Nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư, cộng với những diễn biến phức tạp của quá trình đầu tư và quan trọng hơn hết là để tiếp tục duy trì đẩy mạnh sự tăng trưởng này đang được xe
Trang 1BỘ GIÁO D ỤC VÀ ĐÀO TẠ O TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
GV hướng dẫn: Đinh Thuỳ Dung
Trang 2Danh sách thành viên và đánh giá công việc:
Nguyễn Ngọc Minh Châu 11218175 Hoàn thành xuất sắc
Chu Thị Lệ Thu 11218220 Hoàn thành xuất sắc
Tạ Thị Tuyết Nhi 11218204 Hoàn thành xuất sắc
Trần Quang Chiến 11218176 Hoàn thành xuất sắc
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
A VAI TRÒ CỦA CÁC LOẠI ĐẦU TƯ TRONG NỀN KINH TẾ 4
I Đầu tư tài chính 4
1 Tổng quan: 4
2 Đặc điểm: 4
3 Vai trò: 4
II Đầu tư thương mại 5
1 Khái niệm: 5
2 Đặc điểm: 5
3 Vai trò: 5
III Đầu tư phát triển 6
1 Khái niệm: 6
2 Vai trò: 7
IV M ặt trái của đầu tư: 11
B THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THEO CÁC NỘI DUNG ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 - 2021 12
I Đầu tư phát triển sản xuất 12
1 Tổng quan: 12
2 Sản xuất nông nghiệp: 13
3 Sản xuất công nghiệp: 14
II Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng - kỹ thuật 14
III Đầu tư phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội 20
1 Giáo dục: 20
2 Y tế: 24
3 Văn hoá: 25
IV. Đầu tư phát tri ển khoa học kỹ thuật 25
LỜI KẾT 30
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Với tình hình chính trị ổn định cùng với tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, bình quân đạt 6,8%/năm trong giai đoạn 2016 – 2019, trong con mắt của các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam
là 1 trong những môi trường đầu tư hấp dẫn, ẩn chứa nhiều tiềm năng Đến năm 2020 – 2021
và cả giai đoạn đầu của năm nay, khi dịch bệnh COVID 19 diễn ra phức tạp, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội thì Việt Nam vẫn là một điểm sáng trong bức tranh lớn - phác họa nền kinh tế của khu vực cũng như thế giới Với tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 2,91%, Việt Nam thuộc nhóm có mức tăng trưởng cao nhất thế giới năm 2020 Đến năm
-2021, tốc độ tăng trưởng có xu hướng suy giảm và chỉ đạt 2,58% tuy vậy, Việt Nam vẫn là - một trong số rất ít quốc gia duy trì mức tăng trưởng dương trên thế giới
“1/3 nền kinh tế trên thế giới có thể sẽ suy giảm vào năm nay và năm tới” Đây là cảnh báo vừa được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra hôm 11/10/2022 trong Báo cáo Cập nhật về Triển vọng kinh tế thế giới Tuy vậy, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng vững vàng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều thách thức Chúng ta đạt được điều đó là bởi vì ngoài yếu tố thuận lợi như tình hình chính trị ổn định thì là do việc nhà nước đã đưa ra những chính sách về kinh
tế hợp lí, trong đó phải kể đến các chính sách về đầu tư Đặc biệt, quyết định trực tiếp tới sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia là vấn đề đầu tư nói chung và đầu
tư phát triển nói riêng Nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư, cộng với những diễn biến phức tạp của quá trình đầu tư và quan trọng hơn hết là để tiếp tục duy trì đẩy mạnh sự tăng trưởng này đang được xem là nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu trong công cuộc CNH HĐH -nên tiếp theo đây qua bài tập lớn này chúng ta sẽ tìm hiểu về vấn đề “Vai trò đầu tư tài chính, đầu tư phát triển và đầu tư thương mại trong nền kinh tế Phân tích thực trạng đầu tư theo các nội dung đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2016 2021.” -
Trang 5A VAI TRÒ CỦA CÁC LOẠI ĐẦU TƯ TRONG NỀN KINH TẾ
