Mục đích và nhiệm vụ của luận văn a Mục đích Trên cơ sở phân tích lý luận phạm trù ổn định chính trị, làm rõ nhữngthành tựu, những hạn chế tiềm ẩn nguy cơ có thể gây bất ổn định trên địa
Trang 1LUẬN VĂN:
Vấn đề ổn đinh chính tri - xã hôi trên đia bàn tỉnh Thái Bình - Thực trạng và giải pháp
Trang 2mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
ổn định chính trị - xã hội là một yêu cầu tất yếu trong sự tồn tại và pháttriển của mọi xã hội Lịch sử thế giới và Việt Nam đã minh chứng rõ điều đó
Trong mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, ở mỗi giai đoạn lịch sử, khi nào giaicấp thống trị, Đảng phải cầm quyền đưa ra được những chủ trương, giải phápđúng, phù hợp quy luật và thâu phục được lòng dân, thì ở đó sẽ tạo ra được sứcmạnh để bảo vệ và xây dựng quốc gia, dân tộc hòa bình - ổn định và phát triển,
và ngược lại, sẽ gây ra sự bất ổn định Bất ổn định, chiến tranh và các cuộc xungđột sẽ đẩy lùi sự phát triển của quốc gia, dân tộc trong mỗi thời kỳ so với xu thếchung của thế giới Những bất ổn định chính trị - xã hội Liên Xô và Đông Âutrong cuối những năm 80, đầu 90 đã đẩy các nước này đến đổ vỡ, chôn vùithành quả của nhân dân trong mấy mươi năm Vì vậy, ổn định tình hình chínhtrị - xã hội là mong muốn của mọi xã hội, của nhân dân
ở Việt Nam, qua mấy ngàn năm lịch sử, ngay cả trong các xã hội phongkiến, khi nào vua sáng, tôi hiền, lòng dân hòa thuận, đất nước yên bình, ổn địnhthì xã hội phát triển, nhân dân hòa mục, đời sống ấm êm, thái bình Dân tộc ta
đã từng trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giặc nội xâm và đãthấm đau bao cảnh tương tàn, tang tóc, mất mát, hy sinh, sức người, sức của Vìvậy ngày nay, dân ta rất khát khao độc lập tự do, mong muốn mãi mãi đượcsống trong hòa hình, ổn định để xây dựng một đất nước có dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Điều đó chỉ thực hiện được trongtình hình xã hội ổn định Đó không phải chỉ là mong muốn của Đảng ta, củaNhà nước ta, mà còn của cả dân tộc ta Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởixướng, đất nước ta đã và đang thu được những thành tựu rất to lớn Đó là việcĐảng ta đã đưa ra được đường lối chính trị đúng đắn, lãnh đạo Nhà nước vànhân dân ta giữ được ổn định chính trị - xã hội để xây dựng đất nước và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nhưng trong đó cũng còn tồn tại không ítcác nhân tố tiềm ẩn những nguy cơ có thể gây bất ổn định, làm cản trở pháttriển, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của nhân dân Những nhân
Trang 3tố ấy tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong những vấn đề vĩ
mô và vi mô, ở mọi cấp độ từ trung ương xuống đến địa phương và cơ sở Điểmnóng ở Thái Bình trong những năm 1996 - 1998 và ở nhiều nơi khác, vụ bạoloạn ở Tây Nguyên vừa qua đã minh chứng điều đó
Vì vậy, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là, để đất nướcphát triển, để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, điều kiện tiên quyết làphải giữ vững được ổn định chính trị - xã hội trên phạm vi cả nước và ở mỗi địaphương
Thái Bình là một trọng điểm của các điểm nóng trong cả nước những năm 1996-1998 Trong những năm qua Thái Bình đã đẩy lùi trạng thái bất ổn định, đang từng bước đi lên Song bên cạnh những mặt tích cực trong đời sống chính trị, trong phát triển kinh tế - xã hội, vẫn còn nhiều điều bức xúc cần giải quyết, cần có những giải pháp khả thi để ngăn chặn, đẩy lùi những nhân tố có khả năng dẫn tới tái phát bất ổn định có thể xảy ra.
Trên ý nghĩa đó, tôi chọn ”Vấn đề ổn định chính trị - xã hội trên địa
bàn tỉnh Thái Bình - Thực trạng và giải pháp ” làm đề tài luận án thạc sĩ khoa
học chính trị, khóa đào tạo năm 2002-2004, mã số 60.31.20
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong các văn kiện của Đảng, những chủ trương chính sách của Nhànước trong thời kỳ đổi mới, nhiều chỗ nhấn mạnh đến vấn đề ổn định chính trị -
xã hội Đề ra những quyết sách lớn, Đảng ta đều phân tích sâu sắc tình hìnhchính trị - xã hội trên thế giới, trong nước và đánh giá thực trạng của giữ vững
ổn định chính trị - xã hội Các chủ trương, chính sách của Nhà nước đều hướngtới mục tiêu đảm bảo cho đất nước giữ vững được ổn định chính trị - xã hội đểđất nước phát triển Do vậy, đường lối chính trị của Đảng, chủ trương, chínhsách của Nhà nước đã trở thành cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu ổn định chínhtrị - xã hội
ở nước ta, đã có một số công trình, bài viết về vấn đề ổn định (bất ổnđịnh) chính trị - xã hội, nhất là từ sau khi xảy ra các điểm nóng chính trị ở nhiều
Trang 4nơi, đặc biệt ở Thái Bình, trong đó một số luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận,
cử nhân, hoặc luận văn thạc sĩ
Liên quan đến đề tài điểm nóng, mất ổn định chính trị - xã hội đã có một
số tác phẩm tiêu biểu như:
- "Tổng kết thực tiễn về xử lý điểm nóng chính trị - xã hội'' do GS Lê
Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm, GS Lưu Văn Sùng làm phó chủ nhiệm
- GS Hoàng Chí Bảo: "Bước đầu khái quát lý luận về điểm nóng, điểm nóng chính trị -xã hội”.
- Viện Khoa học Chính trị đã có tập bài giảng về "Xử lý tình huống chính trị ” giành cho hệ cử nhân và hệ cao học.
- Các bài viết của GS TS Lưu Văn Sùng, GS.TS Hoàng Chí Bảo trên
"Thông tin chính trị học" có nội dung khái quát lý luận về điểm nóng chính trị
-xã hội, liên quan đến việc mất ổn định chính trị - -xã hội ở địa bàn một số tỉnh ởnước ta
- Nguyễn Thị Mai Anh: "Điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng - Nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm”, Luận văn thạc
Các công trình khoa học về điểm nóng chính trị trên đây đã phân tích khásâu về nội dung, đặc điểm, những tác động xấu và các giải pháp khắc phục điểmnóng - một biểu hiện của bất ổn định chính trị - xã hội ở các địa phương trongnhững năm qua
- TS Nguyễn Văn Vĩnh và tập thể các nhà khoa học với đề tài khoa học
cấp bộ, 2003, về "Những nhân tố có thể dẫn đến bất ổn định chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay” Đề tài này đã đạt những kết quả khá sâu về nội dung khái
Trang 5niệm bất ổn định chính trị, những nhân tố ảnh hưởng, những yếu tố có thể dẫnđến bất ổn định chính trị - xã hội và các giải pháp khắc phục trên các lĩnh vực ởnước ta hiện nay.
- Howrd Wiauch: "Chính trị so sánh" (bản dịch tiếng Việt), Hoa kỳ 1987.
Trong tác phẩm này có một nội dung quan trọng là so sánh các nền chính trị dânchủ thông quatiêu chí về ổn định chính trị Tác giả đã đề cập đến một số nộidung cần tiếp cận về ổn định và ổn định chính trị
Tóm lại, các bài viết, các luận văn trên đã đi sâu nghiên cứu và vạch ranhững nội dung ở tầm khái quát cao về mặt lý luận về điểm nóng và bất ổn địnhchính trị - xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu lý luận toàn diện về ổn định chínhtrị - xã hội và giải pháp giữ vững ổn định chính trị - xã hội sau khi điểm nóng đãđược giải quyết trên địa bàn của một tỉnh thì chưa có đề tài nào nghiên cứu mộtcách hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a) Mục đích
Trên cơ sở phân tích lý luận phạm trù ổn định chính trị, làm rõ nhữngthành tựu, những hạn chế tiềm ẩn nguy cơ có thể gây bất ổn định trên địa bàntỉnh Thái Bình, luận văn xây dựng hệ thống phương thức, giải pháp khả thinhằm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, coi đó như là điều kiện tiên quyết đểphát triển kinh tế - xã hội, góp phần thắng lợi vào sự nghiệp đổi mới do Đảng takhởi xướng trên địa bàn của tỉnh Thái Bình và rộng ra là với cả nước
b) Nhiệm vụ
Đề tài nhằm làm rõ nội dung ổn định chính trị - xã hội với tư cách làphạm trù khoa học chính trị và vai trò của nó trong hoạt động của hệ thốngchính trị, đặc biệt là ở cơ sở Cụ thể:
- Làm sáng tỏ nội dung, cấu trúc của khái niệm ổn định chính trị - xã hội
và vai trò của nó trong đời sống xã hội
- Làm rõ thực trạng tình hình chính trị - xã hội ở Thái Bình trong nhữngnăm sau khi xảy ra điểm nóng (sau 1997 - 1998) Tìm những nguy cơ tiềm ẩngây mất ổn định
Trang 6- Đưa ra hệ thống những giải pháp nhằm giữ vững ổn định chính trị -xãhội, từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhằm ổn định tình hình chính trị - xãhội để phát triển kinh tế - xã hội nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới trên địa bàntỉnh Thái Bình.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề ổn định
chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình có đặc trưng sản xuất nông nghiệp
là chính, kinh tế kém phát triển đang vận động đi lên trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng của việc giữ vững ổn định
chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình sau khi xảy ra "điểm nóng" chínhtrị - xã hội (1997 - 1998) đến nay Từ đó nêu những giải pháp cơ bản để tiếp tụcgiữ vững ổn định chính trị - xã hội hiện nay và những năm tiế theo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việtnam trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Đề tài cũng sử dụng rộng rãi các phương pháp nghiên cứu tổng hợp- diễndịch, phương pháp phân tích, gắn lý luận với thực tiễn, đặc biệt là phương pháp
so sánh- phương pháp quan trọng của chính trị học Đề tài sử dụng những sốliệu báo cáo tổng kết, các số liệu thống kê đã được thẩm định để thực hiệnnhững nội dung của đề tài
6 Đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài tập trung làm rõ những quan điểm lý luận về ổn định chính trị - xãhội và hệ thống các giải pháp khả thi qua nghiên cứu từ thực tiễn quá trình giữvững ổn định chính trị xã hội sau điểm nóng ở một tỉnh kinh tế kém phát triểnđang trong quá trình chuyển đổi kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 77 ý nghĩa của luận văn
- Đề tài góp phần làm rõ nội dung lý luận về ổn định nói chung và về ổnđịnh chính trị - xã hội nói riêng - một vấn đề quan trọng trong khoa học chínhtrị
- Sau khi hoàn thành, có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu và giảng dạy các khoa học chính trị, nhất là môn chính trị học
Có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong đổi mới kinh tế- xã hội trên địa bàntỉnh Thái Bình
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dungluận án bao gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 8Chương 1 NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở
NƯỚC TA
1.1 Nội dung phạm trù chính trị - xã hội
Phạm trù "chính trị - xã hội " được sử dụng phổ biến trong nhiều văn kiện
chính trị Tuy nhiên chưa có mấy các nhà khoa học bàn đến nội dung khái niệmnày một cách đầy đủ Theo tôi, để tiếp cận với khái niệm "chính trị - xã hội",
cần tiếp cận nội dung các thuật ngữ chính trị và xã hội.
