ĐỀ CƯƠNG TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI VIỆT NAM Câu 1: Khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng a. Tôn giáo Trước khi đạo Kitô xuất hiện: Religion ( Legere, Relegere) được hiểu là sự thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên nhằm làm tăng thêm sức mạnh của bản thân và của cộng đồng. Sau khi đạo Kitô ra đời: Religion được hiểu là sự ràng buộc, mối quan hệ giữa con người và chúa trời. Đó là đạo Kitô. Khi đạo Tin Lành tách ra khỏi đạo Kitô: Religion là thuật ngữ dùng để chỉ 2 tôn giáo cùng thờ một chúa. Sau này, thuật ngữ Religion được dùng để chỉ các hình thức tôn giáo nói chung : Thuật ngữ Religion là thuật ngữ được dịch thành tông giáo xuất hiện ở Nhật Bản vào thế kỉ XVIII, sau tới Trung Hoa và vào Việt Nam khoảng cuối thế kỉ XIX và được người Việt đọc chệch thành tôn giáo ( do kỵ tên húy của vua Thiệu Trị). Ngoài ra người Việt Nam còn sử dụng một số khái niệm khác để thay thế cho thuật ngữ tôn giáo: Đạo, giáo, thờ, cúng.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI VIỆT NAM
Câu 1: Khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng
a Tôn giáo
- Trước khi đạo Kitô xuất hiện:
Religion ( Legere, Relegere) được hiểu là sự thu lượm thêm sức mạnh siêu
nhiên nhằm làm tăng thêm sức mạnh của bản thân và của cộng đồng
- Sau khi đạo Kitô ra đời:
Religion được hiểu là sự ràng buộc, mối quan hệ giữa con người và chúa
trời Đó là đạo Kitô
- Khi đạo Tin Lành tách ra khỏi đạo Kitô:
Religion là thuật ngữ dùng để chỉ 2 tôn giáo cùng thờ một chúa.
- Sau này, thuật ngữ Religion được dùng để chỉ các hình thức tôn giáo nói chung :
Thuật ngữ Religion là thuật ngữ được dịch thành tông giáo xuất hiện ở Nhật
Bản vào thế kỉ XVIII, sau tới Trung Hoa và vào Việt Nam khoảng cuối thế
kỉ XIX và được người Việt đọc chệch thành tôn giáo ( do kỵ tên húy của vuaThiệu Trị)
- Ngoài ra người Việt Nam còn sử dụng một số khái niệm khác để thay thế
cho thuật ngữ tôn giáo: Đạo, giáo, thờ, cúng
b Tín ngưỡng:
- Là lòng tin, niềm tin, sự tin tưởng , ngưỡng mộ của con người đối với
một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa
Có nhiều quan điểm khác nhau về tin ngưỡng:
- Quan điểm 1 : Tín ngưỡng là một hình thức phát triển của tôn giáo ở giai đoạn sơ khai ( thời nguyên thủy) Tuy nhiên tín ngưỡng ở hình thái ý thức
Trang 2xã hội khác với tôn giáo, nếu tôn giáo có sự phát triển với kết cấu hoànchỉnh, thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận, một yếu tố tôn giáo, chưa có sựphát triển hoàn chỉnh.
- Quan điểm 2 : Tín ngưỡng và tôn giáo không phân biệt với nhau, đều có cùng nguồn gốc, vai trò cũng như chức năng Tín ngưỡng và tôn giáo luôn
đi kèm với nhau, nếu nói tôn giáo thì tức là tín ngưỡng cũng nằm trong tôngiáo và ngược lại
c So sánh tín ngưỡng và tôn giáo.
Về kinh sách Chưa hoặc chưa có đầy đủ
hệ thống giáo lý, giáo luật
mà mới chỉ có các huyềnthoại, thần tích, truyềnthuyết với những điều cấm
kỵ
Có đầy đủ các yếu tố cấuthành ý thức tôn giáo ( đặcbiệt là hệ tư tưởng) với giáo
lý, giáo luật tương đốithống nhất
Về tổ chức Chưa thành giáo hội , chỉ
gắn với cá nhân, cộng đồnglàng xã
Tổ chức giáo hội đoàn thểchặt chẽ, hình thành hệthống các nhà tư hànhchuyên nghiệp
Nơi thờ cúng Còn phân tán, chưa thành
quy ước chặt chẽ và thốngnhất
Nơi thờ cúng riêng, nghi lễthờ cúng chặt chẽ và thốngnhất (Chùa, nhà thờ, thánhđường…)
Tính chất Mang tính dân gian , sinh
hoạt dân gian, gắn với đờisống hàng ngày của ngườinông dân
Không mang tính dân gian,
có chăng chỉ là biến dạngtheo kiểu dân gian hóa
Trang 3Tóm lại : Tín ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, là một yếu tố
thuộc đời sống tinh thần, là sự biểu hiện niềm tin vào cái thiêng thông qua
hệ thống lễ nghi thờ cúng của một cá nhân hay của một cộng đồng ngườitrong xã hội
Câu 2: Đặc trưng của tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam
a Hành vi tín ngưỡng tôn giáo còn mang tính thực dụng ( tính “ dụng” ).
- Tính “dụng” : Thấy lợi thì làm
- Tính thiêng: Niềm tin của người việt vào thần thánh chỉ nhằm làm cho
cuộc sống hiện tại của họ, của gia đình, dòng họ và cồng động họ được tốtđẹp hơn Họ không qua chú trọng vào kiếp sau, vào các vấn đề lớn như sángthế luận Người Việt chỉ tin vào những vị thần nào đáp ứng được những yêucầu và đòi hỏi của họ Còn khi những đòi hỏi đó không được đáp ứng thìnhững vị đó sẽ bị phế bỏ hoặc bị quên lãng
b Niềm tin tín ngưỡng tôn giáo của người Việt mang tính dung hợp, đan xen, hòa đồng( tính đa thần )
- Hệ quả là: niềm tin tín ngưỡng của người Việt “ bàng bạc”, không sâu sắc,không cuồng tín, dễ hình thành nhưng cũng dễ mất đi
c Vai trò của người phụ nữ trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng thể hiện
rõ nét:
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, Phật giáo, Công giáo
d Niềm tin tín ngưỡng tôn giáo của người Việt là phương thức để học hành di dưỡng đạo đức luân lý, truyền thống văn hóa của cộng đồng, gia đình mình.
