Từ 51 quốc gia thành viên khi được thành lập, LHQ hiện có 193 quốc gia thành viên và trở thành một hệ thống toàn diện gồm 6 cơ quan chính , nhiều cơ quan phụ trợ, 20 tổ chức chuyên môn v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Đề bài: Hợp tác song phương và đa phương quản lý thị trường.
Họ và tên: Bùi Minh Ngọc
Mã sinh viên: 11219754
Lớp chuyên ngành: POHE – Quản lý thị trường 63
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU.
PHẦN II: NỘI DUNG.
1 Tham gia các tổ chức quốc tế.
Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN … Có thể nói ngoại giao đa phương là một điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi mới Những kết quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tạo ra thế
cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước
1.1 Liên hợp quốc (UN).
Liên hợp quốc (LHQ) chính thức ra đời vào ngày 24/10/1945 khi Hiến chương LHQ được phê chuẩn bởi Trung Quốc, Pháp, Liên Xô, Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
và đa số các quốc gia ký kết trước đó
Từ 51 quốc gia thành viên khi được thành lập, LHQ hiện có 193 quốc gia thành viên và trở thành một hệ thống toàn diện gồm 6 cơ quan chính , nhiều cơ quan phụ trợ, 20 tổ chức chuyên môn và 5 Ủy ban kinh tế – xã hội đặt ở các khu vực, hàng chục quỹ và chương trình, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực từ giải quyết và ngăn ngừa xung đột, giải trừ quân bị và không phổ biến, chống khủng bố, bảo vệ người tỵ nạn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, cho đến thúc đẩy dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới, phát triển kinh tế và xã hội… Việt Nam chính thức gia nhập Liên hợp quốc (LHQ) ngày 20/9/1977 Kể từ đó, quan hệ.
của Việt Nam với LHQ ngày càng phát triển Ngay sau khi tham gia LHQ, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của các nước thành viên Liên hợp quốc để Đại hội đồng LHQ khóa 32 (1977) thông qua Nghị quyết 32/2 kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế viện trợ, giúp đỡ Việt Nam tái thiết sau chiến tranh Mặt khác, chúng ta cũng tranh thủ được sự giúp đỡ về nguồn vốn, chất xám, kỹ thuật của LHQ phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế–xã hội của đất nước LHQ trở thành một diễn đàn để Việt Nam triển khai các yêu cầu của chính sách đối ngoại Vị thế và vai trò của Việt Nam tại LHQ ngày càng được nâng cao Việt Nam cũng đã chủ động và tích cực phối hợp với các nước Không liên kết và đang phát triển
để đấu tranh và bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ như nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, không can thiệp công việc nội bộ các nước, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực… đồng thời và bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Ngày nay, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, việc đẩy mạnh mối quan hệ này và nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc sử dụng nguồn hỗ trợ của LHQ nhằm phục vụ trực tiếp cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội là rất cần thiết
1.2 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Hiện nay, ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN
Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến
Trang 3chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn
mở rộng hợp tác với bên ngoài
Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 (AMM-28) tại Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN và có những đóng góp tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên cũng như giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển và thành công của ASEAN ngày hôm nay
Sau 15 năm tham gia ASEAN, Việt Nam đã khẳng định được vị thế và uy tín của mình; các nước thành viên ASEAN và các nước đối tác bên ngoài đều đánh giá cao sự tham gia tích cực và những đóng góp của Việt Nam trong việc củng cố và phát triển trong Hiệp hội, cũng như quan hệ hợp tác với các nước đối thoại của ASEAN Tham gia hợp tác trong ASEAN đã góp phần quan trọng vào việc củng cố môi trường hòa bình và an ninh cho sự nghiệp phát triển đất nước; phá thế bao vây về chính trị, cô lập về kinh tế, tạo thuận lợi cho triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hoá của Đảng ta