số nhân tố hợp lý, nhưng chưa làm rõ những nội dung căn bản của chính trị
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã có quan niệm khoa học về chính trị Nhữngngười mác-xít cho rằng phải xem xét chính trị trong quan hệ với giai cấp, với lợiích giai cấp và với nhà nước cùng thiết chế chính trị bảo đảm hiện thực hóanhững nhu cầu của các lực lượng tham gia vào đời sống chính trị
Trang 9Xét về bản chất, chính trị có nguồn gốc từ kinh tế, là sự biểu hiện tậptrung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại Đây là luận điểm mang tính duy vật vềchính trị, bởi vì chính trị không phản ánh nhu cầu kinh tế ngẫu nhiên mang tínhchất đơn nhất, mà nó phản ánh tính tất yếu khách quan của kinh tế V.I Lênin
đã chỉ rõ: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế chính trị không thểkhông chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế" [26, tr 349] So với kinh tế, chínhtrị không thể không chiếm vị trí hàng đầu, vì khi giải quyết các vấn đề kinh tế,chính trị của giai cấp cầm quyền phải định hướng vào việc bảo vệ và phát triển
cơ sở kinh tế của mình dựa trên việc củng cố quyền lực chính trị Cho dù xétđến cùng, kinh tế tuy là điểm xuất phát và là mục tiêu của chính trị, nhưng chínhtrị đến lượt nó là tiền đề để thực hiện các lợi ích kinh tế Trong các quan hệchính trị, quan hệ giữa các giai cấp là quan hệ cơ bản Đó là biểu hiện các quan
hệ mang tính bản chất của đời sống chính trị
Chính trị có quan hệ hữu cơ với lợi ích các giai cấp, các lực lượng, cácquốc gia, dân tộc Nhưng do vị trí khác nhau trong hệ thống sản xuất của xã hội,các giai cấp có lợi ích khác nhau Việc thỏa mãn các nhu cầu lợi ích của mỗi lựclượng do địa vị chính trị của nó quy định, và cái quyết định nhất là vị trí của cáclực lượng ấy đối với chính quyền như thế nào Do vậy, hướng đến nắm quyềnlực chính trị là khát vọng V.I Lênin đã nhấn mạnh rằng, lợi ích kinh tế cơ bảncủa giai cấp công nhân chỉ được thỏa mãn nhờ giai cấp công nhân tiến hànhcuộc cách mạng chính trị giành lấy chính quyền từ tay các giai cấp bóc lột
Chúng tôi tán thành các quan điểm cho rằng, chính trị là mối quan hệ giữacác giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề giành,giữ và sử dụng quyền lực nhà nước Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế,được quy định bởi những lợi ích cơ bản của giai cấp, của các lực lượng chínhtrị, là vấn đề công việc chính quyền Chính trị theo nguyên nghĩa của nó, lànhững công việc của nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệgiai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đềgiành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
Trang 10Cái quan trọng nhất của chính trị, theo Lênin là "tổ chức chính quyền nhànước" Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước, cácđịnh hướng của nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động củanhà nước Bất kỳ vấn đề xã hội nào cũng mang tính chính trị vì việc giải quyết
nó, trực tiếp hay gián tiếp đều gắn với lợi ích giai cấp, với vấn đề quyền lực
Phương diện thứ nhất - Coi chính trị với tư cách là những quan hệ đặc biệt, thì cấu trúc chính trị bao gồm:
- Quan hệ giữa công dân với nhà nước
- Quan hệ giữa các tập đoàn, các giai cấp khác nhau với vấn đề nhànước
- Quan hệ giữa các dân tộc khác nhau với nhà nước
- Quan hệ giữa các quốc gia khác nhau thông qua nhà nước
Phương diện thứ hai - Coi chính trị với tư cách là một hoạt động xã hội đặc thù - Cấu trúc của chính trị sẽ bao gồm:
- Mục tiêu hoạt động chính trị của các chủ thể
- Phương pháp, phương tiện hoạt động chính trị
- Những hình thức tổ chức hoạt động chính trị, các thiết chế chính trịnhằm đạt tới mục tiêu
- Những lực lượng xã hội chính trị và hình thức tổ chức các lực lượng đónhằm đạt mục tiêu
- Nhà chính trị, những chính khách thực hiện nhiệm vụ chính trị
- Hoạt động chính trị thực tiễn nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đặt ra.Cách xác định cấu trúc chính trị trên đây có ưu điểm bao quát và chi tiếthóa được hầu hết các nhân tố của chính trị Tuy nhiên, nếu xem xét như vậy, có
Trang 11phần chia tách các yếu tố của chính trị, trong khi chính trị là một chính thể, làmột hệ thống Theo tôi, có thể xác định cấu trúc chính trị bao gồm:
Một là, ý thức chính trị, các mục tiêu lý tưởng chính trị - biểu hiện tư
tưởng, chính trị thông qua sự nhận thức và phương hướng hoạt động chính trịcủa các chủ thể tham gia vào đời sống chính trị
Xét về mức độ phản ánh, ý thức chính trị có hai cấp độ liên quan với nhaumột cách biện chứng: trình độ lý luận và trình độ kinh nghiệm ý thức chính trịdưới góc độ trình độ lý luận thể hiện ở khả năng nắm bắt các yếu tố khách quanchi phối đời sống xã hội và khả năng đáp ứng các yêu cầu của quy luật kháchquan, là khả năng nhận thức lý luận chính trị, cương lĩnh - đường lối chính trị,mục tiêu lý tưởng chính trị của mỗi lực lượng chính trị, là trình độ, kinh nghiệmhoạt động thực tiễn chính trị
Hai là, hệ thống chính trị, bao gồm các tổ chức chính trị (các đảng phái
chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội khác) gắn liền vớinhững thể chế chính trị tương ứng Sự hoạt động của tất cả các nhân tố cấu trúc
hệ thống chính trị hướng trọng tâm vào thực hiện quyền lực nhà nước Vị trí củamỗi hệ thống chính trị đối với vấn đề chính quyền do tương quan so sánh lựclượng giữa các giai cấp, các lực lượng trong xã hội quy định
Bà là, các quan hệ chính trị được hình thành do sự tác động qua lại giữa
các chủ thể chính trị (nhóm, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc, quốc gia ) Cácquan hệ chính trị phản ánh các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã hội khác,nhưng có vai trò chi phối các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã hội khác Cácquan hệ chính trị có thể hình thành dưới hình thức liên minh hợp tác đấu tranh,hoặc xung đột xung quanh các công việc chính quyền
Sự vận động của các quan hệ chính trị là sự vận động liên tục, thể hiệnthông qua những sự kiện, những biến cố chính trị trong từng giai đoạn khácnhau, khi thì sôi động quyết liệt, khi thì trầm lắng êm ả Thời kỳ mà đời sốngchính trị êm ả là thời kỳ ổn định, và ngược lại thời kỳ có nhiều biến cố xungđột, mâu thuẫn gay gắt là thời kỳ bất ổn định Thực trạng chính trị ổn định haybất ổn định do nhiều yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội chi phối Điều đó tùy
Trang 12thuộc trước hết bởi chính thể chế chính trị đương thời, bởi hệ thống chính trị,bởi phẩm chất, năng lực, bản lĩnh của các chủ thể chính trị cầm quyền Trên ýnghĩa đó, Lênin cho rằng: "Chính trị là khoa học và nghệ thuật".
1.1.2 Nôi dung vấn đề xã hôi
Xã hội là những cộng đồng người Con người là tổng hòa các quan hệ xãhội Do đó, xã hội là một khái niệm để chỉ rõ:
Thứ nhất: Xã hội trước hết nói đến một cộng đồng dân cư sống trong một
phạm vi ranh giới địa lý - lãnh thổ
Thứ hai: Nói xã hội không thể không nói đến các hoạt động của con
người liên quan tới các quá trình sản xuất (sản xuất theo nghĩa rộng, bao gồm tất
cả các khâu của quá trình tái sản xuất và các hoạt động dịch vụ, nghiên cứukhoa học) Các hoạt động đó lại gắn liền với các hoạt động văn hóa, tinh thần,tâm linh của con người, của cộng đồng người
Thứ ba: Sự tồn tại của xã hội có giai cấp, tất yếu gắn liền với đời sống
chính trị, cả xã hội bị lôi cuốn vào guồng máy chính trị (chính thể, đường lối,thiết chế, con người chính trị )
C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh: "Xã hội không phải gồm các cá nhân,
mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cánhân đối với nhau" Theo C.Mác, "xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - làcái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người" [34, tr 657]
Nhân loại đã trải qua nhiều kiểu xã hội Nếu lấy đặc trưng sản xuất thìnhân loại đã trải qua xã hội săn bắn, xã hội làm vườn, xã hội nông nghiệp, xãhội công nghiệp Nếu căn cứ vào hình thái thì có các xã hội nô lệ, phong kiến,
tư bản và xã hội xã hội chủ nghĩa Nếu căn cứ vào chính thể thì có các xã hộichính thể quân chủ, độc tài, dân chủ Mỗi xã hội tồn tại như những nấc thangcủa sự phát triển xã hội Nền tảng chung của các cơ cấu cụ thể này là những mốiquan hệ sản xuất vật chất, những mối quan hệ kinh tế giữa người và người, trên
đó sẽ hình thành một thượng tầng kiến thức phù hợp
C.Mác cho rằng, "tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái
mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội và hơn nữa hợp thành một xã
Trang 13hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độcđáo riêng biệt một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại" [30, tr.553].
