mà ông nêu ra với những dấu hiệu đặc trưng của nó là sự thốngnhất về mục tiêu và các thành viên của nó cùng tham gia hoạt động, cùngtham gia tổ chức cuộc sống của tập thể Đó chính là môi trường giáo dục, nơinuôi dưỡng và phát triển nhân cách cho trẻ Ông nhấn mạnh dấu hiệu quantrọng, tất yếu của tập thể giáo dục là sự thống nhất hữu cơ những lợi ích của

nó với lợi ích của toàn thể xã hội Ông cho rằng, sự cần thiết phải biến tập thểthành tập thể sư phạm để giáo dục các thành viên của mình và chứng minhtrên thực tế rằng sự lãnh đạo sư phạm tích cực không những không mâu thuẫn

mà còn là điều kiện cần thiết để phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của trẻ

em A X Macarencô coi trọng vai trò, tính độc lập, chủ động, sáng tạo của

tổ chức tự quản học sinh và hết sức giúp cho tổ chức này thực hiện được vaitrò của mình Như vậy, tập thể là môi trường của các thành viên, nơi mà mỗi

cá nhân tôi luyện ý chí và lòng tự hào của mình trong cuộc đấu tranh bảo vệ lẽ

phải, chống lại những sai trái “Nguyên lí của công tác giáo dục chính trị nằm

Trang 21

ở chính điểm này Nguồn gốc của những khái niệm danh dự và nghĩa vụ cũng nằm trong chính cảm giác này về giá trị của tập thể” [11, tr.24-25].

Lí luận và thực tiễn xây dựng tập thể của A X Macarencô đã góp phầnlàm sáng tỏ hơn nhận thức về môi trường và xây dựng môi trường giáo dục,khẳng định môi trường vi mô có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hìnhthành và phát triển nhân cách Tuy nhiên, chính ông cũng đã nhận thấy sai

lầm, hạn chế của việc lúc đầu coi tập thể là “nhóm tiếp xúc” dẫn đến gia đình

chủ nghĩa, mà phải xây dựng một tập thể lớn hơn

Tác giả Stanislaw Kowalski (Ba Lan) trong tập “Sơ thảo học giáo dục”

đã đề cập khá sâu đến kết cấu của môi trường nói chung, môi trường xã hội(trong đó có môi trường cộng đồng), môi trường giáo dục nói riêng Theoông, kết cấu của môi trường chung, tổng hợp cũng như môi trường địaphương, có ba bình diện: tự nhiên, văn hoá và xã hội S Kowalski coi môitrường nói chung như là một hệ thống các yếu tố kích thích gây ra nhữngphản ứng và cảm xúc về mặt tâm lý, đồng thời cũng có phân biệt những mặt

cụ thể trong hệ thống này, đó là môi trường tự nhiên (địa lý), văn hoá và xã

hội, cho nên “có thể rút ra hệ quả là môi trường đảm nhiệm chức năng giáo dục” [93, tr.161] Phân tích quan niệm (một cách rộng rãi), coi môi trườnggiáo dục là một hệ thống gồm bất cứ những nhân tố kích thích hay ảnh hưởngnào đối với con người và quan niệm (hẹp hơn), coi đó là một hệ thống nhữngnhân tố kích thích có ý đồ, có phương hướng nhằm đạt được mục tiêu giáo

dục nhất định, S Kowalski cho rằng “đặc điểm của môi trường giáo dục là tổ chức có mục đích những ảnh hưởng môi trường và đồng thời là tác động có mục đích của thầy đối với trò điều đó đồng nghĩa với việc nhấn mạnh vai trò của môi trường giáo dục trên bình diện xã hội của nó… nhưng không được nhắm mắt trước bình diện khác của môi trường: bình diện văn hoá và

Trang 22

địa lý, để không làm tổn hại cho sự phân tích đúng đắn và toàn diện đối với môi trường giáo dục” [93, tr.164].

S Kowalski cho rằng, khi phân tích môi trường giáo dục, việc liên hệvới một học sinh cụ thể hay một nhóm học sinh chỉ là một khía cạnh của vấn

đề rộng hơn nhiều và xem xét môi trường này trên cở sở những vòng văn hoá

- xã hội rộng lớn là điều có thể chứng minh được Theo ông, môi trường giáodục được chúng ta xem xét không những trong mối liên hệ giữa nó với từnghọc sinh hay nhóm học sinh mà xem xét mối quan hệ giữa nó với các nhóm

hay các thể chế cùng tham gia vào hoạt động giáo dục “Chúng ta nghiên cứu môi trường nhà trường hoặc bất cứ thể chế giáo dục nào từ khía cạnh tổ chức quá trình giáo dục trong môi trường đó” [93, tr.178]

S Kowalski nhận thấy, các nhà giáo dục học đã đánh giá đầy đủ ý nghĩanhững công trình nghiên cứu về từng bộ phận cấu thành môi trường trong mối

quan hệ với những vấn đề giáo dục tương ứng, nhưng ông cũng thừa nhận “Rất tiếc là loại nghiên cứu đo lường đó hiện nay ta chưa có nhiều” [93, tr.179]

Những đóng góp mang tính lí luận về môi trường giáo dục củaS.Kowalski như đã nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chỉ ra cácbình diện tự nhiên - địa lí, văn hoá, xã hội cùng các mối quan hệ giữa conngười với con người trong môi trường đó

John Keeves, một nhà nghiên cứu giáo dục, sau khi xem xét các côngtrình nghiên cứu về môi trường của Campbell, Floud, Halsey, Martin, đã đưa

ra một số ý kiến qua cuốn “Educational environment and student” tạm dịch

là “Môi trường giáo dục và học sinh” Cuốn sách nói đến các mối quan hệ qua lại tồn tại trong môi trường đặc thù là gia đình, nhóm thân cận và lớp học; mối quan hệ giữa những điều kiện vật chất và các khía cạnh tâm lý, các

yếu tố văn hoá - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục; mối quan hệ củamôi trường giáo dục với kết quả học tập của trẻ Tác giả đánh giá cao những