1.3 Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)
Đến nay, APEC đã có 21 nền kinh tế thành viên với khoảng 2,5 tỷ dân; 19.000 tỷ đô la
Mỹ GDP mỗi năm và chiếm 47% thương mại thế giới (xem bảng 1) APEC bao gồm cả hai khu vực kinh tế mạnh và năng động nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mỹ (gồm
Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa Chỉ trong mười năm đầu tồn tại và phát triển, các nền kinh tế thành viên APEC đã đóng góp gần 70% cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu
Các nền kinh tế của các thành viên APEC cho thấy sự đa dạng, phong phú của khu vực cũng như các trình độ và phương thức phát triển khác nhau Mặc dù giữa các nền kinh tế trong khu vực có nhiều điểm khác biệt nhưng việc họ hợp tác được với nhau trong một diễn đàn đã phản ánh mục đích và quyết tâm chính trị chung là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững trong khu vực và trên thế giới Mục đích chung của APEC đã được Mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của khu vực đòi hỏi phải thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương mở, tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế nhằm tăng cường lợi ích chung thông qua việc khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các thành viên
Tuy nhiên, không giống như các tổ chức khu vực khác (đặc biệt là EU), ngay từ đầu APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi thuế quan, liên minh thuế quan, hay thị trường chung, mà nhấn mạnh tới việc tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở
Ngày 14/11/1998, các thành viên của APEC đã thông qua việc kết nạp Việt Nam, cùng với Liên bang Nga và Pêru, làm thành viên chính thức của APEC; đánh dấu bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế của Việt Nam
Trong 7 năm qua, APEC đã đóng vai trò quan trọng duy trì quá trình tự do hoá và tạo thuận lợi hoá cho dòng chảy thương mại và đầu tư trong khu vực Thị trường APEC cũng đang tạo nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam trong thu hút nguồn vốn FDI và gia tăng khôi lượng thương mại với các đối tác trong APEC APEC cũng chính là điều kiện để Việt Nam khẳng định quá trình hội nhập kinh tế đầy đủ của mình Việt Nam có nhiều đối tác lớn trong APEC
Trang 4như các nước ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Liên bang Nga Thị trường APEC có tiềm năng rất lớn đối với Việt Nam, chiếm khoảng 80% kim ngạch buôn
bán, 75% vốn đầu tư nước ngoài và trên 50% nguồn viện trợ phát triển (ODA)
1.4 Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các thành viên, đảm bảo việm làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới
Ngày 7/11, tại trụ sở của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ở Giơnevơ (Thụy Sĩ) đã diễn ra phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng WTO về việc kết nạp Việt Nam vào tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa phương
về pháp luật và thể chế cũng như các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn ta hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu
Là thành viên của WTO, ta đã cố gắng tham gia tích cực các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam có liên quan đến Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, trợ cấp thủy sản và chương trình hỗ trợ thương mại của WTO…
Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu tiên của Việt Nam, dự kiến diễn ra trong khoảng thời gian đầu năm 2013
1.5 Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM)
Số lượng thành viên của ASEM tăng từ 26 (từ năm 1996) lên 39 thành viên (tại ASEM
5, Hà Nội, năm 2004) và 45 thành viên hiện nay (Danh sách kèm theo) Đến nay, vai trò cùa ASEM trên thế giới ngày càng tăng, chiếm 58% dân số thế giới, gần 60 % tổng kim ngạch thương mại thế giới và khoảng 50% GDP toàn cầu
Trải qua 12 năm hình thành và phát triển, Hợp tác ASEM đã đạt nhiều thành tựu đáng