Mỗi xã hội đều được đặc trưng bởi một tổng thể các quan hệ sản xuất.Nhưng quan hệ sản xuất chỉ là cái biểu hiện bên ngoài, là hình thức xã hội củamột phương thức sản xuất nhất định Cái quyết định nội dung của nó lại chính làlực lượng sản xuất - trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất là quan hệ biện chứng, chúng luôn quy định và chếước nhau, trong đó lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định
Xã hội với tư cách là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người vàngười cũng được hình thành một cách khách quan và tất yếu Sự vận động, biếnđổi và phát triển của xã hội phải tuân theo những quy luật nội tại vốn có của nó,trước tiên là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triểnnhất định của lực lượng sản xuất, làm cơ sở cho một chế độ chính trị nhất định[20, tr 401]
Từ những lý giải trên, có thể quan niệm về xã hội như sau: Xã hội, theo nghĩa rộng nhất là một khái niệm phản ánh các hoạt động và các mối quan hệ giữa con người với con người trên mọi lĩnh vực ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử Một xã hội xác định vận động, phát triển theo những quy luật nội tại, trước tiên là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng.
Theo nghĩa rộng khái niệm xã hội rộng bao quát các hoạt động của conngười, bao trùm cả khái niệm chính trị Nhưng theo nghĩa hẹp, khái niệm xã hộidùng chỉ một lĩnh vực của hoạt động của con người Khái niệm này ngang cấpvới khái niệm chính trị, kinh tế, văn hóa đó là khái niệm xã hội theo nghĩahẹp, phản ánh những quan hệ, những hoạt động, những mặt cụ thể hơn của đờisống xã hội, như vấn đề việc làm và thu nhập, giáo dục và đạo đức, y tế và sứckhỏe, giàu và nghèo, phong tục và tập quán, công bằng và bình đẳng xã hội, dântộc và tôn giáo
Trang 14Do vậy, hiểu quan niệm về xã hội cần phải hiểu theo cả nghĩa rộng (gồmnhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa ) và cả là vấn đề xã hội theonghĩa hẹp ở luận văn này, khái niệm xã hội sử dụng cả theo nghĩa rộng và nghĩahẹp khi đề cập đến vấn đề chính trị - xã hội và ổn định chính trị - xã hội.
1.1.3 Nội dung chính trị - xã hội
Trong các công trình nghiên cứu, những văn kiện chính trị thuật ngữchính trị - xã hội được dùng phổ biến Tuy nhiên cho đến nay chưa có một địnhnghĩa khoa học nào về thuật ngữ này
Có quan điểm khẳng định, các quan hệ xã hội trong xã hội có giai cấp đều
có tính chất chính trị nên gọi là các quan hệ chính trị - xã hội Cách giải thíchnày đã cho chúng ta hiểu được phần nào khái niệm chính trị - xã hội Tuy vậy,theo chúng tôi, cần phân tích rõ hơn về khái niệm chính trị - xã hội thông quaviệc phân tích mối quan hệ giữa chính trị và xã hội
Chính trị là một bộ phận nằm ở thượng tầng kiến trúc của một hình tháikinh tế - xã hội Chính trị có ảnh hưởng rất lớn đối với các yếu tố khác ở thượngtầng kiến trúc như pháp luật, tôn giáo, văn nghệ và đối với cơ sở kinh tế.Chính trị bị chi phối bởi kinh tế, chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố khác của kiếntrúc thượng tầng Nhưng chính trị lại tác động đến cơ sở kinh tế và các lĩnh vựckhác của kiến trúc thượng tầng Những mối quan hệ đó biểu hiện ra như là cácmối quan hệ nhân - quả Sự tác động của chính trị đến các quan hệ xã hội có thểtrực tiếp có thể gián tiếp, có thể tác động tích cực hoặc ngược lại Như vậy,trong xã hội có giai cấp, nhân tố chính trị thâm nhập vào nhân tố xã hội, và nhân
tố xã hội cũng thâm nhập vào nhân tố chính trị Các quan hệ xã hội tốt đẹp sẽlàm cho chính trị bền vững, các quan hệ xã hội rối loạn sẽ làm cho kinh tế bịkìm hãm, xã hội mất ổn định và chính trị có thể bị lung lay
Do mối quan hệ khăng khít giữa chính trị với những vấn đề xã hội, chonên trong các xã hội khác nhau thì chính trị - xã hội có những biểu hiện khácnhau, mang bản chất khác nhau Điều đó do bản chất chính trị của các giai cấpnắm quyền chi phối Trong các xã hội do các giai cấp bóc lột cầm quyền, chínhtrị - xã hội nhằm phục vụ củng cố quyền lực của số ít, và phục vụ cho lợi ích của
Trang 15số ít người Trái lại trong chủ nghĩa xã hội, chính trị - xã hội nhằm củng cốquyền lực của nhân dân lao động và phục vụ cho lợi ích của đa số nhân dân.
Từ việc phân tích trên, ta có khái niệm như sau: Chính trị - xã hội là khái niệm phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa mặt xã hội nói chung với vấn đề chính trị Khái niệm chính trị- xã hội vừa chỉ một xã hội với tổng thể các mối liên hệ của xã hội, vừa biểu thị một chế độ chính trị - xã hội.
1.2 Quan niệm về ổn định chính trị - xã hôi và những nhân tố ảnh hưởng
1.2.1 Quan niệm về ổn định
Thuật ngữ ổn định được dùng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội như ổn định đời sống, ổn định gia đình, ổn định thu nhập, ổn địnhkinh tế Nó được xác định trong một hoàn cảnh nhất định về trạng thái của sựvật
Dưới góc độ triết học, thuật ngữ ổn định phản ánh trạng thái trong quátrình vận động của sự vật Thế giới vật chất luôn vận động không ngừng, trong
đó bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối Sự vật tồn tại trong sự đứng imtương đối "Trong vận động của các thiên thể, có sự vận động trong cân bằng và
có cân bằng trong vận động (một cách tương đối) Nhưng bất kỳ vận độngtương đối, riêng biệt nào cũng đều có xu hướng khôi phục lại sự đứng yêntương đối - sự cân bằng tương đối Khả năng đứng yên tương đối của các vậtthể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hóa vậtchất" [32, tr 740]
Ăngghen đã chỉ rõ: Mọi sự cân bằng chỉ là "tương đối" và "tạm thời"trong sự vận động tuyệt đối và vĩnh viễn của thế giới vật chất ổn định phảiđược xem là mặt "nhất thời" của trạng thái vận động, phát triển C Mác nhấnmạnh: "Trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứngđồng thời bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sựdiệt vong tất yếu của nó, về mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biệnchứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó" [33,
tr 35]
Trang 16Như vậy, trạng thái ổn định nhất thời của sự vật có hai mặt: mặt khẳngđịnh và mặt phủ định Hai mặt này có sự tác động qua lại với nhau Do đó làmối quan hệ biện chứng của sự vật, làm cho sự vật tồn tại trong thế "nó vừa lànó" lại "không phải là nó".
Nói đến ổn định là nói đến trạng thái đối lập với rối loạn, khủng hoảng.Đồng thời trạng thái ổn định này cũng xa lại với sự tĩnh lặng hoàn toàn hay bấtbiến, cố định tuyệt đối ổn định không làm triệt tiêu hay kìm hãm sự vận động,phát triển mà có quan hệ mật thiết với vận động, phát triển Mặt ổn định của sựvật là điều kiện để sự vật tự khẳng định, tự định hình, đồng thời là môi trườngtốt để cho các thuộc tính, các mặt bên trong sự vật tiến hành quá trình chuyểnhóa biến đổi
Nhờ có trạng thái ổn định, sự vật trong quá trình vận động sẽ biến đổi từtrình độ thấp đến trình độ cao, từ mức độ bấp bênh, không chắc chắn đến mức
độ bền vững
Từ ý nghĩa đó, ta thấy: ổn định là một dạng đặc biệt của vận động, pháttriển Vận động, phát triển là quá trình thay đổi các trạng thái ổn định của sự vật
ổn định gắn với phát triển, đồng nghĩa với phát triển Không có ổn định thì
không có sự phát triển, nhưng không phát triển thì cũng khó duy trì ổn địnhđược lâu dài và vững chắc
Như vậy, ổn định và biến đổi vừa là tiền đề, là điều kiện cho nhau, vừa lànhân và quả cho nhau, là thể hiện mối quan hệ giữa vận động và đứng im
Ta có thể rút ra kết luận: ổn định chỉ một trạng thái của tự nhiên, xã hội,
tư duy trong quá trình vận động và phát triển của sự vật Xétcả về thực tiễn và
lý luận thì ổn định mang tính tương đối vì nó chính là sự vận động trong những mâu thuẫn, trong sự thống nhất của các mặt đối lập và cũng là sự thống nhất tương đối.