Trang 23

điều kiện vật chất, đồng thời cũng nhấn mạnh rằng, khi điều kiện vật chất đãđáp ứng tốt thì khía cạnh tâm lý, tình cảm lại trở nên quan trọng Ông cho

rằng: Đa số các trường học mới xây, các gia đình vừa có nhà mới, các biến

số về điều kiện nhà ở, trường học sẽ không còn trở nên quan trọng và ảnh hưởng của nó không lớn đến tiến bộ giáo dục của trẻ Trong môi trường như vậy, các khía cạnh tâm lý nhạy cảm dễ trở nên nổi trội, những ấn tượng vật chất không còn tạo nên cảm giác mạnh thường xuyên như môi trường có khó khăn về trường lớp học, nhà ở v.v…

John Keeves cho rằng, môi trường giáo dục có thể xem như là nơi phát

ra các kích thích ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức của cá nhân, sự pháttriển các kỹ năng nhận thức và việc hình thành các thái độ đặc trưng đối vớicuộc sống cũng như việc học tập ở trường của trẻ Đồng thời tác giả cũng chỉ

ra rằng, môi trường gia đình có ảnh hưởng đến kết quả của học sinh trung học

cơ sở một cách có thể đo lường được và sự thành công của trẻ em trong học tập dao động theo sự khác nhau về vật chất và văn hoá của môi trường gia

Trang 24

Nhìn chung, công trình của Zohn Keeves đã cho chúng ta thấy vai tròquan trọng của môi trường giáo dục Tuy nhiên, như tác giả đã thừa nhậnrằng, những nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực này chủ yếu mới chỉ ở mức độkhám phá, chưa xác định được một phạm vi lý thuyết rõ ràng.

Các nhà nghiên cứu Lương Vị Hùng và Khổng Khang Hoa (TrungQuốc) trong tác phẩm “Triết học giáo dục hiện đại” cho rằng, quá trình giáodục do bốn yếu tố tạo nên: người giáo dục, người được giáo dục, vật môi giớigiáo dục và môi trường giáo dục Theo họ, giáo dục luôn luôn là giáo dụctrong môi trường nhất định Môi trường lớn là trình độ phát triển sản xuất,tình hình xã hội, đặc điểm chính trị, văn hoá mà thường gọi là môi trường xãhội của giáo dục Còn môi trường nhỏ như là không khí học tập trong lớp học,môi trường vật chất của lớp học mà thường gọi là môi trường giáo dục theo

nghĩa hẹp“Loại bỏ môi trường giáo dục nhất định để bàn luận về giáo dục, thì tất yếu sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn của thuyết máy móc và chủ nghĩa hình thức Một số kinh nghiệm giáo dục và lí luận giáo dục sở dĩ không thể sinh sôi nảy nở hoặc chỉ là giả thuyết theo kiểu đánh trận trên giấy, là có mối liên

hệ nội tại với việc người thao tác đã coi thường sự khác biệt về môi trường ở lúc này hay lúc khác, ở nơi này hoặc nơi khác” [77, tr.144-145]

Công trình “Điều tra, đánh giá thực trạng môi trường và chất thải ở các trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng” do TS Nguyễn

Thanh Tùng, Cục trưởng Cục Y tế, Bộ Công an làm chủ nhiệm, đã khảo sát,đánh giá một số yếu tố liên quan đến môi trường sống của cán bộ và phạmnhân Trong đó, tác giả tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng cácyếu tố vệ sinh môi trường đất, nước, không khí, chất thải và ảnh hưởng của nóđến sức khoẻ cán bộ chiến sỹ, phạm nhân cũng như khu vực xung quanh Từ

đó, các tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những tác độngxấu của môi trường nước, không khí, chất thải trong các trại giam, cơ sở giáo

Trang 25

dục và trường giáo dưỡng Công trình đã tiếp cận đến những yếu tố liên quanđến môi trường sống, một trong những thành phần không thể thiếu của côngtác giáo dục.

Rousseau trong tác phẩm “Emile hay là về giáo dục” cho rằng mục tiêu

của giáo dục không phải là dạy cho trẻ em kiến thức, mà dạy cho trẻ biết làmthế nào để có kiến thức “Vấn đề là chỉ ra cho nó cần làm thế nào để luônkhám phá ra sự thật hơn là bảo cho nó biết một sự thật” [47, tr 273].Rousseau muốn đứa trẻ phải tự học hỏi, phải tự sử dụng lý trí của nó chứkhông phải sử dụng lý trí của người khác; ông không dạy đứa trẻ khoa học màdạy nó “tiếp thu khoa học theo nhu cầu” [47, tr 276] Ông mong muốn đứatrẻ có một đầu óc “phổ quát”, cởi mở, thông minh, sẵn sàng cho tất cả Mụctiêu của giáo dục là dạy đứa trẻ làm người tự do chứ không đào tạo đứa trẻthành ông này bà khác trong xã hội, hay làm công dân của một chế độ nào đónhất định Con người tự do là con người khi tư duy, khi hành động không bịràng buộc bởi vật chất, thành kiến hay dư luận, không bị những đam mê nhụcdục khống chế Tức là con người trưởng thành và độc lập trong tư duy trongphán đoán, biết sử dụng lý trí của mình để suy xét, quyết định và hành độngmột cách hợp lẽ trong sự tôn trọng “tự nhiên” và sự thật, tôn trọng người khácchứ không chịu lụy thuộc bất cứ thứ gì

Con người tự do không “phục tùng luồn cúi của một nô lệ”, cũng không

có “giọng điệu hách dịch của một chủ nhân” [47, tr 206] kiểu thượng đội hạđạp Là con người luôn sống và tỏ ra chính là mình, không hào nhoáng bênngoài, không thêm không bớt Giáo dục cũng phải tạo ra con người có đạođức, biết rung cảm, biết thương xót, có lòng trắc ẩn Giáo dục phải dạy chohọc sinh làm những việc tốt, không chỉ là việc bỏ một số tiền túi ra bố thí chonhững người nghèo khó mà bằng sự chăm sóc đối với họ, dạy cho học sinhlấy lợi ích của họ làm lợi ích của mình, phục vụ họ, bảo vệ họ, dành cho họ cả