kể ASEM đã trở thành một khuôn khổ đối thoại và hợp tác liên khu vực quan trọng, tạo động lực mới cho quan hệ hợp tác toàn diện giữa châu Á và châu Âu, cũng như hợp tác song phương giữa các thành viên trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi Triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập ASEM, luôn phát huy vai trò chủ động tham gia hợp tác Á-Âu trên cả 3 lĩnh vực: đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác khác Bên cạnh việc hoàn thành tốt vai trò điều phối viên châu Á trong ASEM từ năm 2000 đến 2004, đóng góp lớn nhất của Việt Nam là tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEM 5 (Hà Nội, 10/2004)
Việc tham gia ASEM tạo thêm điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục triển khai chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, hỗ trợ cho quan hệ song phương, đẩy
Trang 5mạnh ngoại giao đa phương; tranh thủ khả năng hợp tác thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi văn hóa đào tạo, giáo dục phục vụ các yêu cầu phát triển đất nước Đồng thời, tham gia với tư cách một thành viên bình đẳng, Việt Nam có
cơ hội cùng xây dựng luật chơi chung của cả Á-Âu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển
ở hai khu vực và trên thế giới; từ đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam
Việt Nam đã đưa ra 10 sáng kiến và đồng tác giả 15 sáng kiến khác (trong đó, 14 sáng kiến đã được triển khai), tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực văn hoá, y tế, giao thông vận tải,
an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thay đổi khí hậu, khoa học-công nghệ, du lịch, kinh
tế
1.6 Cộng đồng Pháp ngữ (OIF)
CHXHCN Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức hợp tác Văn hóa và kĩ thuật ACCT từ năm 1979 (trước đó chính quyền Sài Gòn đã tham gia tổ chức này ngay từ khi mới được thành lập) Từ đó, ta lần lượt tham gia vào nhiều tổ chức khác thuộc Cộng đồng Pháp ngữ Ta
đã tham dự các Hội nghị cấp cao ngay từ Hội nghị đầu tiên và tháng 11/1997, Việt Nam đã tổ chức Hội nghị cấp cao lần thứ 7 tại Hà Nội
Trước đó, Việt Nam đã lần lượt được bầu là thành viên của Uỷ ban nối tiếp quốc tế (CIS) trước đây của Hội nghị cấp cao, sau đó là uỷ viên Hội đồng thường trực Pháp ngữ (CPF) Tháng 1/1996, Việt Nam trở thành Phó Chủ tịch và tháng 1/1997, là Chủ tịch của CPF
Từ tháng 12/1996 đến tháng 12/1998, Việt Nam là Chủ tịch Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao và từ tháng 11/1997 đến tháng 9/1999, là Chủ tịch Hội nghị cấp cao Việt Nam cũng tích cực tham gia các Hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành của Cộng đồng như Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá 1990 và 2001, Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp 1989 và 1995, Hội nghị Bộ trưởng Môi trường 1991, Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục 1992 và 1998 và Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính 1999, Hội nghị phụ nữ Pháp ngữ 2000 và các hội nghị của các cơ quan khác của Cộng đồng như Cơ quan đại học Pháp ngữ (AUF), Liên minh nghị viện Pháp ngữ (APF), Hiệp hội quốc tế thị trư¬ởng các thành phố sử dụng một phần hay toàn phần tiếng Pháp (AIMF), Diễn đàn doanh nghiệp Pháp ngữ (FFA)…
Bên cạnh sự tham gia vào các tổ chức đa phương toàn cầu (Liên hợp quốc), tổ chức khu vực (ASEAN, APEC) và liên khu vực (Phong trào không liên kết), việc ta tham gia vào Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp nằm trong chủ trương chung của chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế vì hoà bình, độc lập và phát triển Hiện nay, ta cũng đã xây dựng được một mạng lưới quan hệ song phương với hầu hết các nước trên thế giới
Với việc tham gia vào Cộng đồng Pháp ngữ, ta có điều kiện mở rộng quan hệ với nhiều nước châu Phi, là khu vực ta có quan hệ đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình đấu tranh giải phóng và giành độc lập dân tộc nhưng còn ít quan hệ hợp tác kinh tế đồng thời khai thác được sự hợp tác hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực và phần nào viện trợ của các nước phát triển và các tổ chức trong Cộng đồng, có lợi cho công cuộc xây dựng đất nước
1.7 Hội nghị về Phối hợp hành động và Các Biện pháp xây dựng lòng tin ở châu Á (CICA)
Trang 6Việt Nam tham gia CICA nhằm tạo thêm kênh đối thoại tiếp xúc, thúc đẩy quan hệ kinh
tế – thương mại với các nước Trung Á và Trung Cận Đông Một số hoạt động chính của Việt Nam tại CICA Từ năm 1993 Việt Nam tham gia Diễn đàn này với tư cách khách mời và sau
đó là quan sát viên Trong chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đến Ca-dắc-xtan tháng 9/2009, Việt Nam tuyên bố xin gia nhập chính thức CICA Ngày 14/10/2009, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm đã có thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Ca-dắc-xtan (nước Chủ tịch CICA) đề nghị kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức Cuộc họp Uỷ ban quan chức cao cấp diễn ra vào tháng 1/2010 đã phê chuẩn Việt Nam chính thức gia nhập CICA tại Hội nghị Thượng đỉnh lần 3 tại Thổ Nhĩ Kỳ
Các nguyên tắc cơ bản: Bình đẳng về chủ quyền và tôn trọng các quyền chủ quyền vốn có; Kiềm chế đe dọa hoặc sử dụng vũ lực; Toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia; Giải quyết hoà bình các tranh chấp; Không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia; Giải trừ và kiểm soát vũ khí; Hợp tác kinh tế, xã hội và văn hoá; Nhân quyền và các quyền tự do cơ bản
2 Hợp tác với các đối tác thương mại lớn của Việt Nam.
2.1 Cán cân thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2021.
Kim ngạch thương mại của Việt Nam năm 2021 mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 vẫn tăng trưởng ấn tượng, đạt mức kỷ lục 668,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 336,3 tỷ USD (tăng 19% so với năm 2020) và nhập khẩu đạt 332,2 tỷ USD (tăng 26,5% so với năm 2020) Có thể thấy, trong năm vừa qua các doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện tốt mục tiêu vừa chống dịch, vừa tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Cùng với đó
là nhu cầu tiêu dùng tăng trở lại ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam so với năm trước đó
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn giữ vai trò chủ chốt trong các hoạt động thương mại của Việt Nam, với xuất khẩu đạt 245,2 tỷ USD chiếm 73% và nhập khẩu đạt 218,2 tỷ USD chiếm 66%
Tính tổng cả năm 2021, cán cân thương mại của Việt Nam đã trở lại trạng thái thặng dư với giá trị xuất siêu 4 tỷ USD (nửa đầu năm 2021, Việt Nam nhập siêu 1,47 tỷ USD), trong
đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 27 tỷ USD, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 23 tỷ USD
2.2 Những sản phẩm xuất nhập khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2021 so với năm 2020.
Năm 2021 là năm Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ đại dịch COVID-19, nhưng tất cả các mặt hàng xuất, nhập khẩu tốp đầu của Việt Nam đều đạt mức tăng trưởng dương, một số mặt hàng đạt mức tăng trưởng ấn tượng
Về xuất khẩu, có 8 mặt hàng xuất khẩu tốp đầu của Việt Nam đạt trên 10 tỷ USD, chiếm tới 69,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có mức tăng trưởng vượt bậc, ví dụ: sắt thép các loại tăng 124,3%; xơ, sợi dệt các loại tăng 50,2%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 41%
Về nhập khẩu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng vẫn là 02 nhóm sản phẩm nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Năm 2021, nhập khẩu
02 nhóm hàng này có mức tăng trưởng lần lượt là 17,9% và 24,3% Những mặt hàng nhập khẩu chủ lực khác cũng đều có mức tăng trưởng trên 9% Trong đó, một số nhóm sản phẩm
có tăng trưởng nhập khẩu lớn bao gồm: hóa chất (52,1%); sắt thép các loại (42,8%); kim loại thường khác ngoài sắt thép (42,3%)…
Trang 7Discover more from:
7340121
Document continues below
Kinh doanh thương mại
Đại học Kinh tế Quốc dân
682 documents
Go to course
VỢ CHỒNG A PHỦ - ĐOẠN Trích 1
6
Lịch sử Thể dục thể thao
50
Trắc nghiệm 320 câu Ngân hàng thương mại NEU
84
Nhóm: 3 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị-trường-Mỹ:
50
Slide môn thương mại điện tử Tổng hợp slide thương mại điện tử năm 3 NEU
7
Trang 82.3 Các thị trường xuất nhập khẩu chính của Việt Nam năm 2021.
Mỹ, Trung Quốc, EU, ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn duy trì là các đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm qua Năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, trao đổi thương mại hai chiều của Việt Nam với các đối tác kể trên vẫn đạt được những mức tăng trưởng đáng kể
Về xuất khẩu, năm 2021, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 28,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (96,3 tỷ USD) và có mức tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất trong tốp các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (tăng 24,9% so với năm trước) Thêm vào đó, Mỹ cũng là thị trường mà Việt Nam xuất siêu lớn nhất với thặng dư thương mại đạt 81 tỷ USD (kim ngạch xuất khẩu gấp hơn 6 lần kim ngạch nhập khẩu) Sau Mỹ, Trung Quốc và EU lần lượt là các thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 và thứ 3 của Việt Nam trong năm 2021
Về nhập khẩu, tăng trưởng nhập khẩu từ các thị trường chính của Việt Nam đều đạt hai con số Trong đó, Trung Quốc vẫn giữ vị trí là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 33,1% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam năm 2021 (109,9 tỷ USD) và tăng 30,5% so với năm trước Ngoài ra, năm 2021, Trung Quốc cũng là quốc gia mà Việt Nam nhập siêu lớn nhất với mức nhập siêu lên đến 53,9 tỷ USD Sau Trung Quốc, Hàn Quốc là nguồn nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam với 56,2 tỷ USD, chiếm 16,9% tổng nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam Có thể thấy, phân nửa hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam năm 2021
là từ hai thị trường nhập khẩu này
3 Hợp tác trong thực thi các hiệp định thương mại tự do.
3.1 Thực trạng tham gia FTA của Việt Nam
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới có hơn 200 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Chi Lê hoặc Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc
Số lượng các hiệp định thương mại tự do đã tăng đáng kể trong thập kỷ qua Kể từ năm 1995, trên 300 hiệp định thương mại đã được ban hành
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), số hiệp định thương mại tự do (FTA) ký kết giữa các quốc gia châu Á đã tăng từ 3 hiệp định năm 2000 lên 56 hiệp định vào cuối tháng 8 năm 2009 Mười chín trong tổng số 56 hiệp định thương mại tự do đó được ký giữa 16 nền kinh tế châu Á, một xu hướng có thể giúp cho khu vực này trở thành khối mậu dịch hùng mạnh
Việc hình thành các Hiệp định FTA hiện đang là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập, phát triển mà các quốc gia không thể đứng ngoài cuộc Nhận thức rõ điều này, trong những năm qua Việt Nam rất tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp FTA song phương
và đa phương Tính đến tháng 9/2020, Việt Nam đã có 13 FTA có hiệu lực và hiện đang đàm phán 03 FTA
CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) VIỆT NAM
ĐÃ THAM GIA
S
TT
Tên
viết tắt
m có
Khóa luận tốt nghiệp Hành vi bắt nạt trực tuyến của học sinh ở một số trường trung học phổ thông tại thành phố H…
132
Trang 9hiệu lực
3
ASEAN-Trung Quốc
200 3
ASEAN-Hàn Quốc
200 7
4 AJCEP Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện
ASEAN - Nhật Bản
200 8
5 VJEPA Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt
Nam-Nhật Bản
200 9
-Ấn Độ
201 0
TA
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN -Australia-New Zealand
201 0
8 VCFTA Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam
-Chi Lê
201 4
9 VKFTA Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam
-Hàn Quốc
201 5 1
0
VN-EAEU FTA
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam -Liên minh Kinh tế Á Âu
201 6 1
1
CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương
201 8 1
2
AHKFT
A
Hiệp định Thương mại tự do ASEAN và Hồng Kông (Trung Quốc)
201 9 1
3
EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam
-Liên minh Châu Âu
202 0 1
4
VN-EFTA FTA
Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt
ng đàm phán
1
5
RCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu
vực 1
6
VIFTA Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt
Nam và Isarel Trong số 13 FTA đã có hiệu lực và đang triển khai, Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia, tiếp theo đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA)
Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP): có tiền thân là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), chính thức ký kết vào tháng 3/2018 bởi 11 nước thành viên TPP (không bao gồm Mỹ) CPTPP đã được 7 nước thành viên phê chuẩn, gồm Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, Singapore, New Zealand, Việt Nam và đã chính thức có hiệu lực vào ngày 30/12/2018 CPTPP có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/01/2019
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA): là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và các nước thành viên EU Bắt đầu đàm phán từ tháng 6/2012; kết thúc đàm phán tháng 12/2015; đến tháng 6/2018, EVFTA được tách làm hai; Hiệp định Thương mại (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA) được thông qua tháng 6/2020
Trang 103.2 Các cam kết của Việt Nam trong một số lĩnh vực chính của Hiệp định CPTPP.
Cắt giảm thuế nhập khẩu
Cam kết thuế nhập khẩu của các nước CPTPP đối với Việt Nam.
Các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước Gần như toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào các nước CPTPP khác sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc theo lộ trình Một số cam kết thuế nhập khẩu của các đối tác CPTPP như sau:
Ca-na-đa cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu cho 95% số dòng thuế và 78% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ca-na-đa ngay khi Hiệp định có hiệu lực Trong đó, 100% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và 100% kim ngạch xuất khẩu gỗ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực
Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với 86% số dòng thuế (tương đương 93,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản), và gần 90% số dòng thuế sau 5 năm Trong Hiệp định CPTPP, Nhật Bản lần đầu tiên cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho đại đa số nông, thủy sản xuất khẩu của ta
Pê-ru cam kết xóa bỏ 80,7% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 62,1% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,4% số dòng thuế vào năm thứ 17 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực
Mê-hi-cô cam kết xóa bỏ 77,2% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 36,5% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 98% số dòng thuế vào năm thứ 10 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực
Chi-lê cam kết xóa bỏ 95,1% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 60,2% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,9% số dòng thuế vào năm thứ 8 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực
Ốt-xtrây-li-a cam kết cắt giảm 93% số dòng thuế, tương đương 95,8% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (khoảng 2,9 tỷ USD) ngay khi thực hiện Hiệp định Các sản phẩm còn lại sẽ được xóa bỏ thuế với lộ trình cắt giảm cuối cùng tối đa vào năm thứ 4
Niu-di-lân cam kết xóa bỏ 94,6% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 69% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (khoảng 101 triệu USD) Vào năm thứ 7 kể từ khi thực hiện Hiệp định, các dòng thuế còn lại sẽ dần được xóa bỏ hoàn toàn
Xinh-ga-po cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả các mặt hàng ngay khi thực hiện Hiệp định
Ma-lai-xi-a cam kết xóa bỏ 84,7% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ dần có lộ trình đối với các dòng thuế còn lại Vào năm thứ 11, số dòng thuế cam kết cắt giảm của Ma-lai-xi-a lên tới 99,9%
Bru-nây cam kết xóa bỏ 92% số dòng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam (tương đương 7.639 dòng) ngay khi Hiệp định có hiệu lực, xóa bỏ tới 99,9% vào năm thứ 7
và xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu vào năm thứ 11
Cam kết của các nước theo một số nhóm hàng
Giày dép:
78% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Ca-na-đa sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc được hưởng mức cắt giảm 75% so với mức thuế