ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG THỊ HẢI YẾN Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG BỆNH CHO ĐÀN GÀ NUÔI TẠI TRUNG TÂM KHẢO NGHIỆM VÀ CHUYỂN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ HẢI YẾN
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG BỆNH CHO ĐÀN GÀ NUÔI TẠI TRUNG TÂM KHẢO NGHIỆM VÀ CHUYỂN GIAO GIỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Huê Viên
Thái Nguyên - Năm 2019
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại Trung tâm khảo nghiệm
và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi của trường em đã nhận được sự giúp
đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tận tình giảng dạy, dìu dắt em hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho em có được lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này
Nhân dịp này, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo em trong toàn khóa học
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng
dẫn PGS TS Trần Huê Viên, thầy giáo TS Trần Văn Thăng đã quan tâm, giúp
đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, dành những tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho em trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này
Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành và trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 6 năm 2019
Sinh viên
Nông Thị Hải Yến
Trang 3ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn gà của Trung tâm từ năm 2017 - 2019 .26
Bảng 4.2 Chế độ chiếu sáng cho đàn gà .28
Bảng 4.3 Lịch sát trùng tại Trung tâm khảo nghiệm .29
Bảng 4.4 Số lượng gà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng .30
tại Trung tâm khảo nghiệm qua 6 tháng thực tập .30
Bảng 4.5 Kết quả vệ sinh, sát trùng .31
Bảng 4.6 Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn gà Lương Phượng .32
Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh cho gà Lương Phượng sinh sản bằng vắc xin .33
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn gà Lương Phượng sinh sản .33
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà Lương Phượng sinh sản 34
Trang 4iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh ở gà Lương Phượng sinh sản nuôi
tại Trung tâm khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 333
Trang 5iv
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
NST: Nhiễm sắc thể Nxb:
TT:
Nhà xuất bản Thể trọng
Trang 6v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 4
2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 5
2.2 Cơ sở khoa học 6
2.2.1 Nguồn gốc của gia cầm 6
2.2.2 Đặc điểm chung của gia cầm 7
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm 9
2.2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ 11
2.2.5 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 12
2.2.6 Những hiểu biết về một số bệnh gặp tại cơ sở 15
2.2.7 Giới thiệu về giống gà thí nghiệm 20
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
Trang 7vi
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung tiến hành 24
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 24
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.4.2 Phương pháp thực hiện 25
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Tình hình chăn nuôi gà tại Trung tâm khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ 2017 - 2019 26
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà Lương Phượng sinh sản 26
4.3 Kết quả công tác phòng bệnh cho đàn gà nuôi tại Trung tâm khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 30
4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 30
4.3.2 Kết quả thực hiện quy trình tiêm phòng cho đàn gà tại Trung tâm khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên 31
4.4 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn gà Lương Phượng sinh sản nuôi
tại Trung tâm 33
4.5 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà Lương Phượng sinh sản nuôi tại
Trung tâm 34
4.6 Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở 35
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận: 37
5.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 81