Trang 26

con người và thì giờ Con người đó phải biết nghi ngờ chính mình, “biết thậntrọng trong cách cư xử, biết kính nể những người hơn tuổi mình ” [47, tr.342] Là con người yêu hòa bình, không những hòa bình giữa người với người

mà còn với thiên nhiên Emile của Rousseau không bao giờ suỵt cho hai conchó cắn nhau, hay làm cho con chó đuổi cắn con mèo [47, tr 343] Emile hiềnlành và yêu hòa bình, nhưng không nhu nhược, khi để bảo vệ chân lý và sựthật, anh ta sẽ sẵn sàng dấn thân để đấu tranh

Phương pháp của Rousseau là tự học, ông viết: “Chắc chắn là người tarút ra được những khái niệm rõ ràng hơn nhiều và vững vàng hơn nhiều từnhững sự vật mà ta tự học hiểu lấy như vậy, hơn là từ những sự vật đượcngười khác giáo huấn; và, ngoài việc ta không hề làm cho lý trí mình quenphục tùng một cách nô lệ trước uy quyền, ta còn khiến mình thành giỏi gianghơn trong việc tìm ra các quan hệ, kết nối các ý tưởng, sáng chế các dụng cụ,

so với trường hợp ta tiếp nhận tất cả những điều này y như người ta đem lạicho mình, và để đầu óc mình tiêu trầm trong trạng thái uể oải ” [47, tr 230].Khi bắt đầu hướng dẫn cho Emile nghiên cứu các quy luật tự nhiên, Rousseaubắt đầu với những hiện tượng thông thường và rõ rệt nhất

Bản chất của công tác giáo dục cải tạo phạm nhân ở trại giam là giáodục lại người phạm tội làm cho họ chuyển biến tư tưởng, nhận rõ tội lỗi, biếttôn trọng và chấp hành pháp luật, qui tắc, trật tự xã hội; giáo dục tình cảm tậpthể, tính sáng tạo, có thái độ lao động đúng đắn, có nhận thức đúng đắn vềđường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua, có nhiềusinh viên các trường Học viện, Đại học, Viện nghiên cứu đã chọn đối tượngphạm nhân đang cải tạo tại các trại giam thuộc Bộ Công an làm đề tài nghiêncứu: dưới góc độ tội phạm học, tâm lí học, giáo dục học, qua các năm đã cónhiều công trình nghiên cứu về phạm nhân như:

Trang 27

“Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách” (Nxb Tưpháp, Hà Nội, 2005) của tác giả Nguyễn Đình Lục đưa ra các nội dung liênquan đến nhân cách và nền tảng xã hội; vai trò của giáo dục pháp luật trongquá trình hình thành nhân cách của người chưa thành niên; đặc điểm giáo dụcpháp luật đối với người chưa thành niên và nội dung, nguyên tắc, nhiệm vụđối với công tác giáo dục, vai trò của nhà trường, xã hội, gia đình trong quátrình hình thành và phát triển nhân cách, đặc điểm tâm lý và tính nguyên tắctrong giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên.

Luận án Tiến sĩ giáo dục học của Phan Xuân Sơn “Những giải pháphoàn thiện môi trường giáo dục phạm nhân trong các trại giam” năm 2008, tácgiả đã đánh giá về tình hình phạm nhân đang cải tạo trong các trại giam Phântích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình công tác giáo dục phạm nhân và đưa

ra các nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng môi trường giáo dục phạm nhân

Đề tài cấp cơ sở “Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giam Thực trạng và giải pháp” năm 1997 của tác giả Ngô Văn Tân đã phân tích tìnhhình phạm nhân: cơ cấu loại tội, giới tính, nghề nghiệp và các đặc điểm nhậndạng đối tượng đang cải tạo ở trại giam Tác giả chỉ ra những tồn tại bất cậptrong giáo dục cho phạm nhân

-Đề tài nghiên cứu cấp Bộ thuộc Bộ Công an “Nghiên cứu Tâm lí phạmnhân nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục trong các trạigiam hiện nay” năm 2014 của tác giả Hoàng Thị Bích Ngọc năm 2004, tác giả

đã đưa ra một số đặc điểm của phạm nhân như: lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độvăn hoá, tâm trạng của phạm nhân; một số đặc điểm giao tiếp của phạm nhâncũng trong đề tài nghiên cứu tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý giáo dục phạm nhân

Luận văn thạc sỹ tâm lý học của Chu Văn Đức “Định hướng giá trị của phạm nhân” năm 2002 có đề cập đến điều kiện sống, hoạt động của phạm

Trang 28

nhân nhưng chủ yếu đi sâu phân tích những định hướng giá trị của phạm nhân(theo nhóm đối tượng) và tác động ảnh hưởng của một số yếu tố đối với địnhhướng giá trị của họ Tác giả không đề cập đến môi trường giáo dục phạm

nhân, nhưng lại cho rằng: Những điều kiện, hoàn cảnh ở trại giam sẽ chắc chắn tác động mạnh lên tâm lí của phạm nhân, làm bộc lộ những mâu thuẫn, xung đột vốn tiềm ẩn trong con người họ: mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, giữa tình thương và lòng thù hận, giữa cái được ý thức và những ham muốn bản năng

Cuốn sách “Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm

2013) của tác giả Ngô Văn Trù đưa ra các nội dung liên quan đến: yếu tố cấuthành hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam; yếu tốảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam; một sốvấn đề đặt ra trong công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở các trại giammiền núi phía Bắc

Công trình nghiên cứu “Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục phạm nhân trong các trại giam thuộc Bộ Công an” (2004) của tác

giả Nguyễn Hữu Duyện đề cập đến nguyên tắc cơ bản trong công tác giáodục; nội dung chủ yếu để giáo dục phạm nhân; thực trạng công tác giáo dụctrong các trại giam; giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả công tác giáo dụcpháp luật: trên cơ sở phân tích thống kê, quan sát thực tiễn tác giả đã làm rõbản chất giáo dục và thực trạng công tác giáo dục phạm nhân

Cuốn sách “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân” (Nxb Hồng Đức, 2008) của tác giả Phạm

Đức Chấn đã tập hợp những bài viết của tác giả viết trong hơn 30 năm làmcông tác giáo dục cho phạm nhân Từ thực tiễn công tác, tác giả đưa ra những