I Đầu tư tài chính
1 Tổng quan:
● Đầu tư tài chính là việc bỏ ra 1 khoản tiền và mong đợi một số lợi nhuận từ nó trong khoảng thời gian, là hoạt động tạo lập và phát triển ra giá trị thặng dư (mức độ dôi ra
so với ban đầu) Ở phạm vi nhỏ, đầu tư tài chính là việc sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi
để đầu tư vào các kênh có thể sinh ra lợi nhuận Một số kênh đầu tư như: chứng khoán,
cổ phiếu, trái phiếu, forex, vàng, gửi tiết kiệm,…
● Khác với việc làm kinh doanh hay bất cứ hình thức lao động khác phải tham gia trực tiếp vào một công đoạn nào đó, đầu tư tài chính là việc bạn tạo ra tài sản từ hoạt động đầu tư, dựa trên óc phán đoán và tầm nhìn chiến lược Lợi nhuận mang tính lâu dài và
có khả năng sản sinh trong cả tương lai
2 Đặc điểm:
● Làm tăng tài sản tài chính của chủ đầu tư: tài sản đó là tiền, cổ phiếu mà sau thời gian kinh doanh sẽ thu được tiền
● Không trực tiếp làm tăng tài sản hữu hình của nền kinh tế
● Hiện tượng đầu tư được xem là hiện tượng đầu tư chuyển dịch cụ thể làm chuyển quyền
sở hữu và chuyển quyền sử dụng
● Đầu tư tài chính là một kênh huy động vốn rất quan trọng của ĐTPT
3 Vai trò:
● Đầu tư tài chính phòng ngừa sự mất giá của đồng tiền: trong bối cảnh nền kinh tế luôn
có lạm phát diễn ra trong thời kỳ nhất định sẽ khiến đồng tiền bị mất giá theo thời gian
Và dĩ nhiên một khi đồng tiền bị mất giá mà bạn cứ giữ nguyên nó mà không làm tăng thêm giá trị của nó thì tài sản sẽ bị hao hụt là chắc chắn sẽ diễn ra Chẳng hạn như việc chúng ta gửi tiền vào ngân hàng, tuy lãi suất tiền gửi không được cao nhưng rất an toàn
và làm cho giá trị tiền của chúng ta không bị giảm theo thời gian khi mà lạm phát được duy trì ở mức ổn định dưới mức % lãi suất ngân hàng
● Đầu tư tài chính giúp sinh lời hiệu quả: Ở một số kênh đầu tư, khả năng sinh lời tốt giúp chúng ta vừa chống lạm phát vừa tạo ra nhiều của cải hơn Tuỳ vào kinh nghiệm
và hiểu biết cụ thể của chúng ta về một lĩnh vực nào đó, chúng ta có thể tự tin đầu tư
để mang về lợi nhuận và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất
● Đầu tư tài chính tạo ra thu nhập thụ động: Bạn bỏ thời gian nghiên cứu thật kỹ lưỡng, sau đó quyết định mang tiền ra đầu tư, một thời gian đầu sẽ tốn nhiều thời gian nhưng
về sau khi bạn đã quen với hình thức đó rồi thì nó sẽ tự vận hành theo quy trình bạn đã thiết lập Bạn chỉ cần thỉnh thoảng quan tâm đến khoản đầu tư đó để biết và kiểm soát tình hình
Trang 6● Đầu tư tài chính cung cấp vốn cho những doanh nghiệp hay cá nhân đang cần vốn: Khi bạn mua cổ phiếu, trái phiếu, vàng, đầu tư vào tổ chức tài chính hay đơn giản hơn
là gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng thì dòng tiền sẽ được mang đến tiếp cận với những nhà đầu tư như doanh nghiệp hay cá nhân Khi các doanh nhân có đủ vốn đầu tư, họ sẽ sản xuất nhiều hàng hoá hơn và họ có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho công chúng (lao động hoặc nhân viên) Nếu cơ hội việc làm tăng lên ở một quốc gia , thu nhập và mức sống của người lao động cũng sẽ tăng lên Nếu mức sống tự động tăng thì sức tiêu thụ của công nhân cũng sẽ tăng theo Người lao động và công chúng sẽ tiêu thụ nhiều hàng hoá hơn từ những người kinh doanh Vì vậy, những người kinh doanh cũng sẽ được hưởng lợi Đồng thời nền kinh tế của quốc gia cũng sẽ phát triển theo
II Đầu tư thương mại
1 Khái niệm:
ĐTTM là hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, vốn vận động nhanh, độ mạo hiểm thấp do thời gian ngắn tính bất định không cao, lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao
3.1 Đối với doanh nghiệp:
- Các doanh nghiệp có thể sản xuất ra sản phẩm chất lượng nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tự đứng ra bán sản phẩm của chính mình Khi đó họ cần tìm một đơn vị có tài chính, kinh nghiệm bán hàng, quảng cáo, kho chứa hàng, để đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến gần hơn với khách hàng và thương hiệu doanh nghiệp vươn xa hơn trên thị trường Nhờ các mối quan hệ, kinh nghiệm cũng như khả năng tiếp cận thị trường… các nhà ĐTTM sẽ giải quyết được bài toán phân phối hóc búa
mà nhiều doanh nghiệp gặp phải
Trang 7Discover more from:
KTĐT_2022
Document continues below
Kinh tế đầu tư (ngoài ngành_3 TC)
Đại học Kinh tế Quốc dân
Kinh tế đầu tư - phân loại đầu tư theo dự án và phân tích 2
dự án trọng điểm quốc gia
Kinh tế đầu tư (ngoài ngành_3 TC) 100% (1)
18
Giáo trình chương 1 - Kinh tế đầu tư (ngoài ngành_3 TC)
Trang 8- Nhà đầu tư thương mại là “mắt xích” lo đầu ra cho sản phẩm của nhà sản xuất, giúp cho doanh nghiệp khai thác tối đa thị trường
Sản phẩm/dịch vụ thông qua các nhà đầu tư có thể đến được tay của người tiêu dùng ở những khoảng địa lý xa mà doanh nghiệp thông thể nào tiếp cận được
→ đầu tư thương mại phát triển giúp cho sự trao đổi được mở rộng
- Mang lại nguồn lợi nhuận trong thời gian ngắn hơn so với việc phân phối mà không có nhà đầu tư thương mại
- Các nhà đầu tư thương mại giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, thời gian và nguồn lực: Thay vì đổ chi phí và nguồn lực vào các hoạt động phân phối, thì nhờ vào các nhà đầu tư thương mại, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí và nhân lực của mình
để tập trung vào quay vòng sản xuất, tái đầu tư vào chu kỳ tiếp theo một cách nhanh chóng, không cần phải lo lắng hay chờ đợi (đó có thể là quá trình sản xuất, nghiên cứu
và phát triển sản phẩm mới hoặc là quá trình đầu tư nâng cao chất lượng cho khoa học, công nghệ)
3.2 Đối với ngành sản xuất:
- Thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hóa, góp phần đẩy nhanh chuyên môn hóa sản xuất
- Chức năng hoàn thiện hàng hoá: Chức năng này của ĐTTM làm cho hàng hoá đáp ứng những nhu cầu của người mua, nghĩa là thực hiện một phần công việc của nhà sản xuất
3.3 Đối với thị trường hàng hóa nói chung:
- Chia sẻ thông tin thị trường: Nhà đầu tư thương mại lại là những người hiểu rõ phong tục tập quán, pháp luật, thói quen mua hàng của các địa phương
- Cầu nối cho cung và cầu: Nhiều khi bên bán không biết bên mua ở đâu và ngược lại khi đó nhà đầu tư thương mại là “bà mối” giúp cho cung và cầu gặp nhau
- Hoạt động đầu tư thương mại còn có vai trò hướng dẫn tiêu dùng vì nó có thể tạo ra tập quán tiêu dùng mới
III Đầu tư phát triển
1 Khái niệm:
● Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động sử dụng vốn trong hiện tại, nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển
Mau hop dong tai tro - Mẫu hợp đồng giúp ích trong việc xin tài trợ
Kinh tế đầu tư (ngoài ngành_3 TC) 75% (4)
4
Trang 9● Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ
2 Vai trò:
❖ Xét trên góc độ vi mô:
Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ
sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư
❖ Xét trên góc độ vĩ mô:
2.1 Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
- Tác động đến tổng cầu (ngắn hạn)
Đầu tư (I) là một trong những bộ phận quan trọng của tổng cầu (AD = C + I + G + X – M)
Vì vậy, khi quy mô đầu tư thay đổi cũng sẽ có tác động trực tiếp đến quy mô tổng cầu Tuy nhiên, tác động của đầu tư đến tổng cầu là ngắn hạn Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng kéo theo sự gia tăng của sản lượng và giá cả các yếu tố đầu vào