ổn định chính trị - xã hội, cũng vậy, không phải là trạng thái đứng yên, trìtrệ mà là trạng thái động, phát triển Đó là trạng thái của quá trình thường xuyêngiải quyết những mâu thuẫn nảy sinh về chính trị - xã hội, về kinh tế, văn hóatrong nội bộ nhân dân và trong hệ thống chính trị
Trang 17Trong xã hội, quy luật lực lượng sản xuất luôn quy định quan hệ sản xuất.Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất Tuy nhiên, sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất vào tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầngchính trị, giữa kinh tế với văn hóa trong sự phát triển đều mang ý nghĩa tươngđối Nó luôn có xu hướng bị phá vỡ bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất.Chính sự phát triển khách quan, liên tục của lực lượng sản xuất đã làm cho mọi
sự phù hợp của các nhân tố xã hội sẽ phá vỡ sự cân bằng, sự phù hợp trước đó
để tạo ra sự cân bằng mới, tức là sự ổn định ở mức độ cao hơn Với từng lát cắt
ở bình diện ổn định tư tưởng, ổn định các quan hệ chính trị xã hội, ổn định hệthống chính trị của xã hội chúng ta sẽ thấy điều này rõ hơn
Trong xã hội có các giai cấp, các tầng lớp khác nhau, nhưng chịu sự chiphối của hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Nếu tư tưởng của giai cấp thống trịphù hợp với xu thế khách quan, phù hợp với lợi ích xã hội sẽ tạo ra sự ổn địnhchính trị - xã hội Nhưng sự ổn định về chính trị của xã hội chỉ là trạng thái tạmthời, tương đối Sự ổn định này có thể bị phá vỡ nếu như có sự mâu thuẫn về lợiích của các giai cấp Trong xã hội có giai cấp, hệ thống chính trị do giai cấpthống trị lập ra để bảo vệ lợi ích cho giai cấp ấy Nếu như giai cấp thống trị bảođảm lợi ích cho toàn xã hội thì hệ thống chính trị sẽ hoạt động bình thường, ổnđịnh Ngược lại, nếu nó xem nhẹ, chà đạp lên lợi ích xã hội thì sẽ xuất hiệnnhững mâu thuẫn, làm cho hệ thống chính trị, chế độ chính trị - xã hội khôngcòn hoạt động trong trạng thái ổn định Chính trị- xã hội có thể bị rối loạn
1.2.2 Quan niệm về ổn định chính trị - xã hội
Trong các văn kiện chính trị, thuật ngữ "ổn định chính trị - xã hội" được
sử dụng phổ biến Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa đầy đủ thuật ngữ này Để
hiểu rõ nội hàm của phạm trù ổn định chính trị - xã hội cần tiếp cận trên những
Trang 18khả năng của thể chế đó có thể tồn tại một cách nguyện vẹn hay không Nhưng đến lượt nó, khả năng này lại phụ thuộc vào khả năng đối phó, giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề đang đặt ra trước thể chế đó có được linh động, mềm dẻo hay phải dùng các giải pháp bạo lực cứng rắn trước những biến cố xã
hội hay không
Để làm rõ khái niệm ổn định chính trị - xã hội, cần thiết phải làm rõ nộidung khái niệm "nguyên vẹn" và chỉ ra được cách đo lường khả năng (nhiều hayít) tồn tại của một thể chế?
Theo tôi, có thể đánh giá trên các tiêu chí sau đây:
- Tiêu chí thứ nhất: Sự ổn định của hệ thống chính trị (political system).
Đối với các thể chế có tính lịch sử, tức là nó xuất hiện và biến mất thì tính
ổn định có thể đơn giản được đo bằng khoảng thời gian nó tồn tại Nhưng đối
với một chế độ xã hội (một chế độ xã hội - một thể chế ”Liên tiến” như xã hội
tư bản Mỹ, Pháp, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ) thì vấn đề không giản
đơn như vậy Ngay cả khi chúng ta đo lường tính ổn định của một chế độ xã hộitheo cách lấy thước đo sự tồn tại của chế độ đó được bao lâu theo những thông
số xác định nào đó, thì chúng ta vẫn thấy rằng tất cả các chế độ xã hội đều tồntại lâu hơn sự tồn tại của tất cả các hệ thống chính trị của mỗi chế độ xã hội
Như vậy, tốt nhất là coi khái niệm "ổn định chính trị - xã hội" như là mộtkhả năng mà một thể chế có thể kéo dài sự tồn tại của mình Cũng có mộtkhuynh hướng nghiên cứu khác coi khái niệm "ổn định chính trị" như là mộtkhái niệm đa chiều, được tổng hợp lại từ những tư tưởng thường được sử dụngtrong chính trị học so sánh như: Sự duy trì hệ thống, trật tự công dân, tính chínhthống và tính hiệu quả Điều chắc chắn là, khi bạo lực gia tăng ở mức độ cao,tính chính thống của thể chế đó bị hạ thấp và bộ máy nhà nước vận hành kémhiệu quả thì ít có khả năng duy trì một sự ổn định Do vậy, có thể dùng tiêu chínày làm tiền đề để so sánh tính ổn định chính trị của mỗi xã hội và giữa các xãhội
Cũng có trường hợp hiệu lực của một thể chế ở mức thấp, nhưng bạo lực
có thể ở mức cao, mặc dầu vậy chế độ chính trị - xã hội vẫn bền vững Điều này
Trang 19xảy ra khi nhà nước có một tiềm năng thúc đẩy được những mối liên hệ mạnh
mẽ giữa những nhóm quyền lực trong xã hội, hoặc khi những nhóm chính trị,kinh tế, xã hội cơ bản không coi sự thay đổi thể chế là có lợi cho họ (thí dụ,phải sử dụng bạo lực trấn áp trong vấn đề bất ổn định ở Tây nguyên, nhưng chế
độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta vẫn bền vững)
Có thể nói rằng: khái niệm về tính ổn định của các hệ thống chính trị - xãhội, mặc dù có thể cảm nhận được bằng kinh nghiệm, song đến tận bây giờ,khái niệm này vẫn chưa trở thành một luận điểm xuất phát có tính thuyết phụctrong việc phân tích tính ổn định của một chế độ xã hội
- Tiêu chí thứ hai: Về sự vận hành của hệ thống chính trị (System
performance).
Chúng ta có thể sử dụng khái niệm "sự vận hành hệ thống" như là mộttiền đề lý luận nghiên cứu tính ổn định của hệ thống chính trị Các mâu thuẫnkhác nhau về các hệ thống chính trị giải quyết những khía cạnh khác nhau trong
sự vận hành của các nền chính trị và điều này được đo lường bởi những biến cố
về những kết quả của quá trình chính trị và quá trình kinh tế - chính trị
ở đây cần chú ý một số vấn đề:
- Thứ nhất: Việc sử dụng khái niệm "Sự vận hành hệ thống" không có
nghĩa là từ bỏ vấn đề về tính ổn định của hệ thống, cũng không có nghĩa là việcxem xét tính ổn định chính trị - xã hội không căn cứ vào thời gian tồn tạinguyên vẹn của hệ thống chính trị
- Thứ hai: Nói sự vận hành của hệ thống là nhấn mạnh đến khả năng
cũng như thực hiện phối hợp giữa các yếu tố của hệ thống (giữa đảng chính nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội) Một xã hội ổn định là xã hội có đủkhả năng điều chỉnh các hoạt động của hệ thống chính trị cho phù hợp vớinhững thách thức mà nó phải đương đầu
trị Thứ ba: Xem xét tính ổn định chính trị trị xã hội về mặt vận hành hệ
thống cần thiết phải xem xét đến những nhân tố ảnh hưởng đến sự vận hành của
hệ thống chính trị (chẳng hạn, tính ổn định của nội các chính phủ, sự khủnghoảng chính trị trong nội bộ của đảng cầm quyền )
Trang 20Trong những năm gần đây, việc đánh giá tính ổn định chính trị - xã hội
về mặt vận hành của hệ thống chính trị đã trở thành một luận đề cơ bản trongviệc nghiên cứu tính ổn định chính trị - xã hội Những nhân tố chủ yếu quyếtđịnh tính ổn định trong sự vận hành hệ thống chính trị, đó là:
- Sự ổn định của chính phủ (ở Trung ương), hay của các cơ quan
công quyền địa phương.
Có hai cách đo lường tính ổn định của chính phủ hay các cơ quan côngquyền địa phương
Thứ nhất: Khoảng thời gian tồn tại.
Thứ hai: Mức độ kiểm soát của ngành hành pháp, được đo bằng việc
chính phủ có hay không có một đa số trong ngành lập pháp, tức sự ủng hộ của
cử tri (dân) Chính sách có được dân đồng tình, có được thực thi tốt không
Một chính phủ (hay các cơ quan quyền lực công ở địa phương và cơ sở)đương nhiệm chỉ trong một thời gian ngắn sẽ rất khó có thể đảm bảo tráchnhiệm đối với kết quả của chính sách Mặt khác, nếu một chính phủ không cóđược một đa số ủng hộ trong ngành lập pháp cũng có thể làm mờ đi tính tráchnhiệm của mình bằng cách lập luận rằng, những chính sách của chính quyềnthiếu hiệu quả vì không có sự ủng hộ của đa số lập pháp, đây chính là một biểuhiện về tính ổn định chính trị
- Bạo lực chính trị.
Một trong những dấu hiệu căn bản của một hệ thống chính trị hoạt động
tốt là sự hạn chế những bất đồng chính trị và sự thừa nhận những phản kháng hợp pháp Trong một chế độ dân chủ, cần thiết phải tạo ra những khoảng rộng
cho sự phản kháng chính trị bằng cách áp dụng những biện pháp ít hà khắc vềnhững hành động đối với những người bất đồng chính kiến Trong trường hợp
đó, quy mô của những phản kháng có thể tăng lên
Tuy nhiên, sự xác định và sự đo lường các phong trào phản kháng (biểutình, khiếu kiện đông người) vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật là những côngviệc đầy khó khăn Vì thế bất kỳ một đánh giá nào về vấn đề này cần phải đượcxem xét thận trọng Tuy vậy vẫn có một vấn đề mà người ta có thể đo lường
Trang 21được: Quy mô của bạo lực chính trị trong hệ thống chính trị (như bạo loạn, biểutình, làm vô hiệu các bộ phận của hệ thống chính trị, hoặc hệ thống chính trị
không còn hoạt động bình thường ) Phạm vi và quy mô bạo lực càng nhỏ thì
hệ thống chính trị càng vận hành tốt hơn Có hai chỉ số thường được áp dụng
cho vấn đề này: 1- số lượng các cuộc biểu tình phản kháng và 2- số lượng cáccuộc bạo động chống lại hệ thống chính trị Tuy nhiên cần xem xét về lợi íchcủa các cuộc biểu tình cũng như các cuộc bạo động Không có nghĩa là khôngphải cứ biểu tình, khiếu kiện là bất ổn định v.v
- Những kết quả kinh tế - chính trị
Một vấn đề cơ bản để đánh giá tính ổn định chính trị - xã hội là hệ thốngchính trị đó có tạo điều kiện tốt cho việc phát triển kinh tế và đời sống của cáccông dân hay không
Những kết quả kinh tế - chính trị có thể được sử dụng như là những thước
đo sự vận hành của hệ thống chính trị là: Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng nămcủa GDP, của con số thất nghiệp, của con số lạm phát, quy mô vay nợ của nhànước (dĩ nhiên các vấn đề trên không thể đo lường hết sự vận hành của hệthống) Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngược lại Tức là, nếu dựa vào cácchỉ số nói trên đôi khi lại không giải thích được là, tại sao đôi thi người ta phảichấp nhận một sự vận hành tồi (hoặc phải đi đường vòng) trong một thời gianngắn để vươn tới một sự vận hành tốt hơn trong một thời gian dài
Các cuộc đình công, khiếu kiện đông người là một vấn đề đặc biệt phảnánh sự vận hành kinh tế - chính trị Một mặt nó chỉ ra một bức tranh rối loạntrong sự vận hành kinh tế - chính trị, mặt khác, nó không đơn giản chỉ là sựphản ánh tình trạng kinh tế (chẳng hạn như vấn đề thất nghiệp)
Cần phải nhấn mạnh rằng: Các kết quả kinh tế - chính trị của một hệthống chính trị nào đó không chỉ là sự phản ánh thực trạng bên trong hệ thống
đó, mà nó còn có ảnh hưởng lan tỏa rộng ra các vùng lân cận (các quốc gia, cácvùng ) và nếu không có giải pháp kịp thời, ảnh hưởng đó như một phản ứng
dây chuyền, rất khó giới hạn (như phản ứng Domino).