Trang 29

nhận định, quan điểm và cách chỉ đạo tổ chức thực hiện của mình trong thực

tế công tác giáo dục phạm nhân

Cuốn sách “Sự hồi sinh từ trong tuyệt vọng” (Nxb Công an nhân dân,

năm 2013) của nhiều tác giả đã tập hợp các bài viết của phạm nhân đang chấphành án, bày tỏ sự tự nhận thức, sự hối hận, niềm tin phục tiện của mỗi cánhân Việc nhìn nhận lại nguyên nhân và quá trình phạm tội giúp họ rút kinhnghiệm một cách sâu sắc về những gì đã trải qua Cuốn sách nói lên nguồngốc, tâm lý của tội phạm và niềm tin phục thiện của phạm nhân

Thanh Lê - Tuệ Nhân cuốn “Xã hội học chuyên biệt” (Nxb Khoa học xã

hội năm 2000) “Xuất phát từ quan điểm nhân đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin,

từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những người cộng sản Việt Nam với tất

cả tấm lòng ưu ái đối với con người đã biến những “địa ngục trần gian”những nhà tù và trại tập trung kinh tởm mà bọn thực dân để lại trở thành bệnhviện chữa bệnh xã hội Nhiều người từ trại cải tạo trở về không chỉ là nhữngcông dân lương thiện mà còn là những người hăng hái tham gia xây dựngcuộc sống mới [56, tr.236]

Giáo dục cải tạo phạm nhân là vấn đề xã hội quan trọng mang tính khoahọc và nghệ thuật, được triển khai trên nhiều bình diện (chính trị - tư tưởng,lao động, văn hoá, nghệ thuật) nhằm mục đích cải biến tư tưởng của phạm nhân,

để họ trở thành người lao động có ích cho xã hội Trong hệ thống giáo dục cảitạo phạm nhân, các hoạt động văn hoá nghệ thuật có vai trò quan trọng, hỗ trợđắc lực cho việc cải tạo tư tưởng, bồi dưỡng nhân cách cho phạm nhân

Cuốn sách “Văn hoá nghệ thuật với việc giáo dục cho phạm nhân” củatác giả Lê Như Hoa chủ biên (Nxb Văn hoá - thông tin 1997) làm rõ một sốvấn đề về cơ sở lý luận của việc giáo dục phạm nhân thông qua các hoạt độngvăn hoá, nghệ thuật và từ thực trạng hoạt động trên lĩnh vực này, nghiên cứu

Trang 30

đề xuất những hình thức, biện pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động văn hoánghệ thuật góp phần giáo dục phạm nhân.

Đồng chí Trần Quốc Hoàn về công tác Công an (Nxb Công an nhân dânnăm 2011) đã đề cập vị trí, tính chất, đặc điểm của công tác giáo dục cải tạophạm nhân và đưa nguyên tắc công tác giáo dục cải tạo phạm nhân áp dụngtrong thực tiễn

Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Địa vị pháp lý của phạm nhân trong hệthống pháp luật Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Văn Ninh đã đề cập,phân tích, đặc điểm, thực trạng địa vị pháp lý của phạm nhân, từ đó đưa ranhững quyền và nghĩa vụ của phạm nhân trong quá trình chấp hành án

Nhìn chung, trong nhiều tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, công trìnhnghiên cứu ở chỗ này hay chỗ khác chỉ đề cập đến một vài khía cạnh giáo dụccho người phạm tội song chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò côngtác giáo dục trong các trại giam Đó là một trong những khó khăn của tác giảkhi nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, các công trình như đã nêu trên là những

tư liệu tham khảo bổ ích, gợi mở cho tác giả nhiều ý tưởng tốt trong quá trìnhnghiên cứu

Đánh giá chung: Các công trình nghiên cứu cơ bản đã đặt ra nhiều vấn đề

về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục người phạm tội Phần lớn các

đề tài nghiên cứu tập trung nguyên nhân nảy sinh tội phạm, các biện pháp hạnchế tội phạm Ít đề tài liên quan đến giáo dục pháp luật cho phạm nhân Cáccông trình nghiên cứu về giáo dục phạm nhân tập trung cơ bản vào các vấnđề: đặc điểm tình hình thực trạng đang chấp hành án tại trại giam, chế độchính sách của phạm nhân; đổi mới nội dung, phương pháp, đa dạng hoá cáchình thức giáo dục cho phạm nhân; phương pháp, cách thức tổ chức giáo dục,

… Các công trình nghiên cứu chỉ ra các góc độ và khía cạnh đa dạng, phảnánh khá cơ bản, toàn diện bức tranh về tình trạng vi phạm pháp luật và việc

Trang 31

giáo dục cho phạm nhân Liên quan đến giáo dục pháp luật, các nghiên cứu đềcập đến vấn đề cơ bản như: tình trạng vi phạm pháp luật, nguyên nhân và cácbiện pháp phòng ngừa; tầm quan trọng của việc kết hợp giữa gia đình, nhàtrường và xã hội trong giáo dục đối với người phạm tội Các công trìnhnghiên cứu thể hiện sự công phu, có thể giúp các nhà hoạch định chính sáchtham khảo để xây dựng các chính sách xã hội phù hợp với sự phát triển chungcủa đất nước.