e Đời sống tín ngưỡng tôn giáo vận hành theo lối tiểu nông:
- Các hành vi tín ngưỡng tôn giáo được thực hiện theo tập quán, chưa hẳndựa vào giáo lý, sự hiểu biết của chủ thể cũng không đầy đủ
Trang 4- Các hành vi tôn giáo tín ngưỡng bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế thị trường và
đề cao đồng tiền Điều đó kéo theo hệ quả là sự suy thoái do trình độ yếukém của các chức sắc về giáo lý, do sự câu nệ các nghi thức rườm rà, do sự
sa sút về đạo đức của người trụ trì các cơ sở thờ tự tôn giáo cũng như củamột số cán bộ nhà nước phụ trách công việc tôn giáo,
Câu 3: Định nghĩa lễ hội:
Khái niệm lễ hội được hình thành từ hai khái niệm Lễ và Hội
a Lễ :
- Là những khuôn mẫu, phép tắc mà người xưa đặt ra buộc các thế hệ sauphải tuân theo trong các mối quan hệ xã hội Đó là nền tảng của mối quan hệgiữa con người với con người
- Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu, hoặc kỉ niệm một sự kiện
có ý nghĩa nào đó ( Ví dụ : Lễ khai giảng , Quốc khánh mùng 2/9) )
-Vái lạy để bày tỏ lòng tôn kính, tham dự các lễ nghi tôn giáo( Ví dụ vớiĐức Phật, với Thành Hoàng Làng…)
b.Hội
- Là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự theo phong tục hoặc
nhân dịp đặc biệt Hội là phần đời thường, luôn gắn bó và phản ánh cuộcsống thường nhật của mỗi cá nhân và cộng đồng với tính chất phóng khoáng,
ồn ào, nô nức trong không gian tràn ngập trò chơi, kéo con người về cuộcsống thế tục
c Khái niệm Lễ hội :
Trang 5- Là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, diễn ra trên một địa bàn
dân cư, trong một giới hạn không gian và thời gian nhất định nhằm tái hiệnlại một truyền thuyết, một sự kiện lịch sử gắn với những nhân vật được cộngđồng tôn kính, thờ phụng, đồng thời để biểu hiện cách ứng xử văn hóa củacon người với thiên nhiên, với thần thánh và với con người trong xã hội…Trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ, phần hội là phần tái sinh , tích hợp
Câu 4: Phân loại lễ hội
- Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển của lễ hội
+ Lễ hội cổ truyền : là một hoạt động văn hóa dân gian tổng thể, một hình
thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân làng xã Việt Nam Nó ra đời,tồn tại và biến đổi trên cơ sở phản ánh đời sống thực của cộng đồng làng xãngười Việt
+ Lễ hội hiện đại: Là loại lễ hội mang tính thương mại cao, được bổ sung
thêm nhiều hoạt động mang tính chính trị, mang hơi thở thời đại, nội dungthường gắn với các nhân vật lịch sử có công với các mạng hoặc kháng chiếnhoặc các hoạt động kỉ niệm Đó là lễ hội ở các địa phương nhân dịp kỉ niệmngày thành lập Đảng (3/2) , Quốc Khánh (2/9), Giải phòng miền Nam thốngnhất đất nước (30/4 )
- Căn cứ theo mục đích tổ chức của lễ hội: Khi phân loại lễ hội theo mục
đích thì cách thức tổ chức cũng có nhiều sự khác nhau nhưng dựa trên phântích và ý nghĩa và cội nguồn của hội làng
+ Thường người ta chia lễ hội làm 5 loại:
- Lễ hội Nông nghiệp: Là loại lễ hội mô tả lại những lễ nghi liên quan đến
chu trình sản xuất nông nghiệp mang tích chất cầu mùa như: lễ hội Cơmmới, lễ hội Lồng tồng,…
Trang 6- Lễ hội Phồn thực Giao duyên: là loại lễ hội gắn với sinh sôi nảy nở cho
con người và vật nuôi, cây trồng mang tính chất tín ngưỡng phồn thực như:
Lễ hội chọn rể Tây Bắc, Chợ tình Khau Vai (Hà Giang),…
- Lễ hội văn nghệ: Là loại lễ hội hát dân ca nghệ thuật như: Hội Lim ở Bắc
Ninh, Hát chèo ở Thái Bình,…
- Lễ hội thi tài: Là loại lễ hội thi thố các tài năng như Bắt trạch trong chum,
thi thổi cơm, bắt vịt trong ao,…
- Lễ hội lịch sử: Là loại lễ hội diễn tả lại các trò nhắc lại hay biểu dương
công tích các vị thành hoàng và những người có công với đất nước như: lễhội Đền Hùng, lễ hội Cổ Loa,…
+ Căn cứ vào cấp tổ chức : Lễ hội mang tính quốc tế, lễ hội mang tính quốc
gia, lễ hội mang tính vùng miền, lễ hội làng
+ Theo thời gian tổ chức Lễ hội: Mùa thu, mùa xuân,
+ Theo địa điểm mở hội :
Lễ hội chùa, đền, đình: Thường tổ chức vào những ngày tháng đầu năm,
nhiều nơi có quy định thời gian lễ hội trong năm, tùy theo tục lệ và truyềnthống của địa phương, tuỳ theo cấp di tích lịch sử chùa, đền, đình tổ chức lễhội cũng do các cấp tổ chức như cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ
sở Những lễ hội lớn như lễ hội chùa Hương, chùa Bái Đính, Đền Hùng, BàChúa Kho v.v
- Lễ hội truyền thống của các địa phương (lễ hội dân gian của địa phương): Đây là các lễ hội của một số địa phương đã có từ lâu đời để ôn lại
những nét đặc thù hoặc truyền thống của địa phương như: lễ hội chọi trâu ởHải Phòng, bơi thuyền ở các tỉnh miền sông nước, lễ hội về cây trồng, vậtnuôi mang tính đặc thù và phát triển ở một số địa phương như lễ hội cà phêBan Mê Thuật, hoa Đà Lạt v.v
Trang 7- Lễ hội đặc trưng của từng dân tộc như lễ hội cồng chiêng Tây nguyên,
ném còn của người Thái, lễ hội cầu mùa của các dân tộc khác v.v
- Lễ hội về công đức các bậc tiền nhân gắn với truyền thuyết lịch sử và các đền, chùa ở một số địa phương như lễ hội Đền Trần, Đền Hùng v.v.
- Lễ hội tôn giáo như lễ Vu Lan, lễ Phật Đản của Đạo Phật; lễ Thiên chúa
giáng sinh, lễ Phục sinh … của Công giáo, Tin lành
Câu 5: Vai trò của lễ hội
- Lễ hội nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của một bộ phận cư dân nông
đó người dân lấy lại được sự cân bằng về tâm lý cũng như tìm thấy sự tự tin của bản thân vào tương lai của họ để họ tiếp tục sống
- Lễ hội góp phần bảo lưu, phát huy và giáo dục giá trị văn hóa đạo đức trong truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Lễ hội còn là bảo tàng văn hóa- nơi lưu giữ tín ngưỡng tôn giáo, sinh hoạt văn hóa văn nghệ.
- Bên cạnh vai trò tích cực, sinh hoạt lễ hội Việt Nam đã và đang có nhiều tácđộng tiêu cực đối với xã hội Một số hoạt động mê tín dị đoan như : xócquẻ , bói toán,…
Câu 6 :Xu hướng phát triển của lễ hội và những vấn đề đặt ra hiện nay
Trang 8*Xu hướng phát triển: Trong tương lai, lễ hội cổ truyền sẽ biến đổi theo
hướng mất dần tính lễ và tăng dần tính hội Vì phần lễ thuộc về tôn giáo nên
có nhiều yếu tố mê tín dị đoan cần dần dần loại bỏ Còn phần hội là phầnsinh hoạt văn hóa cộng đồng nên cần giữ lại và phát huy
* Một số vấn đề đặt ra hiện nay:
- Đơn điệu hoá lễ hội:
Văn hoá nói chung cũng như lễ hội nói riêng, bản chất của nó là đa dạng.Cùng là lễ hội, nhưng mỗi vùng miền, thậm chí mỗi làng có nét riêng, theokiểu người xưa nói “Chiêng làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấythờ”
Như vậy, mỗi lễ hội đều có cốt cách, sắc thái riêng, cuốn hút khách thậpphương đến với lễ hội làng mình Tuy nhiên, ngày nay, lễ hội đang đứngtrước nguy cơ nhất thể hoá, đơn điệu hoá, hội làng nào, vùng nào cũng na nánhư nhau, làm thui chột đi tính đa dạng của lễ hội, du khách thập phươngsau một vài lần dự hội thì cảm thấy nhàm chán và không còn hứng thú đichơi hội nữa Hiện nay, việc ban tổ chức thuê, mời các nghệ nhân quan họđến biểu diễn trong các lễ hội miền Bắc là điều dễ nhận thấy Điều này lặp đilặp lại trong nhiều lễ hội sẽ gây ra tình trạng nhàm chán đối với khách tham
dự, khiến khách du lịch vắng dần Thêm vào đó, việc vay mượn kịch bản lễhội, lạm dụng phương tiện âm thanh, ánh sáng hiện đại, trùng lặp của các tròchơi dân gian , sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền trong tổ chức và vậnhành lễ hội … cũng góp phần gia tăng tình trạng đơn điệu hóa lễ hội
- Trần tục hoá lễ hội:
Lễ hội gắn với tín ngưỡng dân gian, do vậy nó thuộc về đời sống tâm linh nómang “tính thiêng” với ngôn ngữ biểu hiện là ngôn ngữ biểu tượng Ngàynay, trong phục hồi và phát triển lễ hội, do chưa nắm được ý nghĩa thiêngliêng, đặc biệt là cách diễn đạt theo cách “biểu trưng”, “biểu tượng” của
Trang 9người xưa, nên lễ hội đang bị trần tục hoá, tức nó không còn giữ được tínhthiêng, tính thăng hoa và ngôn ngữ biểu tượng của lễ hội và như vậy lễ hộikhông còn là lễ hội đích thực nữa Điển hình cho việc trần tục hóa là việchiện nay có một bộ phận người dân coi “tiền lẻ” như một “lễ vật” và đượcđặt cùng với đồ lễ khác để dâng lên Thần, Phật
- Quan phương hoá lễ hội:
Văn hoá nói chung, trong đó có sinh hoạt lễ hội là sáng tạo của nhân dân, donhân dân và vì dân Đó là cách thức mà người dân nói lên những mong ước,khát vọng tâm linh, thoả mãn nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá củamình Do vậy, từ bao đời nay, người dân bỏ công sức, tiền của, tâm sức củamình ra để sáng tạo và duy trì sinh hoạt lễ hội
Trong việc phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền hiện nay, dưới danh nghĩa
là đổi mới lễ hội, gắn lễ hội với giáo dục truyền thống, gắn lễ hội với dulịch…đây đó và ở những mức độ khác nhau đang diễn ra xu hướng quanphương hoá, áp đặt một số mô hình định sẵn, làm cho tính chủ động, sángtạo của người dân bị suy giảm, thậm chí họ còn bị gạt ra ngoài sinh hoạt vănhoá mà vốn xưa là của họ, do họ và vì họ Chính xu hướng này khiến cho lễhội mang nặng tính hình thức, phô trương, “giả tạo”, mà hệ quả là vừa tácđộng tiêu cực tới chủ thể văn hoá, vừa khiến cho du khách hiểu sai lệch vềnền văn hoá dân tộc
- Thương mại hoá lễ hội:
Cùng với xu hướng phục hồi và phát triển lễ hội hiện nay, thì không ít cáchoạt động mang tính “thương mại hoá”, lợi dụng lễ hội để thu lợi bất chính,
ép buộc, bắt chẹt người đi trẩy hội, đặc biệt là lợi dụng tín ngưỡng trong lễhội để “buôn thần bán thánh” theo kiểu “đặt lễ thuê”, “khấn vái thuê”, bóitoán, đặt các “hòm công đức” tràn lan, tạo dựng các “di tích mới” để thu tiềnnhư trong lễ hội Chùa Hương, Bà Chúa Kho Cũng không phải không có
Trang 10một số “tổ chức” mệnh danh là quản lý lễ hội, hoạt động du lịch để bán véthu tiền bất chính khách trẩy hội, làm giảm đi tính tôn nghiêm và nét đẹpvăn hóa trong hoạt động lễ hội
- Một số lễ hội không còn phù hợp với xã hội hiện đại : Lễ hội chém lợn
(Bắc Ninh) , Đâm trâu ở Tây Nguyên,
Câu 7: Các công việc chuẩn bị cho lễ hội:
- Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn.: Giai đoạn chuẩn bị cho mùa
lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiếnhành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phâncông, cắt cử mọi việc để đón mùa lễ hội năm sau
- Khi ngày hội sắp diễn ra:
+ Công việc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục
+ Quét dọn, mở cửa di tích, trang trí di tích
+ Lựa chọn người chủ tế và phục vụ lễ hội( hay còn gọi là cai đám và nhữngngười phục vụ) với những tiêu chuẩn nhất định tùy theo mỗi làng Ông chủ
tế là người thay mặt dân làng tiếp xúc với thần, được dân làng chọn kỹ nhấtvới những tiêu chí nhất định: Phải có trình độ học vấn, người được chọnkinh tế gia đình đủ ăn , có chút dư thừa , gia đình phải song toàn (còn cả vợlẫn chồng), con cái gia đình đó phải đang làm ăn phát đạt, nhà không cótang
- Lễ rước nước: Trước khi vào đám một ngày, làng cử hành lễ lấy nước từ
giữa sông, giữa giếng nước về đình ( đền) Nước thường đựng vào chóe sứhay bình sứ đã lau chùi sach sẽ Người ta múc nước từ gáo đồng, lúc đổnước phải qua miếng vải đỏ ở miệng bình, miệng chóe Sau đó, bình nướcđưa lên kiệu rước về nơi thần linh an ngự
Trang 11- Lễ mộc dục: Ngay sau lễ rước nước làng cử hành lễ mộc dục (tức là lễ
tắm rửa tượng thần) Đây là lễ xin phép thần để dân được tắm rửa, thay lại
mũ áo cho chỉnh tề, xin phép được mở hội Đây cũng là lúc mở cửa đền vàcáo yết với thần linh Công việc này thường giao cho một số người có tínnhiệm Những người tham gia lễ mộc dục là những thành viên đội tế, có đạođức được dân làng tin cậy và trong nhà không có tang
Họ thắp hương, dâng lễ rồi tiến hành công việc một cách thận trọng Tượngthần được tắm 2 lần nước (lần thứ nhất được tắm bằng nước làng vừa rước
về, lần 2 bằng nước ngũ vị đã chuẩn bị trước)
- Tế gia quan: Là lễ khoác áo, mũ cho tượng thần, bài vị Cũng có thể là áo
mũ đại trào được triều đình ban theo chức tước, phẩm hàm lúc đương thờihoặc là áo mũ hàng mã đặt làm (theo sắc phong) thờ ở nơi thần an ngự
Câu 8: Các hoạt động trong lễ hội
* Phần nghi lễ thường gồm:
- Đám rước: Đón thần vị từ nơi ngài ngự (đền, miếu, nghè…) về đình (gọi
là phụng nghênh hồi đình) được tổ chức để ngài xem hội, dự hưởng lễ vật đượcdâng từ tấm lòng thành kính của toàn thể dân làng Thành phần tham dự đám rước
là tất cả dân làng, trong đó có cả các chức sắc Công cụ phương tiện sử dụng trongđám rước như : Kiệu, cờ, quạt , đồ tế khí,…
- Đại tế: Là nghi thức lễ trang trọng nhất khi bài vị vừa rước ra đình Tại lễ
này, làng thường mổ trâu, mổ bò làm lễ vật dâng cúng thần linh
- Lễ túc trực: Là lễ trông nom, canh giữ bài vị hoặc tượng thần lúc rước từ
đền, miếu, ra đình, chùa… tùy theo thời gian mở hội dài hay ngắn mà tượngthần sẽ ngự tại đình lâu hay mau
Trang 12- Lễ hèm: Hèm có nghĩa là những điều tránh, kiêng, cái không được phạm,
cái cấm kỵ Ở những hội làng có thần tích không bình thường thì trong hội cóthêm tục hèm Thông thường, hèm của mỗi làng là những hành động, nghi lễmang tính bí mật, riêng tư gắn với lai lịch vị thần làng đang được thờ phụng.Những hèm đó có chung đặc điểm là bí mật riêng, phải giấu giếm đối với ngườingoài cuộc (cộng đồng khác) và giấu giếm với chính quyền trung ương (dướithời phong kiến) Chính các nghi lễ hèm đã tạo ra dấu ấn riêng cho cộng đồng
sở hữu nó và trở thành niềm tin linh thiêng khi oai linh của các vị thần có hèmphù trợ cho cộng đồng an lành, thịnh vượng Ví dụ : “tục hèm” đánh bệt (cósách gọi là “đánh biệt”) của lễ hội làng La Cả ở xứ Đoài (Hà Nội ngày nay)rằng: “Trong lúc tắt đèn ấy, một số người thì sang sân bên kia theo đoàn săn hổ,một số người khác ngồi lại tại chỗ muốn làm gì thì làm Gọi là săn hổ nhưngnam nữ đi tìm đuổi nhau, ai bắt được ai cũng mặc… Theo tục lệ cổ truyền, nam
nữ ân ái với nhau trong đêm rã đám ấy mà trót có thai thì làng không bắt tội,ngược lại họ còn cho là may, là sẽ làm ăn phát đạt, mùa màng càng tươi tốt vìsinh lực truyền xuống đất đai rất nhiều”
* Phần hội : Thường có hai nội dung: bữa ăn chung của cộng đồng ( còn gọi
là bữa ăn cộng cảm) và các trò vui
- Trò chơi : Hình thức vui chơi gồm: Hội tung còn, chơi đu, chọi trâu, và
một số trò chơi khác Các trò diễn vui khỏe : Vật, kéo co, đấu võ Các trò mangtính chất nghệ thuật sân khấu : múa xuân ngưu, múa khăn, …
- Ăn uống cộng cảm : “ Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp “ Cộng
cảm ở đây là sự công dồn cả về tính thiêng và tinh thần cộng đồng trong làng
xã Ngoài vui chơi giải trí, ngoài gặp gỡ ban bầu, mọi người về dự hội đều cảmthấy hình như mình còn được thêm một cái gì nữa Phải chăng đó là “lộcthánh”, “lộc thần” Hay tất cả gọi chung là lộc hội Thứ quyền lợi vô hình ấy chỉ
Trang 13có trong ngày hội và ai muốn được thì phải đến tận nơi mà nhận chứ không ai
có thể ai nhận thay cho ai Đồng thời cũng là dịp để cộng đồng làng xã gắn kếtvới nhau hơn
- Kết thúc hội, rã đám : Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa di tích.
Câu 9: Tính chất của lễ hội:
- Tính thiêng : Tính thiêng biểu hiện trong niềm tin thiêng liêng của dân gian
vào vị thần linh mà lễ hội đang hướng đến; trong không gian thiêng; trong
hầu hết các hoạt động và nghi lễ diễn ra ở lễ hội Ví dụ : trong lễ hội ông
Đùng bà Đà ở Hưng Yên thì người ta giành giật cái nan tre đan hình ôngĐùng bà Đà vì quan niệm rằng, chỉ cần ném cái nan tre xuống ruộng, lúa sẽtrĩu hạt, ném vào ruộng muối, muối sẽ được mùa
- Tính quần thể: Lễ hội luôn có sự tham gia của các nhóm người trong xã
hội, mọi tầng lớp, lứa tuổi, hoàn cảnh sống Ví dụ : “ Bà ẵm cháu, mẹ bồng
con/ Không đi hội Trám cũng buồn cả năm”
- Tính biểu dương và hiệu triệu: Ngày hội là dịp biểu hiện sức mạnh cộng
đồng, cũng là dịp thể hiện mối quan hệ ứng xử và giao tiếp tốt đẹp ở cả bachiều: Cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng và cộng đồng với cánhân
- Tính tượng trưng và biểu tượng: Tượng trưng và biểu tượng là thủ pháp
đặc thù xây dựng lễ hội dân gian Ví dụ như trong hội Gióng (Sóc Sơn – Hà
Nội) phần hội chính không thể thiếu nghi lễ chém tướng và tục cướp hoa tre(hay còn gọi là roi ngựa của Gióng) Roi ngựa được làm từ hoa tre là mộthiện vật mang tính biểu tượng và được giải thích là chiếc roi Thánh Gióngdùng để điều khiển ngựa
- Tính nghệ thuật hóa, nghi thức hóa các hoạt động hội: Được thể hiện
trong mọi mặt của lễ hội, từ không gian tổ chức lễ hội với sự sắp đặt và trang
Trang 14trí đẹp mắt đến đám rước rực rỡ sắc màu Nó còn thể hiện ở trang phục dựhội, các diễn xướng trong lễ hội, các nghi lễ tế thần
Câu 10: Giáo lý cơ bản của Phật giáo
( Theo cuốn sách 10 tôn giáo lớn trên thế giới )
- Người sáng lập ra Đạo Phật tương truyền là Siddhartha Gautama Thích CaMâu Ni là tên gọi sau khi thành đạo, có nghĩa là “người giác ngộ” hoặc
“người giác ngộ chân lý” Giáo lý cơ bản của Phật giáo từ khi Đức Phật vàcác đệ tử trực truyền của người, được gọi là Phật giáo nguyên thủy Giáo lý
cơ bản bao gồm: Thuyết Tứ diệu đế, Thuyết Duyên Khởi, Thuyết Ngũ uẩn, Thuyết Vô thường, vô ngã
- Tứ diệu đế bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
+ Khổ đế: Đức Phật chỉ ra rằng, con người ta sống ở trên đời ai cũng phải gặp những điều đau khổ Ngài đã khái quát cái khổ của con người thành 8 loại khổ (bát khổ):
- + Sinh (sinh ra đời và tồn tại cũng phải trải qua những đau khổ);
- + Lão (tuổi già sức yếu là khổ);
- + Bệnh (đau ốm là khổ);
- + Tử (chết là khổ);
- + Ái biệt ly khổ (những người thân yêu phải xa nhau là khổ);
- + Oán tăng hội khổ (những người có oán thù mà phải gặp gỡ cũng khổ);
- + Cầu bất đắc khổ (điều mong cầu không toại nguyện là khổ);
- + "Ngũ ấm xí thịnh khổ": sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm
Khổ đế khiến mọi người nhìn rõ về quy luật và thực tế của cuộc sống
để trân trọng những gì mình có, khi gặp cảnh khổ cũng không hoảng loạn
mà điềm tĩnh đón nhận, không bị hoàn cảnh chi phối, tìm phương án giảiquyết cho tốt đẹp
Trang 15+Tập đế: nguyên nhân tạo thành những nỗi khổ hiện hữu ở đời, Đức Phật gọi là Tập đế Đức Phật khái quát nguyên nhân nỗi khổ thành “Thập kết sử” (mười điều cốt lõi làm cho con người bị khổ đau), đó là: tham (tham lam), sân (giận dữ), si (si mê), mạn (kiêu ngạo), nghi (nghi ngờ), thân kiến (chấp ngã), biên kiến (hiểu biết không đầy đủ, cực đoan), tà kiến (hiểu không đúng, mê tín dị đoan…), kiến thủ (bảo thủ về ý kiến của mình), giới cấm thủ (làm theo lời răn cấm của tà giáo) 10 điều này đều có thể ở chính ngay trong con người và gây nên đau khổ, tuy nhiên Đức Phật nhấn mạnh đến 3 điều: Tham - Sân – Si
+ Diệt đế: Đức Phật chỉ ra kết quả an vui, hạnh phúc đạt được khi con
người diệt trừ hết những nỗi khổ, muốn diệt khổ phải diệt tận gốc, đó là diệt cáinguyên nhân gây ra đau khổ
+ Đạo đế: là những phương pháp Đức Phật hướng dẫn để chúng sinh thực
hành diệt khổ, được vui Con đường để thực hiện có 8 loại : Chính kiến, chính
tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chínhđịnh (Nghiệp nghĩa là hành động, việc làm của thân, khẩu, ý Khi chúng ta nghĩmột điều gì, nói một câu gì, làm một việc gì, lành hay dữ, xấu hay tốt, nhỏ nhặthay to lớn, mà có ý thức, đều gọi là nghiệp)
- Thuyết Duyên khởi :
+ Phật giáo quan niệm các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn vận
động và biến đổi không ngừng theo quy luật Thành - Trụ - Hoại - Không (mỗi sự vật đều có quá trình hình thành, phát triển và tồn tại một thời gian, rồi biến chuyển đi đến huỷ hoại và cuối cùng là tan biến, ví như một
làn sóng, khi mới nhô lên gọi là “thành”, khi nhô lên cao nhất gọi là “trụ”,khi hạ dần xuống gọi là “hoại”, đến khi tan rã lại trở về “không”) và đều bịchi phối bởi quy luật nhân - duyên, trong đó nhân là năng lực phát sinh, là
Trang 16mầm để tạo nên quả và duyên là sự hỗ trợ, là phương tiện cho nhân phátsinh, nảy nở.
+ Về con người, Phật giáo cho rằng cũng không nằm ngoài quy luật: Thành
- Trụ - Hoại - Không, hay nói cách khác bất cứ ai cũng phải tuân theo quy
luật: Sinh - Trụ - Dị - Diệt (đó là chu trình con người được sinh ra, lớn lên,
tồn tại, thay đổi theo thời gian và cuối cùng là diệt vong)
+Nhân - duyên ở đây được Phật giáo khái quát thành một chuỗi 12 nhân duyên (thập nhị nhân duyên), là sợi dây liên tục nối tiếp con người trong
vòng sinh tử luân hồi:
1) Vô minh; 2) Hành; 3)Thức; 4) Danh sắc; 5) Lục nhập; 6) Xúc; 7) Thụ; 8) Ái; 9) Thủ; 10) Hữu; 11) Sinh; 12) Lão tử
Phật giáo cho rằng 12 nhân duyên có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, cáinày là quả của cái trước nhưng lại là nhân, là duyên cho cái sau
- Thuyết Ngũ uẩn : Ngũ uẩn là năm yếu tố hay năm nhóm kết hợp lại tạo thành
con người; hay nói cách khác, con người là một hợp thể của năm yếu tố, gồm
có: Sắc uẩn , Thọ uẩn,Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn
+ Sắc uẩn: Là yếu tố vật chất bao gồm vật lý - sinh lý, có bốn yếu tố vật chất
căn bản là Địa (chất rắn), Thủy (chất lỏng), Hỏa (nhiệt độ), Phong (chất khí).Các yếu tố do bốn đại tạo ra thuộc về sinh lý như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; cácđối tượng của giác quan như: hình sắc, âm thanh, mùi vị, vật xúc chạm Bảnchất của sắc uẩn là vô thường, vô ngã và chuyển biến bất tận theo lý duyênsinh, vậy bản chất của chúng là không Sự chấp thủ, tham ái thân thể (sắc uẩn),hoặc bất cứ một đối tượng vật lý, sinh lý nào cũng đều tiềm ẩn nguy cơ đaukhổ
+ Thọ uẩn: Thọ là cảm giác, do sự tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng mà sinh ra thọ Đức Phật dạy có sáu thọ: mắt tiếp xúc với hình sắc mà sinh thọ, tai
với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với vật cứng-mềm, ý với đối tượng
Trang 17tâm ý Cảm giác theo Phật giáo không dừng lại ở mức độ tiếp xúc đơn thuần mà
là cảm xúc, một biểu hiện sâu hơn của cảm giác; cảm giác có ba loại: một làcảm giác khổ, hai là cảm giác vui sướng, ba là cảm giác không vui không khổ
+ Tưởng uẩn: Là nhóm tri giác có khả năng nhận biết đối tượng là cái gì,
đây là khả năng kinh nghiệm của sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan
Sự nhận biết đối tượng có hai loại: một là nhận biết đối tượng bên ngoài nhưmắt thấy sắc nhận biết đó là đóa hoa hồng, tai nghe âm thanh nhận ra bản nhạctiền chiến ; hai là khả năng nhận biết đối tượng bên trong, tức là các đối tượngtâm lý như những khái niệm, hồi tưởng ký ức Như vậy, tưởng uẩn là cái thấy,cái biết của mình về con người, hoặc sự việc hay sự kiện
+ Hành uẩn: Hành là từ gọi cho mọi hiện tượng sinh diệt như trong câu kệ
‘’Chư hành vô thường ‘’ Hành uẩn ở đây có nghĩa là các hiện tượng tâm lýmang tính chất tạo tác nghiệp, có năng lực đưa đến quả báo của nghiệp, nóicách khác là tạo động lực tái sinh Hành uẩn tồn tại nhờ các điều kiện do duyênsinh nên chúng vô thường, trống rỗng và biến động bất tận
Thức uẩn: Thức là có khả năng rõ biết, phản ánh thế giới hiện thực Thức
có sáu loại: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức Thức lànền tảng của thọ
- Thuyết vô thường, vô ngã:
+ Vô thường: nghĩa là không thường, không mãi mãi ở yên trong một trạng
thái nhất định;luôn luôn thay hình đổi dạng;đi từ trạng thái hình thành đếnbiến đi rồi tan rã Đạo Phật gọi những giai đoạn thay đổi của một vật là: thành,trụ, hoại, không( hay sinh, trụ, dị, diệt).Mọi sự vật,hiện tượng luôn luôn biếnđổi theo quy luật vô thường
+ Vô ngã là một yếu tố nằm trong Tam pháp ấn, một giáo lý quan trọng của
Đạo Phật Tam pháp ấn gồm có: Vô thường, Khổ, Vô ngã
Trang 18+ Không ai có thể thoát khỏi vô thường cho đến khi đạt được giải thoát hay
Niết bàn dựa trên Bát chánh đạo, thực hành những điều đúng và nuôi dưỡng
những tính tốt Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời.
“Duy Ngã Độc Tôn” là một trong bốn câu được trích trong kinh A hàmnguyên văn chữ Hán:
Thiên thượng thiên hạ,
Câu 11: Sự du nhập của PG vào VN và đặc điểm của PGVN
* Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam: (Theo điểm của Trần Ngọc Thêm) Thời kì hình thành:
- Theo đường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến với Việt Nam này từ đầu Côngnguyên Luy Lâu, trị sở quận Giao chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm PhậtGiáo quan trọng Từ đây, có những ngưởi như Khương Tăng Hội( gốc Trung
Trang 19Á), đi sâu vào Trung Hoa truyền đạo Sau này, khi trả lời vua Tùy Văn Đế vềtình hình Phật giáo Giao Châu, nhà sư Đàm Thiên đã nói rằng: “ Xứ Giao Châu
có đường thông sang Thiên Trúc Phật giáo truyền vào Trung Hoa chưa phổ cậpđến giang đôngmà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu hơn 20 bao tháp, độ được hơn 500
vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi Thế là xứ ấy theo Đạo Phật nước ta”
- Cũng do Phật giáo đã được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từđầu công nguyên nên từ Buddha tiếng Phạn đã được phiên âm trực tiếp sangtiếng Việt thành Bụt Sau này, sang thế kỉ IV-V, lại có thêm luồng Phật giáoĐại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào Từ đây từ Phật dần dần thay thế cho
từ Bụt Phật ở đây có nghĩa là đấng giác ngộ
- Thời kì phát triển:
+ Do thâm nhập một cách hòa bình, Phật giáo đã hòa mình vào các tín ngưỡng
bản địa ( Phật Mẫu Man Nương là một nhân vật liên quan đến sự tích Phật
giáo Việt Nam khi đạo Phật mới truyền sang đất Việt Truyền thuyết kể rằngthuở xưa bà là một người con gái rất sùng đạo, năm 10 tuổi đến theo học đạo
ở chùa Linh Quang, nay là huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tại chùa có thiền
sư Khâu Đà La là một vị cao tăng đầu tiên sang Việt Nam truyền đạo tại đây.Một hôm, thiền sư đi vắng và dặn Man Nương trông coi chùa cẩn thận Tối đếnMan Nương ngủ ở thềm, Khâu Đà La về và bước qua người, sau đó bà thụ thai.Cái thai đó là kết quả của sự giao thoa giữa Phật giáo và Tín ngưỡng bản địa)
+ Thời Lý Trần Phật giáo phát triển cực thỉnh, nhấn mạnh sự từ bi , đạo đức ,
bộ máy chính quyền cần có Phật giáo để phục vụ cho việc củng cố đất nước
+ Sang đời nhà Lê, nhà nước lấy Nho giáo làm Quốc giáo, Phật giáo dần dần
suy thoái
Trang 20+Đầu thế kỉ XVIII, vua Quang Trung có quan tâm đến chấn Hưng đạo Phật,
xuống chiếu chỉnh đốn việc cất chùa
+ Đầu thế kỉ XX, đứng trước trào lưu Âu hóa và những biến động do sự giao
lưu với Phương Tây mang lại, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên + Cho đến nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam
* Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam:
- Dung hợp các tín ngưỡng truyền thống: Phật giáo Việt Nam dung hợp các
tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam: thờ cúng Tổ tiên, thờ Thần, thờ
Mẫu nhưng Phật giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo để làm nên Đạo Phật Việt Nam
- Là thành tố trong Tam giáo đồng nguyên: Phật giáo Việt Nam dung hợp
cùng tinh thần Nho giáo, Lão giáo để trở thành "Tam giáo đồng nguyên" nhằm
hộ trì quốc gia, dân tộc Đó là sự kết hợp rất trí tuệ để hài hoà và cùng pháttriển
- Gắn bó với dân tộc: Phật giáo du nhập vào Việt Nam trở thành một tôn giáo
gắn bó giữa đạo với đời, thể hiện tinh thần nhập thế Phật giáo Việt Nam có
truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, đồng hành trong những giai đoạnthăng trầm của đất nước, góp phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổquốc Trong Phật giáo Việt Nam đã ghi nhận hai trường hợp đặc biệt: Lý CôngUẩn – một vị sư xả pháp, xuất tu để ra đời làm bậc quân vương khai mở triềuđại nhà Lý, và Trần Nhân Tông – một vị hoàng đế từ bỏ ngai vàng để vào núi
ẩn tu trở thành một vị Tổ sư của Phật giáo đời Trần Trong thời kỳ hội nhập,Phật giáo luôn chia sẻ những khó khăn, hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh khốnkhó, gặp thiên tai, địch họa để chung tay cùng đất nước góp phần ổn định xãhội, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội
Trang 21- Đoàn kết nội bộ: Phật giáo Việt Nam có tinh thần đoàn kết, gắn bó nội
bộ Tuy có nhiều tông phái Phật giáo cùng tồn tại và phát triển, nhưng tất cả đều
sinh hoạt trong một tổ chức chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Trong Hiến
chương của mình Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định “Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước” Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn đoàn kết với các tầng
lớp trong xã hội và đoàn kết với các tôn giáo bạn để chung tay xây dựng và pháttriển đất nước Đây là điều chưa có một tổ chức Phật giáo nước ngoài nào cóthể làm được
- Tính sơn môn, pháp phái: Du nhập vào Việt Nam, Phật giáo hình thành và
phát triển theo truyền thống của cư dân, phát triển như dòng họ thế tục Việcquản lý, kỷ luật sư sãi đều do Sơn môn, Pháp phái giải quyết Các hoạt động tôngiáo cụ thể như: tiếp độ tăng ni, truyền thụ giới luật, trì giảng kinh điển, cácnghi thức tôn giáo… đều mang tính Sơn môn, Hệ phái, và do người đứng đầuSơn môn, Hệ phái chỉ đạo thực hiện
- Là thành tố tạo nên tính đặc trưng văn hóa: Văn hoá, đạo đức Phật giáo
như quan điểm “ở hiền gặp lành” “báo đáp tứ trọng ân” “người Phật tử hiếuhạnh” “hành thiện tránh ác”, “từ bi cứu khổ”, “tôn trọng con người”, “bình đẳngtâm, không phân biệt đẳng cấp, sang hèn”, “yêu chuộng hòa bình”… đã thấmđậm trong tâm tưởng mỗi con người Việt Nam qua các thế hệ Nó đã góp phầntạo dựng nên nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Câu 12: Lễ hội Phật giáo
Câu 13: Giáo lý, lễ nghi cơ bản của Công giáo
Trang 22- Khi nói đến Kitô bao gồm 4 nhánh : Công giáo, Chính thống giáo, Anh giáo, Tin Lành Khi dùng từ Công giáo thì được hiểu là tôn giáo thờ Giêsu Kitô nhưng có tòa thánh Vatican
- Giáo lý đạo Công giáo:
Giáo lý của đạo Công giáo được thể hiện trong hai bộ kinh thánh: Cựu ước và Tân ước, gồm tất cả 73 cuốn Giáo lý Công giáo quan niệm rằng Thiên chúa đã
sáng tạo ra trời đất, muôn loài trong và mọi sự xuất hiện, tồn tại và biến đổi của
vũ trụ đều do Thiên chúa tiền định tuyệt đối Theo giáo lý Công giáo con người
do Thiên chúa bằng phép màu nhiệm đã tạo nên theo hình ảnh của mình để thờphụng mình Thiên chúa có 3 ngôi: Cha, Con và các Thánh thần, khác nhau vềthời gian, khác nahu về vai trò,nhưng đều có một tiền định đó là Thiên Chúa.Trong giáo lý đạo Công giáo cũng cho rằng, đến một ngày nào đó thế giới sẽđến ngày tận thế, bị huỷ diệt, những người chết sẽ sống lại, Giesu lại giáng thế
để phán xét lần cuối cùng Những người không có tội, siêng năng thờ phụngchúa sẽ được lên thiên đàng, kẻ có tội phải xuống hoả ngục
- Giáo luật, lễ nghi
Đạo Công giáo có luật lệ và lễ nghi rất chặt chẽ Các giáo dân phải giữ được 10 điều răn của Chúa trời, 6 điều răn của giáo hội và 12 đức tin của tín hữu
Những điều răn này đều hướng con người đến cái thiện, tránh làm việc ác
+ 10 điều răn Chúa trời :
Kính thờ thiên chúa trên hết mọi sự: Đây là điều răn đầu tiên và điều răn
tiên quyết
Không lấy danh Thiên Chúa làm điều phàm tục: Bởi danh Thiên chúa là
thiêng liêng nên chỉ được phép ca ngợi, tôn vinh mà thôi Không được lấy danhThiên Chúa để buôn bán, mặc cả,…
Trang 23Dành ngày chủ nhật để thờ Thiên Chúa : Vì thiên chúa tạo ra con người
và vì ngày chủ nhật là ngày nghỉ ngơi, là ngày Chúa Nhật, ngày của Thiên chúa.Điều quan trọng hơn đó là nhằm tái tạo sức lao động
Thảo kính với Cha mẹ
Không được giết người : “ Ngươi không được giết kẻ vô tội và người công
chính” Tạo ra sự xung đột với pháp luật ở nhiều nước “ Người” công giáo cónghĩa là sinh linh hình thành trong bụng của người phụ nữ Bắt đầu có sự sốngtrong bụng người phụ nữ
Không được dâm dục(ngoại tình)
Không gian tham lấy của người khác
Không làm chứng dối
Không được ham muốn vợ chồng người
Không được ham muốn của cải trái lẽ
+ 6 điều răn của giáo hội :
Xem lễ ngày chủ nhật
Kiêng việc xác ngày chủ nhật
Xưng tội ít nhất mỗi năm một lần
Chịu lễ Mùa Phục sinh
Giữ chay những ngày quy định
+ 12 điều đức tin :
Tin kính Đức Chúa trời
Trang 24Tin vào Đức Giêsu Kitô
Đức Giêsu Kitô được sinh ra bởi đức mẹ Maria
Đức Giêsu Kitô đã chịu nạn đời Phongxio Philato mà bị đóng đinh trên câythánh giá
Đức Giêsu Kitô sống lại sau 3 ngày
Đức Giêsu Kitô đã lên trời ngự bên Đức Chúa
Tin có ngày phán xét cuối cùng
Tin chúa thánh thần
Tin là có Hội thánh, Hội thánh là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền
Tin vào phép tha tội
Tin vào sự phục sinh của Đức Kitô và của loài người
Tin có sự sống đời đời : Thiên Đàng, Luyện Ngục , Hỏa Ngục
+ Đạo Công giáo có rất nhiều ngày lễ và nghi thức giáo dân phải thực hiện.
Lễ nghi công giáo có 7 phép bí tích cơ bản
Bí tích thánh tẩy (rửa tội): dùng nước thánh để rửa sạch tội tổ tông truyền
để trở thành tín hữu Kitô Bí tích quan trọng nhất Không có nó không thựchiện được các bí tích sau
Bí tích thánh thể (lễ Misa): đây là bí tích quan trọng nhất trong các bí tích.
Linh mục ban bánh, rượu đã được thánh hoá
Bí tích giải tội: dùng cho những người cần hối lỗi và quyết tâm sửa chữa lỗi
lầm
Trang 25Bí tích sức dầu thánh.
Bí tích truyền chức thánh.
Bí tích thêm sức.
Bí tích hôn phối.
Đạo Công giáo có rất nhiều những ngày lễ lớn như: lễ buộc, lễ Giáng sinh, lễ
Phục sinh, lễ Chúa Giesu lên trời, lễ chúa thánh thần hiện xuống, lễ Đức bàMaria hồn và xác lên trời, lễ các thánh, lễ ngày chủ nhật Ngoài ra còn rất nhiềungày lễ, tháng lễ, mùa lễ, các tín hữu dự lễ sẽ được nhiều ơn phước
- Hệ thống tổ chức giáo hội Công giáo
Giáo hội Công giáo là một hệ thống tổ chức hữu hình chặt chẽ từ cá thể đếntập thể, từ tập thể nhỏ đến tập thể lớn, từ địa phương đến trung ương, từ quốcgia đến toàn cầu
+ Đứng đầu giáo hội Công giáo là giáo triều Vatican do Đức thánh cha (tức
Giáo hoàng) đứng đầu là người kế vị thánh Phêro, thay mặt chúa Giêsu cai quảngiáo hội Công giáo toàn cầu
+ Bên dưới giáo miền là các giáo tỉnh Các Tổng Giám mục phụ trách các
giáo tỉnh, giáo tỉnh gồm nhiều giáo phận
+ Giáo phận :Giám mục đứng đầu, phụ trách giáo phận, Giám mục có quyền
quyết định mọi việc về tôn giáo ở giáo phận mình và có quyền liên hệ trực tiếpvới Giáo hoàng
+ Dưới giáo phận là tổ chức Giáo hội cơ sở đó là các giáo hạt, giáo xứ, giáo họ.
Trang 26+ Nhà thờ của Công giáo có : Thờ Giêsu Kitô, tượng Đức Mẹ Maria, tranh
tông đồ, hang đá, máng cỏ, tháp chuông Cầu kì , đẹp , nhiều chi tiết
Câu 14: Sự du nhập của CG vào VN (theo ban tôn giáo chính phủ)
Đạo Công giáo thời kỳ từ năm 1533 – 1884
- Đạo Công giáo truyền vào Việt Nam năm 1533, do giáo sĩ Tây dương tên làIn-nê-khu đến làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chấn và làng Trà
Lũ, huyện Giao Thuỷ (tỉnh Nam Định ngày nay) Đạo Công giáo vào ViệtNam trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị lâm vào giai đoạn khủnghoảng, nội chiến kéo dài giữa Nhà Trịnh – Nhà Mạc, Nhà Trịnh – NhàNguyễn, đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong, Đàng Ngoài Về kinh tế,đời sống nhân dân khó khăn, quan hệ giữa các vua, chúa Việt Nam và cácnước phương Tây như: Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan chủ yếu là trao đổihương liệu quý và mua vũ khí phục vụ cuộc chiến tranh trong nước
- Trong giai đoạn này, Giáo hội Công giáo hoàn vũ đang phát động công cuộctruyền giáo vào châu Á và không ngừng gửi các thừa sai theo đoàn tàu buônđến các nước ở khu vực châu Á, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam.Sau giáo sĩ In-nê-khu là các giáo sĩ thuộc dòng Đa Minh như: linh mụcGaspar Da Santa Cruz vào truyền giáo tại Hà Tiên năm 1550; linh mục Luis
de Fonseca và linh mục Grégeire de la Motte tại Quảng Nam năm 1588 vàthời gian này công cuộc truyền giáo mới ở mức thử nghiệm, thăm dò
- Việc truyền giáo vào Việt Nam thực sự thu được kết quả từ năm 1615 với cácthừa sai dòng Tên như: Francesco Buzomi đến Cửa Hàn, Quảng Nam;Alexandre de Rhodes đến Cửa Bạng, Thánh Hoá (1627) Tại những nơi đến,các thừa sai đã lập Hội Thầy giảng để trợ giúp việc truyền giáo (thành viên củaHội là người Việt), phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh để soạn thảo kinhdạy giáo dân Việc truyền giáo giai đoạn này được thuận lợi hơn khi: Bộ