- Tác động đến tổng cung (dài hạn)
Trong dài hạn, khi các thành quả của đầu tư đã được huy động và phát huy tác dụng, năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ gia tăng thì tổng cung cũng sẽ tăng lên Khi đó sản lượng tiềm năng sẽ tăng và đạt mức cân bằng trong khi giá cả của sản phẩm sẽ có xu hướng đi xuống Sản lượng tăng trong khi giá cả giảm sẽ kích thích tiêu dùng và hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ của nền kinh tế
2.2 Tác động hai mặt đến sự ổn định của nền kinh tế
Mỗi sự thay đổi (tăng hay giảm) của đầu tư cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định của nền kinh tế (tích cực) vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế (tiêu cực)
Trang 10tố đầu vào tăng dẫn đến lạm phát làm cho sản xuất bị đình trệ, đời sống của người dân lao động gặp khó khăn nền kinh tế phát triển chậm lại, phân hoá giàu nghèo, ảnh hưởng xấu đến môi trường,cạn kiệt nguồn tài nguyên
- Tác động tích cực: ngược lại, tăng đầu tư tác động đến tăng trưởng ngành và tăng trưởng chung của nền kinh tế, tạo công ăn việc làm, thu hút thêm lao động, nâng cao đời sống người lao động…
2.3 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng
- Mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở chỉ số ICOR, nó cho biết cần gia tăng bao nhiêu đơn vị vốn để có thể gia tăng một đơn vị sản lượng Đây được coi là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nó còn có một số nhược điểm như bỏ qua sự tác động của ngoại ứng, không tính đến độ trễ thời gian hay mới chỉ tính đến ảnh hưởng của yếu tố vốn đến gia tăng GDP
Dưới đây là số liệu phản ánh mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế cùng với chỉ
số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2016-2021:
Nguồn: Số liệu từ Tổng cục Thống kê
→ Chỉ số ICOR của Việt Nam lớn trước hết là bởi chi phí xây dựng và chi phí gia cố khấu hao rất nhiều so với tương quan các nước khác Tiếp theo là bởi song song với phát triển kinh
tế, nước ta còn chú trọng đến các vấn đề xã hội không có sự thu hồi về lợi nhuận Điều này - được thể hiện điển hình là ở năm 2021 do tình hình phức tạp của dịch bệnh COVID-19 - khi chỉ số ICOR của Việt Nam lên tới 15,5 và tốc độ tăng trưởng kinh tế là 2.58%
- Mặt khác, khi gia tăng đầu tư sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện công nghệ, chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH HĐH nên chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng -thay đổi
Trang 112.4 Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.4.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế là sự thay đổi có mục đích, có định hướng, dựa trên phân tích lý luận thực tiễn đầy đủ cùng với áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu ngành từ trạng thái này qua trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn
Sự khác biệt về vốn và tỷ trọng phân bố vốn được đầu tư giữa các ngành tạo nên hiệu quả khác nhau và tác động trực tiếp tới sự phát triển mỗi ngành nói riêng hay của cả nền kinh tế nói chung Cụ thể hơn, hệ quả tất yếu của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành là làm thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của các ngành và thay đổi số lượng các ngành trong nền kinh tế quốc dân Sự thay đổi này lại đi liền với sự thay đổi cơ cấu sản xuất trong từng ngành dưới sự tác động của đầu tư Đầu tư vào các ngành có tốc độ phát triển khác nhau sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuỳ mức độ chuyển đổi cơ cấu đầu tư và hiệu quả đầu tư khác nhau
2.4.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ
Đối với cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết sự mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn Mỗi vùng lãnh thổ sẽ có những đặc điểm kinh tế, lợi thế so sánh khác nhau, từ đó mà phù hợp với từng hoạt động đầu tư khác nhau:
• Lợi thế so sánh tĩnh: Vị trí địa lý, lao động giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên > thích hợp với hoạt động đầu tư ngắn hạn
-• Lợi thế so sánh động: Cơ chế chính sách, thái độ và năng suất lao động > có tiềm năng đầu
-tư lâu dài
=> Các nhà đầu tư thường khai thác lợi thế so sánh tĩnh trong thời gian ban đầu, nhưng với những hoạt động đầu tư về lâu dài những tiêu chí đó không còn đủ để đáp ứng nhu cầu Vậy nên, trước mỗi hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư cần ánh nhìn lâu dài, xem xét kỹ lưỡng các lợi thế mỗi vùng để đem lại hiệu quả đầu tư cao nhất
2.4.3 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào chiến lược phát triển của chính phủ Các chính sách kinh tế sẽ quyết định thành phần nào là chủ đạo,
Trang 12thành phần nào được ưu tiên phát triển, vai trò, nhiệm vụ của các thành phần trong nền kinh
tế
Từ đó tác động trực tiếp tới chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế Khi nhà nước thấy được tiềm năng phát triển từ các nguồn vốn đầu tư tư nhân, các hoạt động đầu tư tư nhân được coi là động lực tăng trưởng, tích cực thúc đẩy, tạo điều kiện phát triển từ đó tạo ảnh hưởng tích cực cho tăng trưởng nền kinh tế => Sự biến chuyển, xuất hiện các thành phần kinh tế mới qua hoạt động đầu tư bổ sung một lượng vốn không nhỏ và tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, giúp chúng ta huy động, tận dụng các nguồn lực xã hội một cách hiệu quả hơn, khuyến khích mọi cá nhân tham gia đầu tư kinh tế
2.4.4 Tác động 2 chiều giữa đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư là tác nhân chủ yếu dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Những quyết định đầu tư
sẽ làm ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế trong tương lai Nó làm thay đổi số lượng, tỷ trọng của từng bộ phận trong nền kinh tế Hoạt động đầu tư càng đem lại chuyển dịch cơ cấu, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sẽ càng làm phong phú tiềm lực của nền kinh tế, tiếp tục tác động ngược lại nguồn vốn đầu tư Từ đó tạo nên sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân dưới tác động 2 chiều của đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.6 Tác động tới tiến bộ xã hội và môi trường
● Đầu tư tác động tới tiến bộ xã hội:
Thông qua hoạt động đầu tư (đặc biệt đầu tư công):
- Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 13- Tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp
● Đầu tư tác động tới môi trường:
Vừa có những tác động tích cực và tiêu cực:
- Tác động tích cực: khắc phục và giảm bớt ô nhiễm môi trường, đầu tư sử dụng nguyên liệu tái chế, phát triển vật liệu mới thân thiện với môi trường
- Tác động tiêu cực: gây ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
IV Mặt trái của đầu tư:
Tuy nhiên có phải lúc nào đầu tư cũng đem lại lợi ích cho nền kinh tế, nhìn lại cuộc khủng hoảng trăm năm mới có 1 lần – khủng hoảng kinh tế thế giới 2008:
Trang 14dân không thể trả được nợ, sự sụp đổ của Lehman Brothers cùng hàng loạt hệ thống ngân hàng cũng là lúc cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ra đời và người gánh chịu không ai khác chính là những nhà đầu tư, những người dân trên toàn thế giới Kết quả là riêng ở Mỹ: “hơn