Trang 22Khi nghiên cứu sự vận hành của hệ thống chính trị, cần phải tập trung vàonghiên cứu những kết quả của sự vận hành hệ thống và coi đó như là những kếtquả đo lường sự vận hành của hệ thống.
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến ổn định chính trị - xã hội
a) Nhân tố kinh tế
ổn định chính trị - xã hội là trạng thái xã hội mà ở đó có sự phù hợp giữaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, giữa kiến thứcthượng tầng và cơ sở hạ tầng của xã hội, tạo nên sự vận động theo hướng pháttriển của chính trị - xã hội
Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của Mác và Ăngghen chỉ rõ: xã hội
là một chỉnh thể các yếu tố hợp thành bao gồm: lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất; cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Các yếu tố này có quan hệ biệnchứng với nhau C.Mác đã nêu ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuấtvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Sự liên hệ và tác động lẫn nhaugiữa những quan hệ kinh tế của xã hội và quan hệ chính trị tinh thần hình thànhtrên các quan hệ kinh tế đó qua mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng "Toàn bộ những quan hệ kinh tế ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của
xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thường tầngpháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ
sở hiện thực đó" [31, tr 15]
Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là mối quan hệbiện chứng Nó có thể phù hợp với nhau và có lúc, có giai đoạn nó không phùhợp với nhau trong thực tiễn
Nếu sự thống nhất, sự phù hợp giữa chúng tạo nên sự ổn định, sự pháttriển của xã hội Ngược lại, nếu không phù hợp, không thống nhất giữa chúng sẽdẫn đến bất ổn định, sự trì trệ, xã hội rối loạn
Sự phù hợp giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thường tầng sẽ tạo ra sự phùhợp của nhân tố chính trị và nhân tố kinh tế Lịch sử các xã hội có giai cấp đãchứng minh rằng, không có nền kinh tế nào mà lại không chịu chi phối điều tiếtcủa chính trị, theo các hướng:
Trang 23- Một là, theo hướng tích cực, chính trị đồng thuận với kinh tế.
- Hai là, theo hướng tiêu cực Khi đó chính trị là vật cản đối với kinh tế,
Giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, xã hội cũng thường xuấthiện sự phát triển cùng chiều của chính trị và văn hóa Chính trị phát triển cùngchiều với văn hóa sẽ mở đường cho văn hóa phát triển Văn hóa phát triển sẽthúc đẩy cả chính trị, kinh tế phát triển
Như vậy, tổng hợp sự phù hợp và phát triển cùng chiều của các nhân tốchính trị, kinh tế, văn hóa sẽ tạo ra trạng thái ổn định chính trị - xã hội
b) Những nhân tố trên lĩnh vực chính trị
- Nhân tố tư tưởng
ổn định tư tưởng chính trị của xã hội thực chất là giữ vững sự thống trị về
hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trong xã hội, nền tảng tư tưởng, tinh thần của
xã hội Xét đến cùng, tư tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền là định hướngcho lợi ích của giai cấp ấy Các cuộc đấu tranh giai cấp trước hết diễn ra trênmặt trận tư tưởng Sự rối loạn tư tưởng trở thành nhân tố của bất ổn định chínhtrị - xã hội
- Những nhân tố về hệ thống chính trị và các thể chế chính trị - xã hội
Vấn đề chính trị, cái cốt yếu là công việc nhà nước, là giải quyết mốiquan hệ giữa công dân với nhà nước, giữa các lực lượng chính trị, giữa các dântộc, giữa các tôn giáo với nhà nước
Tuy nhiên, các mối quan hệ đó trước hết lại được giải quyết thông qua haihình thức: 1- Thông qua các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội đại diện,
Trang 242- Thông qua cơ quan quyền lực dân cử các cấp.
- Một trong những tổ chức chính trị quan trọng là các đảng chính trị, đặc biệt là đảng cầm quyền Trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội lợi ích của
giai cấp công nhân, của nhân dân và Đảng Cộng sản là thống nhất Do vậy trạngthái ổn định của các quan hệ chính trị đặc biệt đó trở thành nhân tố có tính quyếtđịnh đến ổn định chính trị - xã hội
Trạng thái hệ thống đảng ôn hòa hay quá khích đều ảnh hưởng lớn đến ổnđịnh xã hội Trong thực tế thì một hoặc một số đảng sẽ vươn lên giữ vị trí cầmquyền ý chí của đảng cầm quyền trở thành ý chí của xã hội Hoạt động củađảng cầm quyền sẽ khống chế các chính đảng còn lại Nếu đảng cầm quyềnmạnh thì nhà nước mạnh, hoạt động quản lý xã hội của nhà nước có hiệu quả,chính trị - xã hội được ổn định
Trong các nước xã hội chủ nghĩa, vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảngcộng sản cầm quyền (trong hệ thống nhất nguyên và chỉ có một đảng cầmquyền) là nhân tố quyết định sự ổn định, phát triển chính trị, xã hội
Nếu Đảng cộng sản giữ được vị trí lãnh đạo, mạnh cả về chính trị, tưtưởng và tổ chức sẽ giữ được ổn định chính trị, xã hội và ngược lại Thực tế đó
đã chứng minh qua giai đoạn cải tổ của Đảng Cộng sản Liên xô Việc từ bỏ vịtrí lãnh đạo của mình dẫn đến khủng hoảng chính trị xã hội ở Liên xô Ngượclại, ở Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, vữngvàng trước bão táp chính trị, xã hội của thế giới và những phức tạp trong nước
đã đưa đất nước vững bước phát triển
- ở mỗi xã hội, vai trò của nhà nước trong thực thi các chính sách xã hội
có liên quan mật thiết đến lợi ích công dân, quyết định tới số phận của cả cộngđồng xã hội Nếu nhà nước đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội (kinh tế, vănhóa, chính trị), có những thái độ thỏa đáng, công bằng với các dân tộc (nhất làđối với các quốc gia đa dân tộc, đa sắc tộc), sẽ tạo khả năng lôi cuốn đông đảo
công chúng ủng hộ Một nhà nước trong sạch, hiệu lực, chắc chắn tạo nên sự
ổn định, phát triển bền vững.
Trang 25Quan hệ giữa nhà nước với các nhà nước khác là một quan hệ chính trị rấtphức tạp Sự ổn định hay không ổn định của quan hệ này đều có ảnh hưởng đếntình hình chính trị của mỗi nước Mỗi quốc gia đều có những lợi ích riêng Nhànước của mỗi quốc gia phải bảo vệ lợi ích của quốc gia mình Nhưng lịch sử thếgiới cho thấy, các quốc gia lớn thường có xu hướng thôn tính các quốc gia nhỏ,gây ra các cuộc chiến tranh (kể cả các cuộc chiến tranh kinh tế), làm mất ổnđịnh ở các quốc gia hoặc khu vực.
Để giữ lợi ích của quốc gia mình, mỗi nhà nước phải có đường lối đốingoại phù hợp trên những nguyên tắc nhất định như: Giữ vững chủ quyền dântộc, tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác, hợp tác với các quốc gia để cùngphát triển
Vai trò của nhà nước với vấn đề tôn giáo: Tôn giáo là vấn đề xã hộinhưng giải quyết không tốt sẽ nảy sinh phức tạp Hoạt động tôn giáo ở nhiềunước hiện nay có xu hướng chuyển thành hoạt động mang tính chính trị Nhữngxung đột tôn giáo ở một số quốc gia (hoặc ngay ở nước ta) đều mang màu sắcchính trị - xã hội (ở từng địa phương, khu vực hoặc một quốc gia), làm cho tìnhhình chính trị nhiều nơi lâm vào tình trạng rất phức tạp, bất ổn định Vì vậy, nhànước ở từng quốc gia phải có chính sách tôn giáo phù hợp, đảm bảo lợi íchchính đáng cho những người theo tôn giáo khác nhau trong khuôn khổ của luậtpháp và góp phần tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân
ổn định hoạt động của hệ thống chính trị là ổn định vị trí của các tổ chứcchính trị trong hệ thống chính trị và ổn định cơ chế hoạt động của hệ thốngchính trị Hệ thống chính trị xã hội bao gồm: Các chính đảng, nhà nước, các tổchức chính trị - xã hội của quần chúng ở nước ta hệ thống chính trị bao gồm:Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàcác tổ chức chính trị - xã hội (như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn,Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội nông dân Việt Nam
- Vai trò đặc biệt quan trọng của các tổ chức chính trị - xã hội.
Trang 26Các tổ chức chính trị - xã hội trong các nền chính trị tư bản có vai trò nhưcác nhóm lợi ích, tồn tại như các tổ chức áp lực với nhà nước, nhằm bảo vệ lợiích chính đáng của họ.