Các công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu quan trọng và quí báu đểtác giả tham khảo, kế thừa và định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình.Các kết quả nghiên cứu cung cấp những số liệu tin cậy; nguyên nhân của vấn

đề này; vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục cho phạmnhân; các giải pháp nâng cao hiệu quả của giáo dục gia đình, nhà trường và xãhội đối với trẻ em… Tất cả những khía cạnh này đều liên quan trực tiếp hoặcgián tiếp đến luận án Các kết quả nghiên cứu là những bằng chứng khoa họcquan trọng để trên cơ sở đó, luận án có thể chứng minh được tính khoa học,tính chính xác của luận điểm được đưa ra Tuy nhiên, trong các công trìnhkhoa học đã được công bố, phần lớn đề cập đến giáo dục cho phạm nhân, ítcông trình đề cập một cách đầy đủ đến giáo dục pháp luật cho phạm nhân.Nếu có, thì nó chỉ được thể hiện ở những khía cạnh và góc độ nhất định, chưa

có nghiên cứu nào được thể hiện một cách toàn diện, độc lập về vai trò giáodục pháp luật cho phạm nhân Để bổ sung cho sự khẳng định về vai trò quantrọng của giáo dục pháp luật cho phạm nhân, góp phần tìm ra các giải phápnâng cao hiệu quả của giáo dục pháp luật cho phạm nhân, trên cơ sở kế thừa

và tiếp thu có chọn lọc kết quả của các nghiên cứu trước, chúng tôi tiến hànhthực hiện đề tài nghiên cứu: “Vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhânđang chấp hành án tại các trại giam thuộc Bộ Công an” (Nghiên cứu trườnghợp trại giam Nam Hà)

Trang 32

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 2.1 Cơ sở lí luận của luận án

2.1.1 Các khái niệm công cụ

2.1.1.1 Trại giam

Trên cơ sở phân tích lịch sử phát triển của loài người, các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, cùng với việc xã hội phân chiathành giai cấp và những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được đã xuất

hiện nhà nước “Nhà nước là sản phẩm của xã hội đã phân chia giai cấp, là kết quả của những mâu thuẫn không thể điều hòa được” [84, tr.88] Mộttrong những đặc trưng của nhà nước đó là việc thiết lập một quyền lực công

cộng “Không phải chỉ gồm những người được vũ trang mà còn gồm những công cụ vật chất phụ thêm nữa, như nhà tù và đủ loại cơ quan cưỡng bức mà

cơ cấu của xã hội thị tộc (bộ tộc) chưa hề biết đến [84, tr.88]

Bất kỳ nhà nước nào cũng phải có các công cụ bạo lực để trấn áp mọi

sự phản kháng, những hành vi chống đối xã hội, bảo vệ sự tồn tại của chế độ

xã hội đó Cùng với việc xuất hiện Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà,trại giam Việt Nam ra đời và đã thể hiện rõ vị trí, vai trò và bản chất là mộtcông cụ quan trọng để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân; là bộ phận trongcông cụ chuyên chính dân chủ nhân dân… đàn áp bọn thiểu số phản cáchmạng, bọn phá rối trật tự xã hội, cưỡng bức bọn chúng phải lao động cải tạo,xoá bỏ tư tưởng phản động, chống đối, phải đầu hàng cách mạng và phải thamgia xây dựng xã hội chủ nghĩa một cách tự giác và phạm nhân phải giam giữtrong trại giam để trừng trị và giáo hoá [22, tr.522 ]

Trang 33

Trại giam thực hiện chức năng, nhiệm vụ giam giữ, giáo dục, cải tạophạm nhân, trong đó chức năng quản lý chặt chẽ, không để phạm nhân cóđiều kiện, cơ hội phạm tội mới, trốn khỏi nơi giam giữ là quan trọng và cầnthiết nhằm mục đích giáo dục cải tạo và trả về cho xã hội những con ngườihoàn lương Trong tổ chức thi hành án phạt tù ở trại giam, việc giáo dục, cảitạo phạm nhân phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục văn hoá, pháp luật, phổbiến thời sự chính sách, giáo dục công dân, dạy nghề kết hợp với việc giáodục cải tạo bằng lao động để tạo điều kiện thuận lợi cho phạm nhân mauchóng hoà nhập với cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Từ những gì đã trình bày ở trên, trại giam có thể hiểu:

- Là nơi quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân để họ trở thành ngườilương thiện

- Là nơi không chỉ thể hiện quyền lực của Nhà nước, của nhân dân, nơiđảm bảo hiệu lực và công bằng của pháp luật, mà còn là nơi trực tiếp thựchiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp tội phạm

Tóm lại: trại giam là cơ quan thi hành hình phạt tù không chỉ là công cụthực hiện sự cưỡng chế của Nhà nước đối với những người bị Toà án phạt tù

có thời hạn, tù chung thân nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người lươngthiện mà trại giam còn phải là công cụ quan trọng của Nhà nước, của xã hội

để thiết lập bảo vệ, xây dựng trật tự xã hội mới, xã hội chủ nghĩa

2.1.1.2 Tội phạm

Tội phạm là một hiện tượng xã hội - hiện tượng xã hội tiêu cực, có từ lâutrong lịch sử loài người, tồn tại với nhiều biểu hiện đa dạng trong xã hội cógiai cấp Thuật ngữ “Tội phạm” được hiểu là những hành vi sai lệch chuẩnmực xã hội của các cá nhân, các nhóm, các tổ chức, các đảng phái gây nguyhiểm cho xã hội, chống đối lại xã hội Trong xã hội hiện đại dựa trên quanniệm của từng xã hội, từng nhà nước cụ thể tuỳ thuộc phong tục, tập quán và

Trang 34

khách thể được luật hình sự của mỗi nước bảo vệ mà khái niệm “Tội phạmcũng khác nhau” Quan điểm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố

ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng,

an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [88, tr.29]

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội, Bộ luật hình sự đã phân tội phạm thành 4 loại cụ thể gồm: tội phạm ítnghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạmđặc biệt nghiêm trọng Theo đó “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gâynguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối vớitội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớncho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảynăm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xãhội mà mức án cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lămnăm tù, tù chung thân hoặc tử hình”

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểmcho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biệnpháp khác [85, tr.68-69]

Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra hoặc đe doạ gây rathiệt hại đáng kể đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Nếu thiệt hại

Trang 35

gây ra hoặc đe doạ gây ra không đáng kể thì không phải là hành vi nguy hiểmcho xã hội và không phải là tội phạm Khi đã xác định một hành vi nguy hiểmcho xã hội cũng tức là coi đó là hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi

đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn căn cứ vào các yếu tốnhư tuổi chịu trách nhiệm hình sự, lỗi và các trường hợp loại trừ trách nhiệmhình sự

Hành vi nguy hiểm cho xã hội: Luật pháp một số nước trên thế giới quyđịnh tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình

sự hoặc tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự Theo Luật hình sự hoặc tội

phạm là hành vi trái pháp luật hình sự “Chỉ người nào phạm một tội đã được

Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [85, tr.60-62].Chủ thể tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđều là chủ thể của tội phạm mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình

sự mới là chủ thể của tội phạm

“Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, ở trong trạng thái bình thường mà hoàn toàn có khả năng nhận thức được đầy đủ, tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi đó” [11, tr.77-78] Chủ thể của tộiphạm phải là người ở một độ tuổi nhất định và là người nhận thức được vàđiều khiển hành vi của mình Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặctội đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệmhình sự về mọi tội phạm [85, tr.78]

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là người có lỗi

Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xãhội Lỗi là một dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm Nếu là một hành vi

Trang 36

nguy hiểm cho xã hội không bị coi là có lỗi thì người có hành vi nguy hiểmcho xã hội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (không đủ yếu tố cấu thànhtội phạm) Tội phạm là hành vi có lỗi là thuộc tính cơ bản của tội phạm, là cơ

sở để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểmcho xã hội của mình và hậu quả của hành vi đã gây ra [85, tr.63]

Tính chịu hình phạt: Tội phạm phải bị xử lý bằng hình phạt theo quyđịnh Luật hình sự

Tóm lại: Khi xác định một hành vi phạm tội phải xác định đầy đủ cácdấu hiệu: tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính trái pháp luật hình sự,tính có lỗi và tính phải chịu hình phạt, thuộc bốn yếu tố (chủ thể, khách thể,mặt chủ quan và mặt khách quan)

2.1.1.3 Phạm nhân

Phạm nhân là một từ Hán - Việt “người có tội, đã bị xử án và đang ở tù” Còn theo thuật ngữ pháp lý thì có định nghĩa phạm nhân: “Theo nghĩa rộng

là người đã bị Toà án hình sự tuyên xử là đã phạm tội và bị hình phạt, bản án

đã có hiệu lực pháp luật Theo nghĩa hẹp là người đã bị Toà án phạt tù và đang bị giam giữ hoặc bị án tử hình” [113, tr.361] Hoặc “Phạm nhân là

người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân” [95, tr.251]

Như vậy một người được coi là phạm nhân khi họ phạm tội, toà án kết

án phạt tù và được đưa đến trại giam để chấp hành bản án Với việc trở thànhphạm nhân họ có một địa vị pháp lý hoàn toàn khác với các công dân bìnhthường ngoài xã hội, các quyền cơ bản của công dân mà phạm nhân bị tướchoặc hạn chế là: quyền tự do đi lại và cư trú; quyền tham gia quản lý nhànước và xã hội; lập hội, biểu tình, tự do kinh doanh; quyền bầu cử, ứng cử;quyền bảo đảm bí mật thư tín, điện tín, bất khả xâm phạm về chỗ ở Còn cácquyền con người, quyền cơ bản của công dân, phạm nhân vẫn được hưởng

Trang 37

như: quyền được sống, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, danh dự, nhânphẩm; quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền được khiếu nại, tố cáo; quyềnđược thông tin, học tập, lao động, nghiên cứu khoa học, phát minh, sáng chế;quyền không bị tra tấn, đánh đập, trừng phạt tàn bạo, phi nhân tính Đồngthời, phạm nhân phải thực hiện một số nghĩa vụ công dân cũng như tuân thủnhững yêu cầu đối với người đang chấp hành hình phạt tù như: phải bị giamgiữ, quản lý; phải tuân theo mệnh lệnh, chỉ dẫn của cán bộ; phải lao động, họctập theo quy định của pháp luật

“Trong đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, phải kết hợp chặt chẽ giữađấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm; coi trọng các biện phápphòng ngừa; xây dựng chương trình quốc gia về phòng ngừa tội phạm, cóngân sách dành cho chương trình đó Thực hiện nghiêm các hình phạt do luậtđịnh đối với kẻ phạm tội; đồng thời tích cực giáo dục kết hợp với dạy nghề và

tổ chức lao động sản xuất, cải thiện các điều kiện giam giữ để cải tạo, cảmhoá phạm nhân, tạo điều kiện đưa họ trở lại làm ăn lương thiện Ngăn chặn vànghiêm trị các hành vi ngược đãi, ức hiếp người bị giam” [22] Và tăng cường

và đổi mới công tác cảm hoá, giáo dục giúp đỡ những người phạm tội đượcđặc xá, tha tù, người mắc tệ nạn xã hội tại cộng đồng và tại các trại giam, cơ

sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng với những hình thức phùhợp Quan tâm hỗ trợ những người lầm lỗi đã cải tạo tốt để sớm ổn định cuộcsống, tái hoà nhập cộng đồng [87]

Đứng ở góc độ tâm lí học và giáo dục học, xã hội học xem xét thìphạm nhân là người vi phạm những chuẩn mực đạo đức xã hội, họ là nhữngngười có nhân cách xấu, nhân cách thấp kém với nhiều thuộc tính tâm lí tiêucực như tham lam, vụ lợi, ích kỉ, lười lao động, ăn chơi, hung bạo, tàn ác, cóquan niệm, quan điểm sai lầm, có triết lí cuộc sống thấp hèn Mặc dù đã vàotrại giam, bị cách li khỏi môi trường và điều kiện sống cũ nhưng do tính ổn

Trang 38

định tương đối bền vững của các thuộc tính tâm lí cá nhân nên những hiệntượng tâm lí này vẫn còn tồn tại một phần thậm chí toàn bộ trong quá trình ởtrại giam, mặc dù trong môi trường trại giam, sự quản lí của cán bộ trại giamkhông cho phép chúng tiếp tục bộc lộ hoặc thể hiện.

Ngoài ra, ở phạm nhân còn xuất hiện những hiện tượng tâm lí mớiđược hình thành và phát triển thông qua những mối quan hệ tác động qua lạigiữa phạm nhân với nhau, giữa bản thân họ với môi trường trại giam Điềunày giải thích tại sao một số trở nên xấu đi, học được những ngón nghề tộiphạm tinh ranh hơn, thực hiện các tội phạm mới trong trại hoặc sau khi ra trạitàn bạo hơn (nếu hiệu quả quản lí, giáo dục kém)

Đồng thời, cũng phải nhìn thấy một thực tế là ở mỗi con người đều cónhững mặt tốt và mặt không tốt, mặt tích cực và mặt tiêu cực (chỗ khác giữacác con người là ở tỉ lệ nào chiếm vị trí chủ đạo) Dù là người phạm tội nguyhiểm đến mức nào thì ở họ vẫn còn sót lại những nét nào đó của lương tâm,

ẩn tính của con người Những nét tâm lí tích cực đó là: ăn năn hối lỗi, dày vòlương tâm, yêu thương thân nhân, gia đình; tình cảm đối với quê hương, làngxóm, Tổ quốc

Tóm lại: Phạm nhân là một đối tượng quản lí đồng thời là một kháchthể đặc biệt của công tác giáo dục Phạm nhân phải chịu sự trừng phạt bằnghình phạt, nhưng mục đích của hình phạt là nhằm giáo dục họ trở thành ngườilương thiện

2.1.1.4 Hình phạt

Hình phạt là của nhà nước, ở Việt Nam hiện nay chỉ có quốc hội mớiđược đặt ra hình phạt và được quy định trong Bộ luật hình sự Ngoài Bộ luậthình sự ra, không có một đạo luật nào được quy định tội phạm và hình phạt

mà chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phảichịu trách nhiệm hình sự C Mác viết “Hình phạt chẳng qua chỉ là thủ đoạn tự

Trang 39

vệ của xã hội chống lại sự vi phạm những điều kiện tồn tại của nó, dù chonhững điều kiện ấy có thế nào đi nữa” [111, tr.673] Nhà nước Cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Việt Nam coi: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định” [88, tr.27 ] Mục đích cuối cùng của hình phạt là làm cho các cá nhânphải ý thức được sự lệ thuộc của họ vào xã hội và tuân theo ý chí chung của

xã hội Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục

họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quytắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạtcòn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm

Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, có bảy hình phạt chính và bảy hình phạt

bổ sung, trong đó hình phạt tù chiếm tỷ lệ lớn nhất, có 100% các điều luật quyđịnh về tội phạm có chế tài hình phạt tù, trong đó gần 65% các điều khoản cóchế tài là hình phạt tù có thời hạn và các hình phạt khác nặng hơn là tù chungthân hoặc tử hình

Hình phạt, trước hết là nhằm trừng trị người phạm tội Nếu hình phạt không

có mục đích trừng trị thì không còn là hình phạt Hình phạt tù có thời hạn và

tù chung thân là những hình phạt mang tính cưỡng chế rất nghiêm khắc, nótước đi hoặc hạn chế một số quyền cơ bản của công dân Người bị kết án tù cóthời hạn, tù chung thân bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội, bị quản lý, giáo dụctrong trại giam dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan tổ chức thi hành án.Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hình phạt không có tính chất trả thù, gây đauđớn về thể xác hay tinh thần đối với người phạm tội Mục đích của hình phạtkhông chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người

có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống

Trang 40

xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội Hình phạt còn nhằm giáo dục ngườikhác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [88, tr.27].

2.1.1.5 Giáo dục

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về giáo dục, về cơ bản các sáchgiáo trình giáo dục học ở Việt Nam đều định nghĩa “Giáo dục là hiện tượng

xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch

sử xã hội của các thế hệ loài người” [119, tr.9] Định nghĩa này nhấn mạnhđến sự truyền đạt và lĩnh hội John Deway cũng đề cập đến truyền đạt, nhưngông nói rõ hơn mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, theo ông “giáo dục làkhả năng của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội và xã hội không chỉ tồn tạinhờ truyền dạy mà còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy” [48, tr.17-

26] Đối với xã hội học, giáo dục được hiểu dưới các góc độ:

Thứ nhất, giáo dục là một thiết chế xã hội, nguyên lý này áp dụng tronggiáo dục pháp luật cho phạm nhân gồm các yếu tố sau: các quy tắc pháp lý vàquy tắt bất thành văn quy định hành vi hoạt động của chủ thể giáo dục, các hìnhthức tổ chức giáo dục cho phạm nhân; đội ngũ cán bộ giáo dục, cán bộ quản lý,phạm nhân (người học); cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục

Thứ hai, giáo dục là một bộ phận của hệ thống xã hội, theo nguyên lýnày giáo dục cho phạm nhân (người phạm tội) không độc lập mà luôn gắn với

sự biến đổi của xã hội

Thứ ba, giáo dục thực hiện chức năng xã hội nhất định, theo nguyên lýnày trại giam có nhiệm vụ điều chỉnh hành vi lệch chuẩn thành hành vi phùhợp với nguyên tắc chuẩn mực xã hội

Theo quan niệm của các nhà khoa học sư phạm thì giáo dục có thểhiểu theo hai nghĩa: giáo dục theo nghĩa rộng và giáo dục theo nghĩa hẹp

Giáo dục theo nghĩa rộng là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân

cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt

Ngày đăng: 21/11/2023, 08:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.K.Uleđốp (1980), Những quy luật xã hội học, NXb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy luật xã hội học
Tác giả: A.K.Uleđốp
Năm: 1980
2. Bộ Công an (2001), Những văn bản pháp luật phục vụ cho công tác trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những văn bản pháp luật phục vụ cho công táctrại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
6. Bộ Nội vụ (1997), “Những văn bản của Nhà nước về an ninh, trật tự (1945-1954)”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những văn bản của Nhà nước về an ninh, trật tự(1945-1954)”
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
11. Lê Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
12. Trần Đức Châm (2002), Thanh, thiếu niên làm trái pháp luật thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh, thiếu niên làm trái pháp luật thựctrạng và giải pháp
Tác giả: Trần Đức Châm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Trần Đức Châm (2013), Xã hội học pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học pháp luật
Tác giả: Trần Đức Châm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2013
14. Phạm Đình Chi (2005), “Tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên”, Luậnán Tiến sĩ
Tác giả: Phạm Đình Chi
Năm: 2005
15. Đỗ Bá Cở (2000), Hoạt động của các lực lượng công an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay, luân án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của các lực lượng công an nhân dântrong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay,luân án Tiến sĩ Luật học
Tác giả: Đỗ Bá Cở
Năm: 2000
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
25. Hà Ngân Dung (chủ biên) (2001), Các nhà xã hội học thế kỷ XX, NXB Khoa xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà xã hội học thế kỷ XX
Tác giả: Hà Ngân Dung (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa xã hội
Năm: 2001
26. Nguyễn Chí Dũng (chủ biên) (2004), Một số vấn đề về tội phạm và cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tội phạm vàcuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2004
27. Bùi Quang Dũng (2004), Nhập môn lịch sử xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lịch sử xã hội học
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 2004
29. Emile Durkheim (Nguyễn Gia Lộc dịch) (1993), Các qui tắc của phương pháp xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.30. Xem fugita@gwu.edu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các qui tắc củaphương pháp xã hội học
Tác giả: Emile Durkheim (Nguyễn Gia Lộc dịch)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
31. G.Endrweit và G.Trommsdorff (2002), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Tác giả: G.Endrweit và G.Trommsdorff
Nhà XB: NxbThế giới
Năm: 2002
33. Gunter Endrweit và G. Trommsdorff (2002), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: Gunter Endrweit và G. Trommsdorff
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2002
34. Gunter Endrweit (chủ biên) (Nguỵ Hữu Tâm dịch) (1999), Các lý thuyết xã hội học hiện đại, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lýthuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Gunter Endrweit (chủ biên) (Nguỵ Hữu Tâm dịch)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1999
35. Vũ Quang Hà - Nguyễn Thị Hồng Xoan (2002), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Vũ Quang Hà - Nguyễn Thị Hồng Xoan
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2002
36. Phạm Minh Hạc (2010), Giá trị học, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2010
37. Hermann Korte (Nguyễn Liên Hương dịch) (1997), Nhập môn lịch sử xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lịchsử xã hội học
Tác giả: Hermann Korte (Nguyễn Liên Hương dịch)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1997
39. Nguyễn Ngọc Hòa (2008), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: NxbCông an nhân dân
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành  ý thức trách  nhiệm và - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Hình th ành ý thức trách nhiệm và (Trang 9)
Bảng 2.1.  Phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam theo tội danh - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 2.1. Phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam theo tội danh (Trang 68)
Bảng 2.4. Thống kê số lượng, độ tuổi của phạm nhân 2010 - 2013 - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 2.4. Thống kê số lượng, độ tuổi của phạm nhân 2010 - 2013 (Trang 71)
Bảng 3.1. Bảng phân loại phạm nhân theo độ tuổi - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 3.1. Bảng phân loại phạm nhân theo độ tuổi (Trang 76)
Sơ đồ 3.1. Hệ thống tổ chức công tác giáo dục ở trại giam. - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Sơ đồ 3.1. Hệ thống tổ chức công tác giáo dục ở trại giam (Trang 80)
Bảng 3.3. Các nội dung giáo dục pháp luật của phạm nhân được học trong thời gian chấp hành án phạt tù (%) - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 3.3. Các nội dung giáo dục pháp luật của phạm nhân được học trong thời gian chấp hành án phạt tù (%) (Trang 89)
Hình thức giáo dục tập trung được tiến hành để tuyên truyền giáo dục phạm nhân trong các dịp - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Hình th ức giáo dục tập trung được tiến hành để tuyên truyền giáo dục phạm nhân trong các dịp (Trang 99)
Hình thức giáo dục pháp luật cá biệt, tư vấn pháp luật riêng cho từng phạm nhân: Đối với hình thức này, lãnh đạo, chỉ huy hoặc cán bộ giáo dục gặp gỡ riêng những phạm nhân cá biệt nhằm răn đe, uốn nắn nếu họ có nhận thức, hành vi lệch lạc; giải thích, độn - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Hình th ức giáo dục pháp luật cá biệt, tư vấn pháp luật riêng cho từng phạm nhân: Đối với hình thức này, lãnh đạo, chỉ huy hoặc cán bộ giáo dục gặp gỡ riêng những phạm nhân cá biệt nhằm răn đe, uốn nắn nếu họ có nhận thức, hành vi lệch lạc; giải thích, độn (Trang 100)
Hình thức giáo dục pháp luật thông qua lồng ghép trong chương trình học văn hóa, học nghề, hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể thao, sinh hoạt tổ, đội:  Việc lồng ghép đòi hỏi tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của chủ thể giáo dục pháp luật nhằm nâng cao h - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Hình th ức giáo dục pháp luật thông qua lồng ghép trong chương trình học văn hóa, học nghề, hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể thao, sinh hoạt tổ, đội: Việc lồng ghép đòi hỏi tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của chủ thể giáo dục pháp luật nhằm nâng cao h (Trang 102)
Bảng 4.2. Tương quan giữa trình độ học vấn của phạm nhân và mức độ nhận thức các nội dung giáo dục pháp luật (%) - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 4.2. Tương quan giữa trình độ học vấn của phạm nhân và mức độ nhận thức các nội dung giáo dục pháp luật (%) (Trang 111)
Bảng 4.3. Tương quan giữa số lần tiền án và mức độ nhận thức pháp luật của phạm nhân có tiền án, tiền sự (%) - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 4.3. Tương quan giữa số lần tiền án và mức độ nhận thức pháp luật của phạm nhân có tiền án, tiền sự (%) (Trang 112)
Bảng 4.5. Về mức độ nhận thức pháp luật của nhóm phạm nhân phạm các tội về trật tự quản lý kinh tế (%) - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 4.5. Về mức độ nhận thức pháp luật của nhóm phạm nhân phạm các tội về trật tự quản lý kinh tế (%) (Trang 117)
Bảng 4.6. Nhận thức pháp luật của nhóm phạm nhân phạm tội ma tuý (%) - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 4.6. Nhận thức pháp luật của nhóm phạm nhân phạm tội ma tuý (%) (Trang 119)
Bảng 4.7. Số phạm nhân vi phạm nội quy trại giam - Luận văn thạc sĩ vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành tại các trại giam thuộc bộ công an
Bảng 4.7. Số phạm nhân vi phạm nội quy trại giam (Trang 122)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w