8 triệu người mất việc làm, xấp xỉ 2.5 triệu doanh nghiệp phá sản và có tới gần 4 triệu ngôi nhà bị thu hồi trong vòng 2 năm Bất ổn về an ninh lương thực cùng với sự mất cân bằng thu nhập làm cho nhiều người cảm thấy mất niềm tin vào cơ chế” và trên thế giới 20 triệu công việc biến mất hoàn toàn, 5000+ người tự tử vì không còn gì Tuy vẫn có những nhà đầu tư thực sự có lợi nhuận khổng lồ khi cuộc khủng hoảng bùng phát, nhưng lợi nhuận đó lại dẫm đạp lên chính sự mất nhà, mất tiền, mất cơ ngơi sự nghiệp của những người công dân khác
Cuộc khủng hoảng đã làm tê liệt nền kinh tế của cả thế giới khi giờ đây các nước kém và đang phát triển không thể xuất nhập khẩu, các nước phát triển thì không thể đầu tư vào các nước kém phát triển Cho nên đầu tư quả thực kích thích nền kinh tế nhưng nếu đầu tư với sự ham lợi nhuận quá mức, sự thiếu hiểu biết, thì sẽ gây là 1 hậu quả khôn lường
B THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THEO CÁC NỘI DUNG ĐẦU TƯ CỦA
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 - 2021
I Đầu tư phát triển sản xuất
1 Tổng quan:
Năm 2021, mặc dù sự kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất trong nước và thị trường toàn cầu cùng chuỗi giá trị trải qua một thời gian gián đoạn do ảnh hưởng của đại dịch, tỷ trọng hàng hóa sản xuất vẫn duy trì mức đóng góp hơn 85% vào tổng giá trị xuất khẩu, chủ yếu nhờ sự tăng trưởng tốt của nhóm hàng công nghệ cao như điện thoại và linh kiện tăng 12,4%; điện
tử, máy tính và linh kiện tăng 14,4%; máy móc và thiết bị tăng 41%
Bên cạnh đó, sản xuất cũng là ngành thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Cho đến nay, dòng tiền nước ngoài đã đầu tư vào 18 trong số 21 ngành kinh tế của Việt Nam Cũng như những năm trước, ngành sản xuất dẫn đầu, chiếm hơn 18,1 tỷ USD vốn đầu tư, tương đương 58,2% tổng vốn đầu tư Sự vượt trội của ngành sản xuất cho thấy hiệu quả và mức tăng năng suất mà Việt Nam mang đến cho các nhà đầu tư
Trang 15Ngày càng nhiều tập đoàn đa quốc gia phát triển hoặc chuyển các hoạt động sản xuất sang Việt Nam Trong năm 2021, có tổng cộng 106 quốc gia đầu tư vào Việt Nam Như năm trước, các quốc gia châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn FDI vào Việt Nam Singapore dẫn đầu với hơn 34,4% tổng vốn, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2020 Hàn Quốc đứng thứ hai với 5 tỷ USD, Nhật Bản xếp sau đó với 3,9 tỷ USD, trong khi Trung Quốc, Hồng Kông
và Đài Loan cùng trong top 5
Miền Bắc và miền Nam Việt Nam thu hút các lĩnh vực sản xuất khác nhau với nguồn lao động, cơ cấu công nghiệp cùng cơ sở hạ tầng riêng biệt Miền Bắc được biết đến như trung tâm của các ngành sản xuất nặng, dầu khí, điện tử và công nghệ cao bao gồm sản xuất ô tô Mặt khác, các ngành công nghiệp sản xuất truyền thống như may mặc và dệt may được thu hút vào khu vực phía nam Số lượng dự án cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang tập trung vào các thành phố lớn với cơ sở hạ tầng được trang bị đầy đủ
2 Sản xuất nông nghiệp:
Trong những năm đầu, nguồn vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu hướng vào lĩnh vực chế biến gỗ và các loại lâm sản, sau những năm 2000, nguồn vốn ĐTNN được thu hút khá đồng đều vào lĩnh vực trồng trọt, lâm sản, mía đường, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rừng, sản xuất nguyên liệu giấy Đa số các nhà đầu tư chú trọng vào việc lựa chọn địa bàn đầu