Trong chủ nghĩa xã hội, các tổ chức chính trị xã hội có những chức năng:Bảo vệ lợi ích các thành viên; tập hợp các thành viên tham gia vào đời sốngchính trị của đất nước; phản biện chính trị đối với các cơ quan công quyền, đảngcầm quyền; giáo dục nâng cao trình độ mọi mặt, văn hóa chính trị cho các thànhviên để thực hiện có hiệu quả mọi mục tiêu, nhiệm vụ mà tổ chức đề ra Do đó,các tổ chức chính trị, xã hội là nền tảng chính trị của Đảng và Nhà nước
ở nước ta, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủđược cụ thể hóa và luôn đổi mới theo thực tiễn phát triển của đất nước đườnglối, chính sách của Đảng đề ra Nhà nước cụ thể hóa thành hệ thống pháp luật,chính sách; nhân dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước thông qua cơ chế "dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Do vậy, cơ chế đó tạo ra sự ổn định, sựphối hợp nhịp nhàng giữa các tổ chức và trong các phân hệ của hệ thống quyềnlực chính trị, đảm bảo cho việc giữ vững hệ thống chính trị
Sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng của xã hội biểuhiện trên thực tế là sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp cầm quyền với lợi íchcủa đại đa số các thành viên trong xã hội, trong những điều kiện lịch sử cụ thể
mà ở đó các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, quan hệ chính trị xã hội, hoạt động của
hệ thống chính trị - xã hội trong trạng thái ổn định
1.3 Vai trò của vấn đề giữ vững được ổn định chính trị - xã hội trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta
1.3.1 ổn định chính trị - xã hội là tiền đề, điều kiện để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thực tế lịch sử ở nước ta và nhiều nước trên thế giới chứng minh rằng:Khi đất nước yên bình, dưới trên đồng thuận, chính trị - xã hội ổn định đó làđiều kiện, tiền đề để đất nước phát triển, nhân dân được yên ổn, ấm no Ngượclại, khi nào rối loạn, xung đột về chính trị - xã hội thì nước không yên, kinh tếkhông phát triển, thậm chí có thể mà kéo theo sự đổ vỡ cả chế độ chính trị - xã
Trang 27hội, tàn phá cả những thành quả đã đạt được Giữ vững ổn định chính trị - xã hộikhông phải là giữ nguyên, mà là sự ổn định trong sự vận động, phát triển, khôngphải là sự ổn định của sự bảo thủ, trì trệ, mà là ổn định gắn với tăng trưởng, pháttriển theo chiều sâu và vì con người, phát triển bền vững; ổn định phải gắn vớiđổi mới nhằm khắc phục những khiếm khuyết, hạn chế, đẩy lùi nguy cơ dẫn đếnbất ổn định Vấn đề ổn định chính trị - xã hội chính là tiền đề để tạo ra các điềukiện cơ bản để phát triển nhanh và vững chắc theo hướng đi lên cao hơn, hoànthiện hơn.
Quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay là một quá trình biến đổi cả vềlượng và về chất của xã hội Đó là quá trình vận động của những mâu thuẫn Đó
là quá trình đấu tranh lâu dài, gay go phức tạp nhằm đem lại thắng lợi cho cáimới, cái tiến bộ trong đời sống xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Đại hội VII) đã xác định: Nhân dân ta, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, "tiếp tục nâng cao ý chí tự lực tự cường,phát huy quan hệ hợp tác quốc tế, tìm tòi bước đi, hình thức và biện pháp thíchhợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội" [10, tr 8]
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng với những đặc điểm:
Thứ nhất: Do nhân dân lao động làm chủ xã hội Đó là việc nhân dân làm
chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội Nhà nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhànước được tổ chức theo nguyên tắc: Tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhândân Quyền lực đó được tổ chức tập trung thống nhất, có sự phân công phối hợpgiữa các cơ quan quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhân dân thực hiệnquyền lực trực tiếp và gián tiếp thông qua các tổ chức chính trị đại diện Các cơquan quyền lực dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dânbầu ra để thay mặt nhân dân duy trì mọi hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa -
xã hội, an ninh quốc phòng trong cả nước và trên từng địa bàn lãnh thổ nhằmphát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực
Thứ hai: Có một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát
triển dựa trên trình độ khoa học công nghệ hiện đại Muốn vậy phải tiến hành
Trang 28công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo cơ sở vật chất vững chắc cho chủ nghĩa xãhội.
Thứ ba: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong xu thế
hòa nhập với cộng đồng quốc tế; vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa vănhóa nhân loại, vừa gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Thứ tư: Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm
theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, cóđiều kiện phát triển toàn diện cá nhân Con người vừa là mục tiêu, vừa là độnglực; tất cả vì con người; từng bước theo tiến trình lịch sử "từ vương quốc tất yếusang vương quốc tự do"
Thứ năm: Các dân tộc trong nước đều bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn
nhau cùng tiến bộ Đảng ta đã đề ra chính sách đại đoàn kết các dân tộc trongđại gia đình Việt Nam, trong ngôi nhà chung là Tổ quốc, không phân biệt miềnngược, miền xuôi, không phân biệt dân tộc lớn, dân tộc nhỏ
Thứ sáu: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước có
chế độ chính trị khác nhau trên, chủ động hội nhập vào đời sống thế giới ngàynay Hiện chúng ta đã đặt quan hệ ngoại giao với trên 165 nước và các vùnglãnh thổ Đặc biệt, hội nghị nguyên thủ các quốc gia của 37 nước ASEM 5 vàotháng 10-2004 vừa qua là bằng chứng hùng hồn về chính sách quan hệ hữu nghịcủa nước ta với tất cả các nước trên thế giới, thể hiện uy tín và vị thế Việt Namngày càng cao trên trường quốc tế
Đó là những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa do Đảng và nhân dân
ta đã lựa chọn, là con đường duy nhất đúng để chúng ta xác định rõ định hướngXHCN trong từng chặng đường, từng bước đi thích hợp
Để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa đó, vấn đề ổn định chính trị - xãhội được coi là điều kiện, là tiền đề Kinh nghiệm xây dựng xã hội chủ nghĩacủa nhiều nước xã hội chủ nghĩa cho thấy: Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, một
số nước tiến hành cải cách, đổi mới đất nước, do không giữ vững ổn định chínhtrị - xã hội trong tiến trình đổi mới nên đã bị thất bại, đổ vỡ Liên Xô cải tổ đấtnước trong tình hình chính trị - xã hội mất ổn định, không ngăn chặn được rối
Trang 29loạn mà lại làm cho sự rối loạn đó trầm trọng hơn, dẫn đến sự sụp đổ Liên bang
Xô viết
Trung Quốc cũng tiến hành cải cách, đổi mới đất nước từ những năm cuốicủa thập niên 70 Lúc đầu cũng gây sự xáo trộn nhất định về mặt chính trị - xãhội của đất nước Sự kiện động loạn 4-6-1989 ở Quảng trường Thiên An Môn,Trung Quốc đã thi hành biện pháp cứng rắn và sau đó phải dùng hàng loạtnhững biện pháp ''rắn" để giữ vững ổn định chính trị xã hội
Đặng Tiểu Bình nói "ổn định là trên hết" và "Trung Quốc không cho phép
sự loạn lạc" [5, tr 416; 418] nhằm cải cách và mở cửa thành công Chính vì có
"ổn định là trên hết" đảm bảo cho Trung quốc thực hiện được các mục tiêu trêncủa cải cách, tạo tiền đề cho Trung Quốc gặt hái được những thành tựu to lớn,vững chắc trên con đường cải cách và mở cửa, đưa đất nước Trung Quốc tiến tớinhững tăng trưởng thần kỳ như ngày nay
Bài học của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âugiúp Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn luôn coi giữ ổn định chính trị - xã hội
là nhiệm vụ hàng đầu
Sau 10 năm giải phóng miền Nam, nước ta lâm vào tình trạng khủnghoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội Hiệu quả sản xuất thấp Tài nguyên khaithác và sử dụng lãng phí, môi sinh môi trường bị phá hoại Lưu thông ách tắc.Phân phối lúng túng Lạm phát với tốc độ phi mã (700%) Nền kinh tế mất cânđối nghiêm trọng giữa cung và cầu Đời sống của nhân dân, nhất là công nhânviên chức gặp rất nhiều khó khăn Nông dân nghèo nàn, túng thiếu, nạn đói xuấthiện Hiện tượng tiêu cực phát triển Công bằng xã hội bị vi phạm, pháp luậtchưa hệ thống, chưa đồng bộ và kỷ cương, phép nước không nghiêm, nạn thamnhũng, lộng quyền, xa rời quần chúng xuất hiện Thực trạng đó đã gây mấtlòng tin của quần chúng đối với Đảng và Nhà nước Đất nước lâm vào khủnghoảng kinh tế- xã hội trầm trọng Nhưng nhờ giữ được ổn định chính trị- xã hội,nên đã tạo điều kiện thuận lợi từng bước để đổi mới, khắc phục sai lầm, đẩy lùikhủng hoảng kinh tế - xã hội Nhờ vậy, sau 5 năm thực hiện chủ trương đổi mới,
Trang 30bước đầu chúng ta đã thu được kết quả nhất định và có những tín hiệu khả quan,khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đổi mới.
Tuy nhiên vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX những biếnđộng trên thế giới về tình hình chính trị - xã hội phức tạp đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến nước ta Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, sụp
đổ Những diễn biến trên gây hoang mang dao động trong cán bộ, đảng viên vànhân dân ta Bọn phản động trong nước và những phần tử lưu vong ở nướcngoài cùng một số phần tử cơ hội, xét lại trong Đảng nhân cơ đó nói xấu Đảng,chia rẽ nội bộ, tìm mọi cách cản trở công cuộc đổi mới
Sau 15 đổi mới, nước ta đã có những bước tiến vững chắc, cơ bản nước
ta đã giữ vững được ổn định chính trị - xã hội Tuy nhiên đến giai đoạn này còn
tiềm ẩn những nhân tố (cả trong chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội) có khảnăng gây mất ổn định Trên thế giới chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, tôngiáo xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng Nguy hại hơn làchủ nghĩa khủng bố đang là hiểm họa đối với an ninh, trật tự quốc tế Khu vựcChâu á - Thái Bình Dương và Đông Nam á đang "nóng" dần, tiềm ẩn nhữngnhân tố gây mất ổn định trong khu vực
Nhờ giữ vững được ổn định chính trị -xã hội, sau hơn 15 năm đổi mới,nước ta đã giành được những thành tựu to lớn, đã tạo ra được những thời cơmới, tạo bước phát triển mới, nhưng nhưng theo đó cũng xuất hiện những nguy
cơ mới Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã chỉ ra 4 nguy cơ: Tụt hậu về kinh
tế, quan liêu tham nhũng, chệch hướng xã hội chủ nghĩa và diễn biến hòa bình.Những nguy cơ đó là sự đe dọa thường xuyên đối với việc giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội trong suốt những năm qua Để tiếp tục giữ vững sự nghiệp đổimới của đất nước trong tình hình chính trị - xã hội có xu hướng phức tạp, Đảng
ta vẫn xác định phải: "Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo
vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia" [13, tr.90]
Trang 311.3.2 ổn định chính trị - xã hôi đối với việc đổi mới và phát triển các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, văn hóa - xã hôi
1.3.2.1 ổn định chính trị - xã hội đối với việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đảng ta hết sức coi trọng mối quan hệ giữa ổn định chính trị - xã hội vớiphát triển kinh tế Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: Chính trị là biểu hiệntập trung của kinh tế và chính trị không thể không chiếm hàng đầu so với kinh
tế Chính trị trở thành nguồn lực, nhân tố lãnh đạo cho sự phát triển kinh tế Đếnlượt nó, kinh tế lại là cơ sở vật chất vững chắc và quyết định đối với đổi mớichính trị
ở nước ta, kể từ khi Đảng ta khởi xướng phát triển nền kinh tế thị trườngnhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã thu được nhữngthành tựu to lớn Điều đó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối củaĐảng:
Thứ nhất: Đó là những định hướng đúng trong phát triển kinh tế thị
trường, phát triển sức sản xuất, động viên các nguồn lực trong và ngoài nước đểthực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện từng bước đờisống của nhân dân; tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội;khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn liền với xóa đói giảm nghèo
Thứ hai: Đền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể cùng kinh tế quốc doanh tạo thànhnền tảng của nền kinh tế quốc dân
Thứ ba: Nền kinh tế thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong
đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu
Thứ tư: Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước XHCN
Thứ năm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là nền
kinh tế mở, hội nhập
Trang 32Nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ là tiến hành công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Công cuộc này diễn ra trong điều kiện, môi trường của nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn Nộidung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta là: 1- Phát triểnmạnh mẽ lực lượng sản xuất, trước hết bằng việc cơ khí hóa nền sản xuất xã hộitrên cơ sở áp dụng những thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ 2- Quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theohướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả 3- Củng cố và tăng cường địa vị chủ đạocủa quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tiến tới xác lập địa vị thống trị của quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Với đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩatrong đó có việc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội được tiến hànhbằng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc tạo ra những tiền
đề, điều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực và đặc biệt là sự ổn định của chính trị
-xã hội có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp đó Thời đại ngày nayvới bối cảnh chung của thế giới, để nước ta tiến hành đổi mới và phát triển kinh
tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đổi hỏi đất nước phảitrong thế ổn định, phải tìm ra được những giải pháp đúng đắn, phù hợp, sáng tạotrong việc giải quyết mối quan hệ ổn định với phát triển
- Trước hết, ổn định chính trị - xã hội tạo ra môi trường xã hội có độ tincậy, có những nhân tố đảm bảo để các thành phần kinh tế, các ngành, vùng kinh
tế, các đối tác trong nước và nước ngoài và toàn thể nhân dân có thể an tâm tiếnhành sản xuất kinh doanh, đầu tư nhiều mặt để phát triển kinh tế nhanh, bềnvững có hiệu quả, thực hiện được những mục tiêu và những lợi ích kinh tế của
họ Đó là những động lực rất căn bản và mạnh mẽ của sản xuất kinh doanh nóiriêng và của sự phát triển xã hội nói chung Qua đó, lại tạo ra cơ sở kinh tế, cơ
sở vật chất - kỹ thuật cho bản thân chế độ chính trị vững mạnh, bền vững, giữđược bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính nhân đạo sâusắc
Trang 33- Việc giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội,đảm bảo cho giữ được địnhhướng đổi mới, tính nhất quán lâu dài của sự phát triển, tính ổn định tương đốicủa mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa và thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực kinh tế còn phát huy tác dụngtrên toàn xã hội qua hệ thống luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế củaNhà nước xã hội chủ nghĩa như là những "hành lang pháp lý vĩ mô" vừa đảmbảo cho mọi chủ thể kinh tế cả trong nước và ngoài nước có căn cứ pháp lýthống nhất, tương đối ổn định lâu dài để hoạt động trong một trật tự kinh tế nhấtđịnh, vừa là căn cứ để kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn những hoạt động kinh tếphi pháp, (bất công, lừa đảo, gian lận trong thuê mượn, hợp đồng lao động;trong hợp tác, liên kết liên doanh, trong việc vi phạm bản quyền, mẫu mã; trongbuôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tàisản của công dân khác ) Khi sự quản lý kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
có hiệu lực và có hiệu quả, thông qua tính ổn định và nhất quán của hệ thốngpháp luật, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước là khi mà mọi chủthể kinh tế làm ăn chân chính được khuyến khích, tôn vinh, an tâm phấn khởiphát triển kinh tế lâu dài, bền vững, có hiệu quả kinh tế ngày càng cao
1.3.2.2 ổn định chính trị - xã hội đối với việc xây dựng và hoàn thiện
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa của ta là nhà nước pháp quyền của dân, dodân và vì dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam thông quaĐảng Cộng sản Việt Nam
Trang 34- Nhân dân là người làm chủ xã hội.
- Các tổ chức chính trị xã hội được thừa nhận và hoạt động trong khuônkhổ Hiến pháp và pháp luật - dưới sự thừa nhận của Đảng Cộng sản Việt Nam
Công cuộc đổi mới đất nước nhằm phát triển toàn diện đất nước trong đó
có đổi mới và phát triển hệ thống chính trị Vai trò của sự ổn định chính trị - xãhội đối với đổi mới và phát triển hệ thống chính trị được biểu hiện ở các điểm
cơ bản sau đây:
- Trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị - xã hội mới có thể có tiền đề vàđiều kiện đổi mới chính trị và hệ thống chính trị Công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội theo hướng đổi mới của Đảng là hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ, do đó, cógiữ vững ổn định chính trị - xã hội mới có thời gian, điều kiện thử nghiệmnhững chủ trương mới, tổng kết thực tiễn để bổ sung lý luận, đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước
- Trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị - xã hội mới có điều kiện để tăngcường vai trò năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới
và ngược lại chỉ có sự lãnh đạo đúng đắn sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Namthì mới giữ vững được ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước đi lên chủnghĩa xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: "Đảng có vững cách mạng mới thànhcông, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy" [37, tr 267] Đảng cóvững mạnh mới giữ vững được ổn định chính trị - xã hội của đất nước Nhưngviệc giữ vững ổn định chính trị - xã hội cũng góp phần kiện toàn bộ máy Đảng,đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường vai trò lãnh đạo đối với côngcuộc đổi mới đất nước Thực tiễn đã chứng minh rằng nếu tình hình chính trị -
xã hội mất ổn định thì cho dù đường lối có đúng đắn thì cũng chỉ dừng trên giấy
- Trong sự ổn định chính trị - xã hội, nhà nước mới có điều kiện và môitrường xã hội để phát huy được vai trò năng lực, hiệu quả nhà nước quản lý xãhội về mọi mặt; đảm bảo cho định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng nhà nước trong sạch và hiệu lực;mới khơi dậy được sức mạnh của toàn dân, của các đoàn thể nhân dân vào công
Trang 35cuộc kiết thiết đất nước Không giữ được ổn định chính trị - xã hội thì bộ máynhà nước khó có thể vận hành xã hội theo một định hướng xác định.
- ổn định chính trị - xã hội là điều kiện đảm bảo cho nhân dân thực sựlàm người chủ của xã hội, thực hiện được các quyền dân chủ trực tiếp và giántiếp của mình
1.3.2.3 ổn định chính trị -xã hội với phát triển văn hóa
Vai trò của ổn định chính trị, xã hội đối với văn hóa được thể hiện ở cácđiểm chủ yếu sau đây:
- Văn hóa, như cách diễn đạt có tính khái quát của ông cha ta là "việcnhân nghĩa" mà "việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" ổn định chính trị- xã hội chính
là tạo ra việc yên dân ở nước ta hiện nay, tạo ra bầu không khí trong sạch, lànhmạnh để nền văn hóa nước ta gìn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, loại trừđược những mặt tiêu cực trong văn hóa, xã hội
- ổn định chính trị, xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nềnvăn hóa tiên tiến Chỉ có trong điều kiện chính trị, xã hội ổn định, mới có nhữngđiều kiện để giao lưu, hội nhập với các nền văn minh nhân loại, mới có thể giớithiệu, tuyên truyền văn hóa Việt Nam với bạn bè thế giới
- Chỉ trên cơ sở chính trị - xã hội ổn định, chúng ta mới phát huy đượcnhững sáng tạo về văn hóa, mới đảm bảo được quyền hưởng thụ các giá trị vănhóa của nhân dân lao động
Phát triển văn hóa, đến lượt nó lại trở thành điều kiện đổi mới kinh tế,chính trị, quốc phòng an ninh
1.3.2.4 ổn định chính trị - xã hội đối với việc củng cố quốc phòng an ninh trong công cuộc đổi mới đất nước
Trong công cuộc đổi mới đất nước, tác động của ổn định chính trị, xã hộiđối với việc củng cố quốc phòng, an ninh cũng rất to lớn
- Trong tình hình ổn định chính trị - xã hội của đất nước mới có điều kiệnthực tế để đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, trực tiếp của Đảng đối vớiquốc phòng, an ninh, để quốc phòng, an ninh hoàn thành trách nhiệm của mình.Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời (1930) đến trước đổi mới
Trang 36chứng minh rằng sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối vớiquân đội, công an đảm bảo cho quân đội, công an chiến thắng mọi kẻ thù xâmlược và bọn phản động trong nước Trong giai đoạn đổi mới đất nước, Quốcphòng, an ninh phải làm tròn trách nhiệm bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước xã hộichủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, bảo vệ công cuộc, đổi mới đất nước Về đối ngoại,quốc phòng - an ninh phải giữ vững được chủ quyền dân tộc, bảo vệ vững chắcđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp phần tạo sự ổn định trong khu vực vàquốc tế.
- Trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị - xã hội mới tạo ra được cơ sởchính trị xã hội, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nhất là xâydựng thế trận ở các địa bàn chiến lược trọng yếu Cơ sở chính trị - xã hội củaquốc phòng, an ninh là nhân dân Quân đội và công an đều từ nhân dân mà ra vìnhân dân mà chiến đấu Sự đoàn kết giữa quân đội và nhân dân, giữa lực lượngcông an và nhân dân, là yếu tố đảm bảo cho quân đội và công an giành đượcchiến thắng ổn định chính trị - xã hội làm cho sự đoàn kết quân - dân ngày càngvững chắc hơn
Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân chỉ có thể pháthuy sức mạnh của mình với điều kiện chính trị - xã hội của đất nước ổn định.Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhân dân cảnh giác phát hiện bọn gián điệpbọn tội phạm, bọn tham nhũng giúp quân đội và công an hoàn thành nhiệm vụcủa mình ở các vùng trọng điểm, biên giới, hải đảo, nếu nơi nào giữ vững được
ổn định chính trị - xã hội thì nơi đó mới tạo ra được thế trận quốc phòng toàndân và an ninh nhân dân vững chắc
- Chỉ có trên cơ sở giữ vững được ổn định chính trị - xã hội của đất nướcthì chúng ta mới phát triển kinh tế, văn hóa Thành tựu về kinh tế, văn hóa tạo ratiềm lực mọi mặt cho việc tăng cường quốc phòng an ninh Quân đội, công anngày càng được hiện đại hóa Đời sống của chiến sĩ quân đội, công an ngày càngđược nâng cao Họ càng yên tâm tư tưởng, càng quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổquốc
Trang 37- ổn định chính trị - xã hội tạo điều kiện thuận lợi giao lưu quốc tế vềquốc phòng - an ninh, góp phần rất to lớn vào việc tăng cường quốc phòng - anninh.
1.3.2.5 ổn định chính trị - xã hội với mở rộng quan hệ đối ngoại
Trong thời đại ngày nay, khi toàn cầu đang quốc tế hóa, tư bản chủ nghĩađang giương vòi bạch tuộc đến cả những nước heo hút nhất thì việc mở rộngquan hệ quốc tế trên cơ sở giữ vững chủ quyền dân tộc của mỗi nước phải gắnliền với điều kiện tiên quyết là nước đó phải giữ vững được ổn định chính trị -
xã hội Trong công cuộc đổi mới đất nước Đảng và Nhà nước ta rất coi trọngvai trò của ổn định chính trị - xã hội đối với việc mở rộng quan hệ đối ngoại.Vai trò của ổn định chính trị - xã hội đối với việc mở rộng quan hệ đối ngoạiđược thể hiện qua những điểm sau:
- Trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị - xã hội mà thực chất là thể hiệnnhất quán sự độc lập, tự chủ về chính trị, kinh tế thì đường lối đối ngoại củaĐảng mới được thực hiện một cách chủ động và có kết quả (bao gồm đối ngoạicủa nhà nước và đối ngoại nhân dân)
- ổn định chính trị - xã hội của đất nước tạo ra sự hấp dẫn cho các nướcmuốn thiết lập quan hệ đối ngoại với nước ta Môi trường pháp lý ổn định, antoàn xã hội được bảo đảm sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
- Chỉ có giữ vững ổn định chính trị - xã hội thì mới đảm bảo được việcgiữ vững chủ quyền dân tộc trong quan hệ đối ngoại, với các nước có chế độchính trị khác nhau, mới có điều kiện thống nhất toàn Đảng, toàn quân, toàndân, ngăn chặn âm mưu "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc
Tiểu kết chương 1
Vấn đề ổn định chính trị - xã hội là một khái niệm được nhắc đến ở nhiềuvăn kiện của Đảng, Nhà nước ta và trên các thông tin đại chúng Nhưng ít có tàiliệu, sách báo, từ điển đề cập sâu, rõ ràng và thống nhất về khái niệm này
Để làm rõ khái niệm ổn định chính trị - xã hội, không thể không tiếp cận
từ khái niệm chính trị, xã hội Nội dung khái niệm ổn định chính trị - xã hội
Trang 38cũng cần được mổ xẻ, tiếp cận dưới giác độ của triết học, xã hội học và kháiquát của hoạt động thực tiễn về chính trị - xã hội của con người để tìm ra đượctrạng thái của ổn định chính trị - xã hội Đó là trạng thái có sự phù hợp giữaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, của cơ sở hạtầng với kiến trúc thượng tầng của xã hội; là trạng thái ổn định chính trị tưtưởng của xã hội, của các quan hệ xã hội, của hệ thống chính trị của xã hội; làtrạng thái ổn định trong thế vận động và phát triển Toàn bộ trạng thái trên tổnghợp thành trạng thái của sự ổn định chính trị - xã hội.
ổn định chính trị - xã hội là điều kiện, tiền đề đối với đổi mới kinh tế,chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Cơ sở lý luận về ổn định chính trị - xã hội trên đây là cơ sở lý luận vàphương pháp luận để nghiên cứu thực trạng tình hình ổn định chính trị - xã hội ởThái Bình sau
thời kỳ điểm nóng 1997 và giải pháp mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương 2 dưới đây
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH - NHỮNG BỨC XÚC TIỀM ẨN NGUY CƠ CÓ THỂ DẪN ĐẾN
MẤT ỔN ĐỊNH 2.1 Thái Bình và Những đặc điểm của thời kỳ bất ổn định trong những năm 1996-1998
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị của Thái Bình có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội
Đặc điểm tự nhiên
Thái Bình là tỉnh đồng bằng ba mặt giáp sông, một mặt giáp biển, nằm ởtrung tâm đồng bằng Bắc Bộ, là vùng lúa trọng điểm của phía Bắc và cả nước.Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ; phía tây và tây Nam giáp tỉnh Nam Định và tỉnh
Hà Nam; phía bắc giáp Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải Phòng TháiBình nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng (Hà Nội-Hải Phòng - Quảng Ninh), có đường biển, cảng biển và hệ thống sông ngòithuận lợi cho giao lưu kinh tế Vị trí địa lý của Thái Bình tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển hàng hóa và giao lưu kinh tế - xã hội với cả nước và quốc tế Songcũng đặt ra những thách thức to lớn trong cạnh tranh thị trường và thu hút vốnđầu tư nước ngoài
Thái Bình thuộc châu thổ sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng,không có núi đồi, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp; là tỉnh có hệ thống sôngngòi bao quanh, dày đặc, có ngư trường rộng lớn, có nguồn lợi thủy sản nướcngọt, lợ và hải sản phong phú; có đất đai màu mỡ, phì nhiêu, có điều kiện pháttriển đa dạng cây con với năng suất và sản lượng cao Địa hình bằng phang,thuận lợi cho việc phát triển giao thông phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Thái Bình có tổng diện tích đất tự nhiên 153.137 ha Trong đó, đất nôngnghiệp là 102.400 ha, đất chưa sử dụng là 9.917 ha Dân số toàn tỉnh khoảng1.860 ngàn người, mật độ số dân/1km2 gấp 5,7 lần mật độ trung bình cả nước
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,23% [54, tr 4-6]
Trang 40Thái Bình có trữ lượng khí đốt 8 tỷ m3 ở huyện Tiền Hải và mỏ khí ởThái Thụy có trữ lượng lớn, đang khai thác phục vụ khu công nghiệp.
Là tỉnh đồng bằng đất chật, người đông, lại xa trung tâm kinh tế lớn bấtlợi cho giao lưu kinh tế và thu hút đầu tư; trình độ canh tác, ngành nghề khôngđồng đều; lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp; sản xuất độc canh cây lúa, tậptục "rời làng chứ không rời ruộng" còn nặng nề
Về điều kiện kinh tế - xã hội:
Thái Bình có 7 huyện và 1 thành phố thuộc tỉnh Đảng bộ Thái Bình có
765 tổ chức cơ sở đảng, với 8,6 vạn đảng viên Trong số 284 xã phường, thịtrấn, có 1540 thôn (trước năm 2000 là 285 xã phường thị trấn)
Thái Bình là mảnh đất có truyền thống ngàn đời nay làm nông nghiệp lúanước; nông dân - nông thôn - nông nghiệp là đặc trưng nổi bật của nền kinh tế.Thái Bình vẫn là tỉnh còn thuần nông (58% GDP) và mặc dầu những năm qua
bộ mặt Thái Bình ngày một đổi mới nhưng vẫn là tỉnh nghèo Những năm 1997
- 1998, Thái Bình lại xảy ra "điểm nóng", bất ổn định, đến nay còn để lại những
dư âm, dấu ấn nặng nề
Trong sự nghiệp đổi mới, Thái Bình đã có những bước chuyển mạnh mẽtheo thế đi lên chung của cả nước Tuy nhiên so với tốc độ tăng trưởng chungcủa các tỉnh bạn thì Thái Bình vẫn là tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế chậmchạp, nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ công nghiệp hoá, hiện đạichạpcủa của tỉnh
Đặc điểm văn hóa - truyền thống
Thái Bình đã có lịch sử 100 năm là đơn vị hành chính trực thuộc Nhànước Trung ương từ ngày 21/3/1890, nhưng là một trong những địa phương bảolưu tập tục thời Hùng sâu đậm nhất: như, truyền thống canh tác lúa nước vàtrồng mầu, chăn nuôi tồn tại mãi đến ngày nay đã làm nên bản sắc văn hóatruyền thống đậm nét riêng ở Thái Bình
Cái văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại gắn bó hòa quyện với nhautạo nên một sắc thái đặc biệt của tỉnh Thái Bình Đất và người Thái Bình có cáichung, nhưng cũng có cái riêng với diện mạo đẹp, một hội tụ được sàng lọc, để