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi có xu hướng phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm đang giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm có giá trị như: Thịt, trứng, cho nhu cầu của xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày càng cao, nhu cầu thực phẩm đòi hỏi lớn hơn, ngon hơn Do đó đã thúc đẩy chăn nuôi nói chung
và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng phát triển đạt năng suất cao, sản lượng lớn, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu dùng Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng hướng thịt, hướng trứng có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, bước đầu đạt kết quả tốt
Theo chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệt ngày 16/01/2008, chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta trong nhiều năm tới Hiện nay, bên cạnh những giống gà hướng thịt, các giống gà hướng trứng cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển Một trong những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Lương Phượng
Chăn nuôi gà hướng trứng thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung
ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển khá nhanh Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên dụng, chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý, phù hợp mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của giống
Trang 92
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, em tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh cho đàn gà nuôi tại Trung tâm khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Xác định và thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà Lương Phương sinh sản tại cơ sở
- Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà Lương Phượng sinh sản
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn gà Lương Phượng sinh sản
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị bổ sung thêm những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn gà sinh sản Lương Phượng nuôi ở hệ thống chuồng hở
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi
từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân
Trang 103
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trung tâm Khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Cách trung tâm thành phố khoảng 6 km về phía Tây Ranh giới của trung tâm được xác định như sau:
- Phía Đông giáp khu vườn cây ăn quả của khoa công nghệ sinh học
- Phía Tây giáp trại lợn của khoa chăn nuôi thú y
- Phía Nam giáp vườn hoa tường vi garden của khoa công nghệ sinh học
- Phía Bắc giáp đường đi dân sinh
2.1.1.2 Khí hậu
Trung tâm khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, vì vậy khí hậu của Trung tâm mang tính chất đặc trưng của tỉnh Thái Nguyên đó là khí hậu nhiệt đới với hai mùa rõ rệt
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 - 10, nhiệt độ trung bình dao động từ 25 -
300C, ẩm độ trung bình từ 80 - 85%, lượng mưa trung bình là 155mm/ tháng tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8 Với khí hậu như vậy trong chăn nuôi cần chú ý tới công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi
Mùa khô kéo dài từ cuối tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong các tháng này khí hậu lạnh và khô, nhiệt độ dao động từ 13 - 260C, độ ẩm từ 75 - 85%
Về mùa Đông còn có gió mùa Đông Bắc gây rét và có sương muối ảnh hưởng xấu đến cây trồng và vật nuôi
Trang 11và rèn nghề của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Các khu vực trong khu chăn nuôi, đường đi đều được đổ bê tông và có hố sát trùng để diệt mầm bệnh Mọi công nhân trong trại và khách tới thăm đều phải qua hệ thống sát trùng, thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng trước khi và chuồng
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
2.1.2.1 Thuận lợi
- Trung tâm khảo nghiệm và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là đơn vị trực thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng nên có những điều kiện
tự nhiên thuận lợi cho phát triển chăn nuôi
Trang 125
- Trung tâm khảo nghiệm luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Ban Giám hiệu Nhà trường, của lãnh đạo Khoa Chăn nuôi Thú y, của các thầy
cô giáo có nhiều kinh nghiệm cũng như cán bộ quản lý trại
- Trung tâm khảo nghiệm có vị trí gần các trung tâm khoa học kỹ thuật và trục đường giao thông là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tiếp nhận và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
2.1.2.2 Khó khăn
- Do Trung tâm khảo nghiệm mới được thành lập và nâng cấp nên không tránh khỏi những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều
- Mặc dù Trung tâm khảo nghiệm được xây dựng gần khu dân cư, đường giao thông thuận lợi cho lưu thông vận chuyển hàng hóa nhưng cũng chính vì vậy
mà Trung tâm khảo nghiệm không có vành đai, vùng đệm nên công tác phòng bệnh còn gặp nhiều khó khăn, dịch bệnh luôn đe dọa ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất của Trung tâm
- Do đất đai bạc màu, nghèo dinh dưỡng và khí hậu có một số tháng trong năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, khả năng sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và cây trồng bị hạn chế
2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.3.2 Kết quả sản xuất
Năm 2017: 300 gà Ri lai
Trang 136
Năm 2018: 204 gà Tiên Viên, 500 gà Dominant, 500 gà Lương Phượng
và 35 gà trống Mía Giống gà Dominant cho trứng thương phẩm, giống gà mái Lượng Phượng và gà trống Mía cho ra trứng cung cấp cho lò ấp
Năm 2019: 350 gà Dominat, 100 gà Lương Phượng cho trứng thương phẩm và 35 gà trống giống Mía
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Nguồn gốc của gia cầm
Gia cầm nói chung và gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã Qua quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các giống gia cầm ngày nay
Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng được thuần hóa đầu tiên
Gà Banquiva thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng;
ấp 20 - 21 ngày trứng nở Khối lượng gà trưởng thành: gà mái khoảng 0,7kg;
gà trống khoảng 1,0 - 1,1kg Gà Banquiva có lông màu sặc sỡ Gà trống có lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu, lông cánh ánh đen, lông bụng pha đen Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng đến hoa mơ Mỏ, chân màu vàng đậm, vàng nhạt, đen Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê Hồng Mận, 2007 [9])
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia cầm chưa thật đầy đủ Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà đầu tiên
ở Đông Nam Á Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau
Trang 147
Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời Phổ biến là giống gà Ri,
gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng Nguyên cách đây trên dưới 3500 năm Trải qua quá trình phát triển nông nghiệp, tùy theo sở thích thị hiếu, điều kiện vùng sinh thái đất đai, khí hậu,… Những giống gà có đặc điểm, tính năng khác nhau đã được tạo nên (Lê Hồng Mận, 2007 [9])
Về phân loại gà, theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [12], vị trí sắp xếp của
gà trong giới động vật học như sau:
Giới (Kingdom): Animan
Loài (Species): Gallus Gallus
2.2.2 Đặc điểm chung của gia cầm
- Ngoại hình: Là một tính trạng chất lượng của gia cầm Nó đặc trưng cho
giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi
+ Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm
di truyền của giống Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ Trong quá trình phát triển, lông tơ sẽ dần được thay thế bằng bộ lông cố định Tốc độ mọc lông có liên quan chặt chẽ với cường độ sinh trưởng Theo Brandsch và Bichel (1978) [2], những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh
Màu sắc lông da là mã hiệu của giống, là một tín hiệu để nhận dạng con giống, là một chỉ tiêu cho chọn lọc Thông thường, màu sắc đồng nhất là giống thuần Màu sắc lông da do một số ít gen kiểm soát, có thể sử dụng để phân tích
di truyền, dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc (Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [6]) Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau Sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogene)
Trang 158
trong tế bào lông Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (larotinoit) thì lông
có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng
+ Đầu: Cấu tạo xương đầu có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu
của gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra sự kết luận về sự phát triển của mô mỡ và mô liên kết
+ Mỏ: Là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum)
Mỏ phải ngắn và chắc chắn Gà có mỏ dài và mảnh có khả năng sản xuất không cao Màu sắc của mỏ có nhiều loại như: vàng, đỏ, đen, hồng Màu của mỏ thường phù hợp với màu của chân Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng
Ở gà mái, màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng
+ Chân: Gia cầm có 4 ngón, rất ít giống có 5 ngón (Trần Kiên và Trần
Hồng Việt, 1998 [5]) Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da Chân thường có vuốt và cựa Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài (Trần Thị Nguyệt Thu, 1999 [14]) Gà có chân cao thường cho năng suất thịt thấp và chậm phát dục
+ Mào và tích: Là dẫn xuất của da, là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của
gà Nhờ vậy có thể phân biệt gà trống và gà mái Mào gà rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc; có thể đặc trưng cho từng giống gà Theo Phan Cự Nhân (1971) [10], ở gà trống sự phát triển của mào, tích phản ánh sự thành thục tính dục sớm hay muộn; ở gà mái, mào và tích phát triển không rõ là dấu hiệu xấu cho khả năng sinh sản của gà
- Hình dáng, kích thước các chiều đo cơ thể:
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại hình là: hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng Gà hướng thịt thường có hình dạng cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác Theo tài liệu của Chambers (1990) [17], thì kích thước các chiều đo có tương quan tới sức sản
Trang 169
xuất của gà Broiler
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm
Sức sản xuất trứng của gia cầm là đặc điểm phức tạp và biến động Nó chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài như: giống, dòng, sự phát triển, tuổi, trọng lượng cơ thể, trạng thái sức khỏe, sự thay lông, bản tính ấp bóng, tuổi thành thục, cường độ và sức bền đẻ trứng, chu kỳ và nhịp
độ đẻ Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền, chọn lọc, thức ăn, mùa vụ,…
- Giống, dòng: Ảnh hưởng trực tiếp tới sức sản xuất của gia cầm Các
giống, dòng gia cầm khác nhau thì sản lượng trứng cũng khác nhau Nếu dòng nào được chọn lựa tốt thì khả năng sản xuất trứng sẽ cao hơn Giống, dòng gia cầm là yếu tố quyết định đến khả năng sản xuất trứng Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15 - 30%
Sự phát triển của cơ thể cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất trứng Các
cá thể thành thục sớm hay muộn hơn bình thường đều cho sản lượng trứng thấp
- Tuổi gia cầm: Có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng, sản lượng trứng
giảm dần theo tuổi Ở gà, sản lượng trứng trung bình năm thứ hai giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất Còn ở vịt, sản lượng trứng trung bình năm thứ hai cao hơn năm thứ nhất 9 - 15%
- Tuổi thành thục: Liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Nó là đặc
điểm di truyền cá thể Sản lượng trứng 3 - 4 tháng đầu tiên tương quan thuận với sản lượng trứng cả năm
- Mùa vụ: Ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt Ở nước ta, sức đẻ trứng ở
mùa Hè giảm xuống nhiều so với mùa Xuân, đến mùa Thu lại tăng lên
- Nhiệt độ môi trường xung quanh: Liên quan mật thiết với sản lượng
trứng Nhiệt độ cao hoặc thấp đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu thụ thức ăn Khi được nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20oC nhu cầu
về năng lượng là thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, mức tiêu thụ thức ăn này sử
Trang 1710
dụng cho việc sưởi ấm cơ thể, do vậy tiêu thụ thức ăn và tiêu tốn nhiều cho quá trình hô hấp, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sản lượng trứng sẽ giảm
- Ánh sáng: Ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm Nó được xác
định qua thời gian và cường độ chiếu sáng Thời gian chiếu sáng yêu cầu của
gà đẻ là 12 - 16 giờ/ ngày Có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên và nhân tạo để đảm bảo thời gian và cường độ chiếu sáng 3 - 3,5 w/ m2 Theo Letner và Taylor (1943) [22], thì thời gian gà đẻ trứng là 7 - 17 giờ nhưng đa số đẻ vào buổi sáng Cụ thể, số gà đẻ lúc 7 - 9 giờ đạt 17,7%; độ đẻ trứng của gà cao nhất vào lúc 8 - 12 giờ, chiếm 60 - 70% số gà đẻ trứng trong ngày
- Cường độ đẻ trứng: Liên quan mật thiết với sản lượng trứng Cường độ
đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại
- Chu kỳ đẻ trứng: Được tính từ khi gà đẻ quả trứng đầu tiên đến khi
ngừng đẻ và thay lông Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm non bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau Ở gà, chu kỳ đẻ trứng thường là 1 năm
Nó có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng
- Thay lông: Gia cầm nghỉ đẻ và thay lông sau mỗi chu kỳ đẻ trứng Ở
điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá khả năng đẻ của chúng Những con thay lông sớm và kéo dài (thường kéo dài tới 4 tháng) thường đẻ kém Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng Đặc biệt là đàn gà cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ
4 - 5 tuần và đẻ lại ngay khi chưa hình thành bộ lông mới, có con đẻ ngay trong thời gian thay lông Ở gà, khi thay lông cánh, gà thường ngừng đẻ nhưng nó vẫn có khả năng đẻ khi thay lông ở các bộ phận khác Những cá thể thay lông cánh chính nhanh có khả năng đẻ trứng cao
Trang 1811
- Tính ấp bóng: Con người đã sử dụng nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật
để hạn chế bản năng ấp bóng của gia cầm nhưng vẫn chưa xóa được bản tính tự nhiên này Cá thể có bản năng ấp bóng kéo dài thì sản lượng trứng sẽ giảm
2.2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ
Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ được xác định trên nhu cầu duy trì, nhu cầu sinh trưởng đối với gà giai đoạn đầu đẻ, nhu cầu sản xuất trứng
- Nhu cầu năng lượng: Gà đẻ sử dụng năng lượng của thức ăn vào việc
duy trì cơ thể, tạo trứng, sinh trưởng ở thời kỳ đầu và tích lũy mỡ Sản lượng trứng càng cao thì nhu cầu năng lượng càng lớn Năng lượng trong khẩu phần
ăn quá cao thường gây các rối loạn trao đổi năng lượng, gan nhiễm mỡ, giảm năng suất trứng 30 - 40%
- Nhu cầu protein: Gà đẻ có nhu cầu protein và một số axit amin khá cao
Gà sử dụng protein để duy trì cơ thể, thay cũ đổi mới các tế bào và tạo protit cho trứng Protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất đối với cơ thể Tất cả những biểu hiện của sự sống đều gắn liền với protein mà không có một loại vật chất nào thay thế được Do cơ thể động vật không tạo ra protein từ gluxit và lipit nên phải lấy đều đặn từ thức ăn với số lượng đầy đủ theo tỷ lệ hợp lý Để duy trì sự sống, cứ 1kg thể trọng cần 3g protein/ ngày và tạo 100g trứng cần 28g protein vì trong 100g trứng có 11,2g protein, mà hiệu suất sử dụng protein trong thức ăn để tạo trứng là khoảng 40% Nhu cầu protein cũng thay đổi theo tuổi và sức đề kháng của gia cầm Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [15], thì axit amin là thành phần chủ yếu của cơ thể, giữ một vai trò quan trọng trong chăn nuôi
- Nhu cầu khoáng: Ở gà mái đẻ, phần lớn canxi trong thức ăn được sử
dụng để tạo thành vỏ trứng Vì thế, nếu trong thức ăn thiếu canxi thì gà có thể ngừng đẻ trứng hoàn toàn Cứ 1 quả trứng cần 2g canxi nên yêu cầu hàm lượng khoáng trong khẩu phần ăn gà đẻ là 3,5% Gà thiếu canxi sẽ đẻ trứng vỏ mỏng hay trứng không vỏ Ngoài ra, gà đẻ còn có nhu cầu về các nguyên tố khoáng
Trang 1912
đa vi lượng như: P, Mn, Zn, Cu, Co, I,…các nguyên tố này yêu cầu với số lượng
ít nhưng cũng tham gia cấu tạo vỏ, làm bền vững trứng, tăng tỷ lệ có phôi và tỷ
lệ ấp nở
- Nhu cầu nước: Nước trong cơ thể vừa là dung môi vừa là phương tiện
vận chuyển các chất dinh dưỡng Cơ thể gà mái có tới 60% là nước Trong trứng, hàm lượng nước là 66% Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [8], thì gà tiêu thụ lượng nước gấp 2 - 3 lần so với lượng thức ăn hàng ngày
- Nhu cầu vitamin: Vitamin tham gia hầu hết các phản ứng sinh hóa học
trong cơ thể Gà đẻ rất nhạy cảm với sự thiếu hụt vitamin Thậm chí thiếu hụt một ít cũng làm giảm sức sản xuất của gà Vitamin ảnh hưởng tới quá trình trao đổi protein, hydratcacbon, khoáng
Trong chăn nuôi, vitamin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Các vitamin A, D, E, C, K, B có vai trò quan trọng đối với gà sinh sản
2.2.5 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.5.1 Phòng bệnh
Phòng bệnh là việc sử dụng tất cả các biện pháp để bảo vệ vật nuôi không
bị mắc bệnh Các biện pháp phòng bệnh cho vật nuôi như sau:
- Vệ sinh phòng bệnh gồm:
+ Vệ sinh chuồng trại: Thường xuyên quét dọn chuồng trại sạch sẽ, thu gom phân mang ủ, giữ cho chuồng trại mát mẻ về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông Sát trùng và vệ sinh chuồng nuôi bằng cách quét nước vôi đặc 20% xung quanh chuồng nuôi hoặc dùng các loại thuốc sát trùng như formol nồng độ 2% - 5%, sút 2% hoặc chloramin 0,5% - 2%
+ Vệ sinh máng ăn, máng uống: Phải cọ rửa sạch rồi sát trùng bằng formol nồng độ 2% hoặc cloramin 2%, sau đó đem phơi nắng
+ Vệ sinh dụng cụ thú y: bơm, kim tiêm, dao, kéo, pank sát trùng bằng cồn 900 hoặc luộc trong nước sôi 30 phút
Trang 2013
+ Tăng sức đề kháng cho vật nuôi để giúp vật nuôi có sức đề kháng tốt với bệnh tật Ngăn ngừa bệnh dịch lây lan: cách ly trước khi nhập đàn, cách ly con
ốm với con khỏe, xử lý xác chết
Khi có dịch bệnh xảy ra: đốt rồi chôn sâu, sát trùng chuồng nuôi và khu vực xung quanh chuồng nuôi, tẩy trùng kỹ quần áo, giầy dép của người tiếp xúc với vật ốm, vật chết
- Tiêm phòng vắc xin
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1994) [7] cho biết: Các chế phẩm sinh học dùng để phòng bệnh truyền nhiễm được gọi là vắc xin Các vắc xin đó được chế bằng bản thân mầm bệnh gây ra bệnh mà ta muốn phòng Khi chế bằng mầm bệnh đã bị giết chết gọi là vắc xin chết và chế bằng mầm bệnh được làm yếu đi sức gây bệnh gọi là vắc xin nhược độc Trong thú y hiện nay đang sử dụng 4 loại vắc xin chính là vắc xin chết và vắc xin sống, vắc xin hỗn hợp và vắc xin giải độc tố
* Một số điều cần chú y khi sử dụng vắc xin:
- Trước khi dùng vắc xin phải kiểm tra kĩ, đảm bảo các tiêu chuẩn mới được dùng
- Vắc xin là thuốc thường được dùng để phòng bệnh cho động vật khỏe, chưa mắc bệnh
- Hiệu lực của vắc xin phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của đàn gia cầm
- Thời gian tạo miễn dịch ở động vật: Sau khi sử dụng vắc xin, động vật
sẽ tạo được miễn dịch sau 2 - 3 tuần Khi dùng vắc xin lần đầu thì động vật sớm nhất sau một tuần mới có khả năng miễm dịch nhưng kháng thể hình thành chưa nhiều và giảm đi rất nhanh Để tránh nhược điểm đó, phải sử dụng vắc xin lần thứ 2 cách lần thứ nhất 3 - 4 tuần
- Chất bổ trợ của vắc xin: Một số vắc xin được cho thêm chất bổ trợ với mục đích giữ lâu kháng nguyên trong cơ thể động vật, tăng sức miễn dịch và kéo dài thời gian miễn dịch
Trang 21+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát
và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những con vật có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [4], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: Cho con vật ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho con vật ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh + Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một
số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh
Trang 2215
Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn
có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể con vật như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.6 Những hiểu biết về một số bệnh gặp tại cơ sở
2.2.6.1 Bệnh cầu trùng
* Nguyên nhân:
- Bệnh cầu trùng do loại ký sinh trùng đơn bào gây ra, có nhiều loại cầu trùng gây bệnh trên gia súc gia cầm, giống cầu trùng gây bệnh trên gà là
Trang 2316
Eimeria Có 11 loài Eimeria được phát hiện ở gà, trong đó có 5 loài gây thiệt
hại đáng kể là:
+ E acervulina ký sinh ở tá tràng hồi tràng
+ E maxima và E necatrix ký sinh ở phần giữa ruột và bao noãn hoàng + E brunetti và E tenella ký sinh ở vùng thấp hơn ở ruột non
- Cầu trùng có sức đề kháng cao với các chất sát trùng thông thường
và điều kiện ngoại cảnh Người ta thường sử dụng nhiệt độ cao để tiêu diệt cầu trùng
- Gà mắc bệnh do ăn phải kén hợp tử (Oocysts) có trong phân của gà bệnh
hoặc gà khỏi bệnh thải ra môi trường ngoài
ổ tròn xám
* Phòng bệnh:
+ Thường xuyên vệ sinh chuồng trại: Không để nền chuồng ẩm ướt + Cho gà uống thuốc phòng bệnh cầu trùng từ 7 ngày tuổi: Gà uống thuốc phòng 2 ngày/ đợt, mỗi đợt cách nhau 3 ngày, liều phòng bằng một nửa liều điều trị
Trang 24Bệnh hen gà CRD, do vi khuẩn Mycoplasma Gallisepticum (MG) gây nên
Bệnh thường gặp ở gà con, nặng nhất trong giai đoạn từ 3 tuần - 3 tháng tuổi
Gà từ 3 tháng tuổi trở lên thường mắc ở thể mang trùng
- Các biểu hiện ho hen trở nên nặng về đêm, đặc biệt khi ghép với bệnh viêm
phế quản truyền nhiễm, E Coli hoặc các bệnh khác sẽ gây tỷ lệ tử vong cao
- Gà chậm lớn, kém ăn, hay vẩy mỏ…
- Gà đẻ: Giảm tỷ lệ đẻ, trứng biến màu, trong trường hợp bệnh ghép với
E coli sẽ thấy trứng méo mó, vỏ trứng có vết máu