tư là vùng nguyên liệu truyền thống, phù hợp và thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu cho việc phát triển nguồn nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy Phần lớn các ngành trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp không thuộc danh mục đầu tư có điều kiện nên có đến ¾ số dự án là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, hình thức này phù hợp với yêu cầu điều hành hoạt động của doanh nghiệp cũng như về độ rủi ro cao của lĩnh vực này Nguồn vốn ĐTNN đầu tư vào lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp theo 4 hình thức là: hình thức 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, liên doanh, công ty cổ phần và hợp đồng hợp tác kinh doanh trong đó hình thức 100% vốn đầu tư chiếm đa số với 390 dự án với tổng vốn đăng ký trên 2,5 tỷ USD, chiếm 76,6% số dự án và 73,9% tổng vốn đăng ký
Trong thời gian qua ĐTNN vào nông nghiệp đã bước đầu đạt được một số thành tựu đáng khích lệ Các dự án ĐTNN đã đem vào Việt Nam nhiều thiết bị, công nghệ tiên tiến, nhiều giống cây, giống con có năng suất và chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhiều dự án đã
là những mô hình làm ăn kiểu mới có hiệu quả cao để nông dân và các doanh nghiệp Việt Nam noi theo Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã tạo thêm việc làm cho hàng chục ngàn lao
Trang 16động nông nghiệp và hàng chục vạn lao động sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
và nhiều loại hình dịch vụ khác Sản phẩm của doanh nghiệp có vốn ĐTNN được tiếp thị ở thị trường quốc tế một cách khá thuận lợi; đã góp phần đáng kể trong việc giới thiệu nông sản hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế giới tạo điều kiện cho nông sản Việt Nam thâm nhập thị trường, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu chung của ngành
3 Sản xuất công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng dương Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế năm 2020, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp cả năm tăng 3,36% so với năm trước, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế (Quý I tăng 5,1%; quý II tăng 1,1%; quý III tăng 2,34%; quý IV tăng 4,80%) Tính chung 5 năm, giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp (VA công nghiệp theo giá so sánh 2010) tăng từ 810,438 nghìn tỷ đồng năm 2015 lên 1.145,437 nghìn tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị gia tăng (VA) trong công nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 ước tăng 7,16%, cao hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra cho giai đoạn đến năm 2020 là 6,5 7,0%/năm -
Quy mô sản xuất công nghiệp liên tục được mở rộng Hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển, góp phần thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển sản xuất công nghiệp, nhất là các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, có giá trị gia tăng cao Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP của toàn ngành công nghiệp tăng từ 7,4% năm 2016 lên 9,1% năm
2019 Bước sang năm 2020, ngành công nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19, IIP cả năm 2020 tăng 3,4% so với năm 2019 Trong đó: ngành khai khoáng giảm 7,8%; ngành chế biến, chế tạo tăng 4,9%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,1%; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,3%
Sản xuất công nghiệp trong quý IV/2021 khởi sắc ngay sau khi các địa phương trên cả nước thực hiện Nghị quyết số 128/NQ CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về thích ứng an toàn, -linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid 19 với tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 6,52% so với -cùng kỳ năm trước Tính chung cả năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,82%
so với năm 2020, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,37%
II Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật -
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư